Nội dung chính Những trường hợp sinh ra tải trong độngTải trọng dùng trong tính toán các cụm và chi tiết của gầm ô tô Đóng ly hợp đột ngột Phanh đột ngột khi xe đang chay bằng phanh tay
Trang 1Bài Thuyết Trình Thiết kế ô tô
CHƯƠNG 3 : TẢI TRỌNG TÁC DỤNG LÊN CÁC CỤM VÀ CHI TIẾT
CỦA Ô TÔ
GVHD: TS Hoàng Ngọc Tân
Lớp : 18OT111
SVTH : Nhóm 3 MSSV:
Lê Vũ Đan 118000170
Lưu Phú Đan 118001268
Trần Công Sỹ Đang 118000158
Trang 2Nội dung chính Những trường hợp sinh ra tải trong động
Tải trọng dùng trong tính toán các
cụm và chi tiết của gầm ô tô
Đóng ly hợp đột ngột
Phanh đột ngột khi xe đang chay bằng phanh tay
Không
mở ly hợp khi phanh
Xe chuyển động không bằng phẳng
Khái niệm các loại tải trọng
Tải trọng
tính toán
dùng cho hệ
thống truyền
lực
Tải trọng
tính toán
dùng cho
hệ thống
phanh
Tải trọng dùng trong tính toán dùng trong
hệ thống treo và cầu
Tải trọng tính toán dùng cho hệ thống lái
Trang 31.1 Khái niệm về tải trọng
Tải trọng động xuất hiện trong các bộ phận và chi tiết của hệ thống truyền lực khi đóng ly hợp đột ngột, khi gài số trong quá trình tăng tốc, khi phanh đột ngột bằng phanh tay hoặc khi phanh gấp mà không mở ly hợp… Còn đối với các bộ phận không được treo và hệ thống lái, tải trọng động sẽ xuất hiện khi xe chuyển động trên mặt đường không bằng phẳng
Tiếp theo, chúng ta sẽ nghiên cứu một số trường hợp sinh ra tải trọng động thường gặp
Đối với hệ thống truyền lực của ô tô, tải trọng tĩnh tác dụng lên chi tiết được tính từ mômen xoắn cực đại của động cơ Memax Còn tải trọng động thường được xác định theo công thức kinh nghiệm nhận được từ hàng loạt các thí nghiệm
Thông thường tải trọng động được đặc trưng bằng hệ số tải trọng động kđ Hệ số này bằng tỉ số của giá trị tải trọng động trên giá trị tải trọng tĩnh:
=
Hình 1.1 Xe tải KIA K200 thùng kín, tải trọng có thể chở là 1.900kg
Trang 4
1.2 NHỮNG TRƯỜNG HỢP
add picture
1.2.1 Đóng ly hợp đột ngột
• Nếu chúng ta đóng ly hợp đột ngột thì sẽ phát sinh ra tải trọng rất lớn
vì vận tốc góc của phần bị động tăng lên rất nhanh và biến thiên theo
thời gian và kết quả của đóng ly hợp đột ngột là xe sẽ bị giật mạnh và
tắt máy.
• Công thức tính nghiệm sau đây để tính số tải trọng cho trường hợp
này : =
Ở đây : – Hệ số dự trữ của ly hợp (xem chương 3)
i – Tỉ số truyền chung của cả hệ thống truyền lực ứng với tay số đang
tính toán.
Trang 5
1.2.2 không mở ly hợp khi phanh
i
Hãm
Hãm
i 0
2
bđ
c
M
2
bx
c h n 0 h n 0
j
bđ
j
j
M
j
M
j
M
J c
J n
n
j n
n
j i 0
M j
h
h
.i
.ih
.ih
.ih
M j
0
.i
0
.i
Jn,ln
c
, l
J c
j
Hình 2.1 sơ đồ tính toán tải trọng động klhi phanh mà ly hợp vẫn đóng
Trang 6Các góc xoắn c, n được tính theo sách Sức bền vật liệu” :
.G J 2
.l i i M
.G J
.l i M
n
n 0 h j n c
c h j c
Ở đây :
lc, ln – chiều dài trục các đăng và bán trục (m)
Jc, Jn – mô men quán tính độc cực của tiết diện trục các đăng và bán trục
(m4)
G – môđuyn đàn hồi dịch chuyển (khi xoắn)
G = 8.104 MN/m2
Thay các giá trị c, n vào biểu thức (2.4) ta có:
bđ )
.G 2J
.l i i G J
.l i ( M
n n
2 h
2 0 c
c
2 h
j
Nếu chúng ta đặt:
G J 2
l.
i.
i G J
l.
i
1 C
n n
2 h
2 0 c
c
2 h
là độ cứng chống xoắn của hệ thống truyền lực (Nmrad-1) khi các bánh
xe cùng bị hãm, sẽ nhận được một biểu thức khác biểu diễn mômen các
lực quán tính:
Mj = C.bđ (2.6)
Trang 7Từ 2 biểu thức (2.3) và (2.6) chúng ta
có :
Jbđ dt
d ωbñ
= C.bđ (2.7)
Mặt khác ta
bñ bñ bñ bñ
bñ bñ bñ
bñ
bñ dt J d
d J
J d
d dt
d ω
Bởi
vậy:C.
Lấy tích phân biểu thức (2.8) với các giới hạn sau: khi bắt đầu
phanh bđ = 0 và bđ = o đến thời điểm cuối cùng của quá trình phanh
bđ = max và bđ = 0
max
0
bñ bñ
0
bñ d J
0
Vì chúng ta cần giá trị tuyệt đối
nên :
C 2 max = Jbđ.02 và max C
Jbñ
0
ω
Sau cùng giá trị Mjmax là giá trị chúng ta cần tìm:
C J
Mjmax = (2.9)
Mômen của các lực quán tính tác dụng lên hệ thống truyền lực của xe có giá trị cực đại khi phanh gấp ở số truyền thẳng của hộp số ( ih=1 ), vì lúc đó độ cứng C của hệ thống truyền lực sẽ có giá trị cực đại Trường hợp này thường xảy ra trong thực tế
Trang 81.2.3 phanh đột ngột khi xe đang chạy bằng phanh tay:
Chúng ta xét trường hợp cơ cấu phanh tay bố trí ở trục thứ cấp của
hộp số Khi xe đang chuyển động, người lái khơng sử dụng phanh chân
để dừng xe, mà sử dụng phanh tay cho đến lúc xe dừng hẳn lại Khi trục
thứ cấp của hộp số bị hãm chặt, nhưng do quán tính, bánh xe cịn quay đi
một gĩc bx rồi mới dừng hẳn lại Đây là chuyển động quay chậm dần với
gia tốc gĩc
dt
d bx , bởi vậy làm xuất hiện mơmen của lực quán tính :
dt
d J
bx j
Mơmen này truyền ngược trở lại tác dụng lên hệ thống truyền lực
theo sơ đồ ở hình 2.2 và gây nên xoắn
J c , l c
j
Hãm
i o
2M
i o
HS
j
c
c
i o
i o
c
j
i o
2M
J c
c
n
J
bx
j
M
J bx
J bx
bx
Hình 2.2 : Sơ đồ tính tốn tải trọng động khi sử dụng
phanh tay đột ngột
Từ sơ đồ 2.2 chúng ta cĩ quan hệ giữa các gĩc
xoắn :
n o
c
bx i
Trang 9G J i
l M 2
c o
c j c
G J
l M
n
n j
Ở đây:
n
Thay các giá trị n , c vào biểu thức (2.11)
ta có:
G J
l G J i
l 2 M
n
n c
2 o
c j
bx
Nếu chúng ta
gọi:
G J
l G J i
l
C
n
n c
2 o
c
là độ cứng chống xoắn của hệ thống truyền lực khi phanh đột ngột bằng
phanh tay, chúng ta nhận được một biểu thức khác cũng biểu thị mômen
C.bx (2.12)
Từ biểu thức (2.10) và (2.12) ta nhận được phương trình vi phân sau đây:
Jbx dt
dωbx
Giải phương trình này bằng phương pháp tương
tự như ở mục (II – 2 ) ta có:
bx max = bx0 JCbx (2.14) Bởi
bx 0 bx max
j (2.15)
Ở đây:
bx0 : vận tốc góc của bánh xe khi bắt đầu phanh
Trang 101.2.4 Xe chuyển động trên đường không bằng phẳng
Khi xe chuyển động trên mặt đường không bằng phẳng, hiện tượng dao động của xe sẽ làm xuất hiện thêm tải trọng phụ
Thường thì tải trọng động này được cân nhắc và xét đến khi tính toán bộ phận vận hành và hệ thống lái Ở trên hình 2.3 là một mô hình đơn giản về dao động của xe và phương pháp tính toán tải trọng cho trường hợp này
Ở đây chúng ta có thể xem toàn bộ xe như một hệ động lực học
và mỗi thành phần của hệ đều có gia tốc dao động, do đó nó sẽ chịu thêm tải trọng động:
Trong đó: m - Khối lượng
m- Gia tốc dao động
Trang 111.3 Tải trọng dùng trong tính toán các cụm và chi tiết
của gầm ô tô
1.3.1 Tải trọng tính toán dùng cho hệ thống
truyền lực
Khi tính toán sức bền các chi tiết, trước hết cần tính mômen từ động cơ và mômen theo sự bám giữa bánh xe và mặt đường truyền đến các chi tiết đó, sau đó lấy giá trị mômen nhỏ hơn từ hai giá trị mômen vừa tìm được để đưa vào tính toán Mục đích của công việc này là để chọn ra kính thước tối ưu cho chi tiết đó, tránh trường hợp thừa kích thước, tốn nhiều vật liệu chế tạo, không kinh tế Nếu mômen truyền từ động cơ đến chi tiết tính toán lớn hơn mômen tính theo điều kiện bám, thì chi tiết ấy sẽ chịu mômen có giá trị bằng mômen tính theo bám mà thôi, lúc này mômen của động cơ thừa chỉ làm quay trơn các bánh xe chủ động, mà không làm tăng thêm giá trị mômen xoắn tác dụng lên chi tiết ấy
Ngược lại, nếu mômen tính theo điều kiện bám lớn hơn mômen của động cơ truyền xuống chi tiết đang tính toán, thì chi tiết ấy sẽ chịu mômen xoắn có giá trị bằng mômen tính theo mômen xoắn của động cơ truyền xuống Bởi vì, thực chất các tải trọng sinh ra trong các chi tiết của hệ thống truyền lưc là do mômen xoắn của động cơ truyền xuống gây nên
Mômen xoắn truyền từ động cơ xuống chi tiết của hệ thống truyền
lực trong trường hợp tính theo động cơ là: M X M emax .i
(2.16)
Trang 12Ở đây:
Memax – Mômen xoắn cực đại của động cơ (N.m)
i – Tỉ số truyền từ động cơ đến chi tiết đang tính toán – Hiệu suất truyền lực từ động cơ đến chi tiết tính toán Mômen tính theo điều kiện bám ngược lên chi tiết được xác định như sau :
b l b
x Z φ r M
i η
Ở đây : x – Số lượng các bánh xe chủ động
Zb – Tải trọng thẳng đứng tác dụng lên bánh xe chủ động (N)
– Hệ số bám ( = 0,7 0,8)
rl – Bán kính lăn của bánh xe chủ động (m)
i – Tỷ số truyền giữa chi tiết đang tính và bánh chủ động
– Hiệu suất truyền lực từ chi tiết đang tính đến bánh xe chủ động
Trang 131.3.2 Tải trọng tính toán dùng cho hệ thống phanh
Khi chọn chế độ tính toán cho cơ cấu phanh, chúng ta phải chọn cho
trường hợp phanh xe với cường độ phanh và hiệu suất cực đại, nghĩa là
lực phanh bằng lực bám cực đại của bánh xe với mặt đường Lúc đó
mômen phanh Mp của bánh xe có giá trị là:
Mp = Zb . rb Trường hợp xe có hai cầu và cơ cấu phanh đặt trực tiếp ở tất cả các
bánh xe, lúc đó mômen phanh ở mỗi cơ cấu phanh của cầu trước sẽ có
giá trị là Mp1
.m 2
G
p1
2L
G
(b + ’.hg) rb (2.18)
và mômen phanh ở mỗi cơ cấu cầu sau là Mp2 :
.m 2
G
p2
2L
G
=
rb (a - ’.hg) rb ( 2.19)
Ở đây:
G – Trọng lượng toàn bộ của xe khi đầy tải
G1,G2– Tải trọng tác dụng lên cầu trước và sau ở trạng thái
tĩnh trên mặt đường nằm ngang
m1p, m2p – Hệ số thay đổi tải trọng lên cầu trước và cầu
sau khi phanh
a, b – Khoảng cách từ trọng tâm xe đến cầu trước và sau
L – Chiều dài cơ sở của xe
– Hệ số bám dọc giữa lốp và đường ( = 0,7 0,8)
Các hệ số m1p, m2p được xác định bởi lý thuyết ôtô:
a
h ' 1 a g
h j 1 m
b
h ' 1 b g
h j 1 m
g g
max 2p
g g
max 1p
g
j ' max
Ở đây:
hg – Chiều cao trọng tâm của xe
g – Gia tốc trọng trường
jmax – Gia tốc chậm dần cực đại khi phanh
Trang 141.3.3 Tải trọng tính toán dùng cho hệ thống treo và cầu
Các chi tiết của hệ thống treo và dầm cầu được tính toán bền theo tải trọng cực đại Fmax khi xe chuyển động thông qua tải trọng tĩnh Ft
đã biết và hệ số tải trọng động kđ :
Fmax = kđ.Ft
Thực nghiệm chứng tỏ rằng kđ tăng khi độ cứng của hệ thống treo và vận tốc của xe tăng
Khi xe hoạt động trong đều kiện bình thường thì tải trọng động cực đại ít khi xuất hiện
Khi xe chuyển động trên đường bằng phẳng, tải trọng tác dụng lên dầm cầu và vỏ cầu chủ yếu là từ khối lượng được treo Khi mặt đường không bằng phẳng,tải trọng tác dụng lên dầm cầu và vỏ cầu chủ yếu là tải trọng động từ các khối lượng không được treo
Nhằm mục đích xác định tải trọng do chính trọng lượng bản thân của cầu xe sinh ra, chúng ta chia cầu xe ra làm nhiều phần (thông thường khoảng 812 phần) và xác định khối lượng của mỗi phần Khi xe dao động thì tải trọng động của mỗi phần được xác định:
𝑑𝑡
Ở đây:
mi – Khối lượng của từng
phần
𝑑𝑧– Gia tốc dao động thẳng đứng của cầu xe
𝑑𝑡
Trang 15
1.3.4 Tải trọng tính toán dành cho hệ thống lái
Khi tính toán bền cho các chi tiết của hệ thống lái, chúng ta có thể tính theo các chế
độ tải trọng sau:
* Mômen cực đại của người lái tác dụng lên vô lăng:
Mlmax = Flmax R
Ở đây :
Flmax – Lực cực đại tác dụng lên vô lăng, đối với xe tải nạng và trung bình vào khoảng 400500 N, còn đối với xe du lịch vào khoảng 150200 N
R – Bán kính của vô lăng
* Lực phanh cực đại tác dụng lên hai bánh xe dẫn hướng khi phanh xe trên
đường có hệ số bám =0,8
2.4.Các lực F1, F2 tác dụng lên các đòn dẫn động của hệ thống lái được xác định theo
m
F =Z φ
m
F =Z φ
c
* Tính theo lực va đập của mặt đường lên các bánh xe dẫn
hướng khi chuyển động trên đường gồ ghề Giá trị lực va đập lên các chi
tiết của hệ thống lái phụ thuộc vào vận tốc của xe
Hình 2.4: Sơ đồ các lực tác dụng lên hệ thống lái