Liên hệ với thị trường Việt Nam: - Rủi ro về độ chênh lệch giữa cung và cầu do dư thừa nguồn cung quá lớn mà cầu chưa tăng: Tổng sản lượng thép các loại sản xuất trong nước vượt xa n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG CƠ SỞ II TẠI TP.HCM
-o0o -
BÁO CÁO CASE STUDY LIÊN DOANH THÉP AN NHƠN
Giảng viên hướng dẫn: Huỳnh Đăng Khoa
Bộ môn: Quản lý rủi ro trong kinh doanh
TP Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 4 năm 2021
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
Trang 3CÂU HỎI:
1 Nhận biết những rủi ro về thị trường trong case study liên doanh thép An Nhơn
2 Từ đó, liên hệ thực tế tới thị trường thép Việt Nam và giải thích lý do tại sao giá thép tăng?
BÀI LÀM:
1 Nhận biết những rủi ro về thị trường trong case study liên doanh thép An Nhơn
Rủi ro giá cả:
- Rủi ro biến động giá cả toàn cầu: Năng lực sản xuất thép nội địa yếu kém và sự phụ thuộc quá nhiều vào phôi thép nhập khẩu khiến biến động giá thế giới có nhiều tác
động tiêu cực Nhiều biến động với lạm phát, tham nhũng, tỷ giá hối đoái biến động lên xuống liên tục ảnh hưởng tới giá thép
- Rủi ro giá nội địa tăng cao: tình trạng khan hiếm giả tạo và hành vi đầu cơ của các nhà phân phối đang găm hàng để đẩy giá lên; ngoài ra còn do việc bảo hộ quá mức khiến giá nội địa tăng cao hơn so với giá thế giới
Rủi ro chính sách: Rủi ro giảm tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam:
- Có các chính sách ưu tiên và hỗ trợ đầu tư nước ngoài, làm cho các doanh nghiệp trong nước không nâng cao được tính cạnh tranh
- Những cam kết về tự do hóa thương mại theo AFTA và đàm phán gia nhập WTO khiến việc bảo hộ bằng biện pháp thuế quan sẽ ngày càng trở nên khó khăn: Các sản phẩm thép thành phẩm đều được bảo hộ bằng thuế nhập khẩu cao và các biện pháp phi thuế quan khác Điều này dẫn đến giá thép trong nước phải tăng cao làm giảm tính cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài
Rủi ro cung-cầu:
- Kém hiệu quả trong sản xuất: Việc mất cân đối giữa khâu sau và khâu trước, giữa thép dài và thép dẹt
Trang 4=> Các nhà máy cán thép bị thừa công suất trong khi thiếu nhà máy sản xuất thép phôi
=> Mất cân đối cung và cầu nội địa
- Tình trạng mua phải thiết bị lạc hậu, không đồng bộ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc vận hành dự án
Rủi ro sản xuất: thiếu vốn sản xuất bởi vì thép là một ngành thâm dụng vốn, trong
khi Việt Nam là một quốc gia thâm dụng lao động, đồng thời ngành thép là ngành còn non trẻ, rủi ro cao
Rủi ro về địa bàn xây dựng cơ sở liên doanh: Bình Định vẫn là một tỉnh dưới
trung bình của cả nước xét trên nhiều chỉ tiêu kinh tế khác nhau
2 Từ đó, liên hệ thực tế tới thị trường thép Việt Nam và giải thích lý do tại sao giá thép tăng?
Liên hệ với thị trường Việt Nam:
- Rủi ro về độ chênh lệch giữa cung và cầu do dư thừa nguồn cung quá lớn mà cầu
chưa tăng: Tổng sản lượng thép các loại sản xuất trong nước vượt xa nhu cầu thị trường; lượng thép nhập khẩu liên tục tăng; các doanh nghiệp nước ngoài có xu hướng đẩy mạnh đầu tư nhà máy sản xuất thép tại Việt Nam… Trong khi các doanh nghiệp xây dựng, xuất khẩu trong nước còn chậm phát triển
- Rủi ro về các hàng rào bảo hộ thương mại ở các quốc gia: ví dụ như thuế chống
bán phá giá đối với sắt thép nhập khẩu (thép không gỉ cán nguội, thép mạ, thép hình chữ H, phôi thép và thép dài…) và các hàng rào kỹ thuật dẫn đến khó khăn trong việc xuất khẩu thép ra thị trường nước ngoài và giảm khả năng cạnh tranh đối với ngành thép Việt Nam
- Rủi ro về nguồn lực:
Lợi thế so sánh của Việt Nam là ở các ngành công nghiệp chế biến thâm dụng lao động, chứ không phải ở những ngành thâm dụng vốn như thép Do đó, thép đã và đang trở thành một lĩnh vực “có vấn đề”, tạo một gánh nặng to lớn lên ngân sách
Trang 5quốc gia Điều này được lý giải một phần bởi sự vận động của các nhóm quyền lợi
và tham nhũng, khiến quyết định lựa chọn các ngành kinh tế mũi nhọn bị bóp méo mạnh và trở nên kém hiệu quả đối với sự phát triển kinh tế nói chung và các ngành
cụ thể nói riêng Có thể thấy, sự kém hiệu quả xuất phát cả từ quy mô nhỏ lẫn dư thừa lao động, mức độ tự động hóa thấp, mất cân đối giữa các khâu sản xuất, ví dụ: các nhà máy cán thép thừa công suất trong khi thiếu nhà máy sản xuất thép phôi
- Rủi ro đầu cơ:
Bên cạnh tác động của thị trường toàn cầu, cơn sốt giá thép trong nước còn do tình trạng khan hiếm giả tạo và hành vi đầu cơ của các nhà phân phối đang găm hàng để đẩy giá lên Những cáo buộc về hành vi đầu cơ xuất hiện trên các mặt báo khi giá thép nội địa Việt Nam tăng trên 9 triệu đồng/tấn, trong khi giá thép cùng loại ở Thái Lan chỉ tương đương 6,6 triệu đồng/tấn
- Rủi ro về chi phí vốn vay:
Từ năm 2018, các doanh nghiệp thép nội địa đẩy mạnh gia tăng công suất, quy mô sản xuất thép Do hình thức đầu tư mạnh mẽ này đều thoong qua vốn vay nên dẫn đến tình trạng chi phí lãi vay ăn mòn lợi nhuận
- Rủi ro do nhập khẩu nhiều từ 1 thị trường- Trung Quốc:
Việt Nam nhập rất nhiều sắt thép từ Trung Quốc Đặc biệt là sau chiến tranh Mỹ, Trung khiến các doanh nghiệp Trung Quốc tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường khác, đặc biệt là Việt Nam Điều này có thể dẫn tới tình trạng hàng
TQ “đột lốt” mác Việt, dẫn đến nhiều rủi ro cho doanh nghiệp việt nam, như tiềm
ẩn nguy cơ bị áp thuế trừng phạt với mức cao từ các quốc gia nhập khẩu và thậm
chí là phá sản
Tại sao giá thép tăng?
- Chính sách bảo hộ của Chính Phủ đối với ngành thép:
Ngoài việc mở rộng các DNNN sản xuất thép và đầu tư mới bằng vốn ngân sách, Chính phủ Việt Nam cũng đưa ra các khuyến khích để huy động vốn nước ngoài vào ngành thép Bởi mở rộng ngành thép là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược công
Trang 6nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, các sản phẩm thép thành phẩm đều được bảo
hộ bằng thuế nhập khẩu cao kết hợp với các biện pháp phi thuế quan
Chính phủ đã thực hiện bảo hộ bằng thuế nhập khẩu ở mức 30-40% áp dụng đối với các loại thép cán đã sản xuất được ở trong nước, chính vì vậy giá thép thành phẩm
ở Việt Nam tăng cao, cụ thể là cao hơn 28-33% so với giá thép ở Trung Quốc và Thái Lan
Thậm chí vào năm 2004, sau hai đợt hạ thuế nhập khẩu, cùng với việc giá thép thế giới bắt đầu đi xuống, giá thép nội địa giảm Nhiều nhà máy thép vẫn tiếp tục vận động và gây áp lực lên Chính phủ, dẫn tới kết quả là bộ Tài chính lại một lần nữa nâng nhập khẩu thép xây lên 15% đối với ASEAN và 20% đối với MFN Bằng cách này, các doanh nghiệp nhân cơ hội này [tăng thuế nhập khẩu] để đẩy giá thép
lên
- Do ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc làm giá nguyên vật liệu tăng:
Đầu năm 2004, tốc độ tăng trưởng kinh tế chóng mặt của Trung Quốc đã tạo áp lực lớn lên giá nguyên vật liệu Thép cũng là một trong những mặt hàng bị ảnh hưởng bởi sự tăng trưởng này, giá nhập khẩu phôi thép tăng dẫn tới giá thép thành phẩm sản xuất trong nước tăng theo.Mức tăng trưởng có thể được phân chia một cách rõ ràng ở hai khu vực tách biệt, Trung Quốc và phần còn lại của thế giới Tiêu dùng thép ở Trung Quốc được ước tính sẽ tăng 13,1% hay 31 triệu tấn trong năm 2004 và 10,4% hay 27 triệu tấn trong năm 2005 Trung Quốc đã tăng tỷ trọng của mình trong mức tiêu dùng thép toàn cầu từ 13,5% (87 triệu tấn) năm 1995 lên 30,3% (290 triệu tấn) năm 2005 Với sự phát triển của Trung Quốc dẫn đến nhu cầu xuất khẩu thép tăng mạnh làm cho cầu về các sản phẩm thép trong nước tăng theo làm giá tăng lên do sự khan hiếm của thị trường nội địa
- Do đầu cơ:
Trang 7Giá thép nội địa tăng một phần do sự khan hiếm của sản phẩm, các nhà phân phối từ đây có thể lợi dụng điểm này để mưu lợi đầu cơ, găm hàng để đẩy giá thép lên
- Sự phát triển mất cân đối trong sản xuất thép:
Ngành thép Việt Nam mới chỉ phát triển phần ngọn là sản xuất thép xây dựng thép thành phẩm mang lại lợi nhuận và giá trị cao, mà lại bỏ quên việc phát triển đồng đều
ở phần gốc là phôi thép Các nhà máy cán thép bị thừa công suất (hơn 200%), tuy nhiên lại thiếu các nhà máy sản xuất phôi thép khiến cho giá phôi phải phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu, nên những biến động trên thị trường thế giới tác động tiêu cực đến giá thép của thị trường trong nước Giá phôi thép nhập khẩu tăng không chỉ gây thua thiệt cho các doanh nghiệp sản xuất thép và khó khăn trong việc bình ổn giá thị trường, mà còn tạo điều kiện cho thép thành phẩm nhập khẩu vào thị trường trong nước, mặc dù đã được bảo hộ như ngành công nghiệp “non trẻ” nhưng sản lượng nhập khẩu thép vẫn cao hơn so với sản lượng thép sản xuất trong nước
Ngoài ra, ngành thép Việt Nam còn mang tính phân tán, quy mô sản xuất nhỏ lẻ cao nhất chỉ từ 200.000-300.000 tấn/năm, khó đạt được tính kinh tế theo quy mô giảm giá thành để cạnh tranh so với các doanh nghiệp thép nước ngoài