Nguyễn Minh Hiếu Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Tóm tắt : Dấu ấn Ấn Độ trong giao thoa văn hóa ở Việt Nam qua lăng kính tôn giáo đã, đang và sẽ hiện hữu trong lịch sử, trong đời sống
Trang 1DẤU ẤN ẤN ĐỘ TRONG GIAO THOA VĂN HÓA Ở VIỆT NAM
QUA LĂNG KÍNH TÔN GIÁO
TS Nguyễn Thị Bích Thủy
Trường Đại học Hải Phòng
ThS Nguyễn Minh Hiếu
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Tóm tắt :
Dấu ấn Ấn Độ trong giao thoa văn hóa ở Việt Nam qua lăng kính tôn giáo đã, đang và sẽ hiện hữu trong lịch sử, trong đời sống của người dân dưới nhiều khía cạnh khác nhau, từ văn hóa, hội họa, nghệ thuật, kiến trúc, tôn giáo,… cho đến thương mại, kĩ nghệ, kinh tế,… Dấu ấn đó sẽ được tiếp biến, phát triển và giao thoa văn hóa dưới quan hệ hôn nhân, huyết thống, cạnh tranh cùng tồn tại trong mối quan hệ đa chiều, đa cực cũng như sự tương đồng văn hóa trong tiến trình hội nhập toàn cầu giữa hai dân tộc Việt Nam – Ấn Độ
Từ khóa : văn hóa, giao thoa văn hóa, giao lưu văn hóa, văn hóa Ấn Độ, văn hóa Việt Nam,…
Phật Giáo từ Ấn Độ du nhập vào nước ta khoảng đầu Công nguyên1 do nhà sư người Ấn Độ Mahajivaka truyền đạo theo đường biển2 Nhờ du nhập theo con đường hòa bình, chứa đựng những triết lí không mâu thuẫn với tín ngưỡng bản địa, Phật giáo đã nhanh chóng dung hòa hoặc thay thế tín ngưỡng bản địa3
Qua thời gian du nhập mới mẻ ban đầu, các tôn giáo từ Ấn Độ nhanh chóng hòa nhập vào văn hóa và tín ngưỡng dân gian Quá trình này đã tiếp biến và làm mềm hóa theo hướng thích ứng với thực thể địa phương qua hàng loạt các thời kì nhỏ như sơ truyền, xung đột, thay đổi, thích ứng, dung hợp, và thấm sâu vào văn hóa nước ta Chỉ mấy trăm năm sau, Phật giáo trở thành quốc giáo của dân tộc4 với nội hàm phong phú và vị thế quan trọng trong xã hội, thu hút đông đảo phật tử và tăng sĩ thuộc các tầng lớp trong xã hội
Một trong số các trung tâm Phật giáo lớn nhất khu vực lúc bấy giờ đó là Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) Đặc điểm đáng quan tâm của Phật giáo là do ảnh hưởng của nền văn hóa nông nghiệp trọng âm nên Phật giáo nước ta có khuynh hướng thiên về âm tính Điều này có thể thấy rõ qua sự chuyển biến từ những vị Phật đàn ông trong tôn giáo Ấn Độ nguyên thủy, chuyển hóa thành
1 Nhà sư Đàm Thiên, ở thế kỉ VI, có viết : “Xứ Giao Châu có đường thông sang Thiên TRúc, Phật giáo vào Trung Quốc chưa phổ cập đến miền Giang Đông mà xứ ấy đã xây dựng ở Luy Lâu hơn 20 ngọn bảo tháp, độ được hơn 500 vị sư và dịch được 15 bộ kinh rồi”
2 Dưới thời A-dục Vương trị vị tại Ấn Độ (từ 273 đến 232 TCN), nhờ sự ủng hộ của nhà vua nên đạo Phật đã được truyền đi nhiều xứ sở lân cận Các thương nhân người Ấn theo đường biển để đến Giao Chỉ buôn bán và mang theo đạo Phật mới mẻ đến xứ này Sau đó đến lượt các tăng sĩ người Ấn tới đây truyền đạo, góp phần lập ra các trung tâm đạo Phật tại Luy Lâu, một trong những trung tâm lớn nhất của đạo Phật tại phương Đông đầu công nguyên cùng với hai trung tâm khác là Lạc Dương và Bành Thành (nay thuộc Trung Quốc)
3 Theo Nguyễn Xuân Khánh
4 Đạo Phật chính thức trở thành quốc giáo từ thời nhà Đinh (968 – 980)
Trang 2Phật ông – Phật bà trong đạo Phật ở nước ta1, đặc biệt là tín ngưỡng ở các vùng ven biển Bên cạnh
đó, tính xuất thế, thoát trần nguyên thủy của Phật giáo Ấn Độ, khi vào nước ta đã bị bản địa hóa qua
sự thâm nhập từ kín đáo của tín ngưỡng phồn thực vào Phật giáo qua các truyền thuyết về Phật mẫu Man nương, hình tượng Linga – Yoni, cho đến biểu hiện rõ ràng ở điêu khắc trang trí đình chùa Sau 1000 năm Bắc thuộc, Phật giáo được chấn hưng và tham dự nhiều sự kiện trong đại của đất nước, khởi đầu là Đinh Tiên Hoàng lập ra chức tăng thống cho thiền sư Khuông Việt – người đứng đầu Phật giáo của đất nước Hoa Lư (Ninh Bình) là kinh đô của nước ta dưới thời nhà Đinh (968 – 980) và nhà Tiền Lê (980 – 1009), về sau trở thành trung tâm Phật giáo cả nước với hàng loạt đền, chùa tháp lớn2 được xây dựng
Đến lúc này, Phật giáo từ Ấn Độ đã ảnh hưởng hết sức to lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội của nước ta, trong khi đó, tại nơi phát nguyên lại có dấu hiệu bị lấn át bởi sự lớn mạnh của các đạo giáo khác Phật giáo thông qua phương thức đặc biệt vốn có của tôn giáo gián tiếp tác dụng đến chính trị hiện thực lúc bấy giờ Mặt khác, thông qua kinh tế tự viện, tăng tục đệ tử, chế độ tăng quan
đã ảnh hưởng đến tình hình kinh tế xã hội – tín ngưỡng xã hội phong kiến đương thời Sang giai đoạn Hậu Lê3, tuy không còn hưng thịnh như các triều đại Lý – Trần nhưng thông qua tư tưởng siêu nhiên xuất thế của mình cùng với chủ trương tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ của Nho giáo, cùng với học thuyết dưỡng sanh, thành tiên của Đạo giáo cùng nhau bổ sung, do đó đối với việc bảo
hộ, củng cố chế độ phong kiến đã khởi lên tác dụng tích cực, trở thành bộ phận quan trọng trong kiến trúc thượng tầng xã hội phong kiến Đồng thời, Phật giáo với tinh thần từ bi cứu thế, phổ độ chúng sanh, cũng không ngừng khích lệ tăng tục hai chúng đệ tử tích cực đóng góp vào sự nghiệp tiến bộ và từ thiện của xã hội Tinh thần “tốt đạo, đẹp đời” ấy vẫn sáng ngời cho đến hôm nay
Dù xét trên phương diện nào, Phật giáo cũng đã lưu truyền, thâm nhập phát triển và làm giàu nội hàm nền văn hóa truyền thống của dân tộc Cùng với các đạo giáo khác được du nhập hay phát nguyên tại nước ta, Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc và văn hóa dân tộc trên nhiều khía cạnh khác nhau như triết học, văn học – ngôn ngữ học4, hội họa, âm nhạc, kiến trúc5, phong tục, nghệ thuật, kinh tế,… Đơn cử như lĩnh vực âm nhạc – hội họa, sự truyền nhập của hội họa Phật giáo, một mặt khiến cho nghệ thuật hội họa nước ta xuất hiện thêm nhiều nội dung và đề tài đa dạng giá trị như tượng chư Phật, chư tăng, tượng quỷ thần,…; mặt khác làm giàu sức tượng tượng nghệ thuật của các thế hệ hội họa nước nhà, đẩy mạnh sự phát triển từ hình thức, nguyên liệu thể hiện, kĩ năng, phương thức màu sắc, nội dung thể hiện các loại hình hội họa của nghệ thuật dân tộc
1 Theo Trần Ngọc Thêm
2 Một số chùa tháp lớn thời đó và được xây sau đó vẫn còn cho đến ngày hôm nay như : chùa cổ Bái Đính, chùa Địch Lộng, chùa Hương hay động Hoa Sơn, động Thiên Tôn,… Điểm độc đáo ở thời kì này là nhiều chùa, tháp được xây dựng trong các hang núi, dựa vào núi hoặc tận dụng núi đá làm chùa
3 Phật giáo đạt đến giai đoạn cực thịnh dưới triều Trần (1225 – 1400) rồi bắt đầu suy thoái vào thời Hậu Lê (1428 – 1788), trong đó hai nguyên nhân chính là : nguyên nhân nội tại trong chính đạo Phật và nguyên nhân ngoại tại từ sự phát triển của Nho giáo
4
Về mặt ngôn ngữ học, trong điển tích Phật giáo xuất hiện điển cố và các từ ngữ mới có tính nghệ thuật thẩm mỹ, làm giàu kho tàng ngôn ngữ văn học của nước nhà, nhiều từ ngữ thậm chí đã trở thành ngôn ngữ sử dụng hằng ngày của người dân, như thế giới, thực tế, giác ngộ, tịnh độ, bỉ ngạn, công án, phiền não, giải thoát, nhân duyên, chân đế, phương tiện, hiện hành, tác dụng, bình đẳng, trang nghiêm, tương đối, tuyệt đối, tri thức, bất nhị pháp môn, tam sanh hữu hạnh, ngũ thể đầu địa, lục căn thanh tịnh, đại thiên thế giới, thiên nữ tán hoa,
5 Về phương diện kiến trúc, Phật giáo đã kịp tạo ra dấu ấn riêng thông qua hệ thống kiến trúc cũ và mới trên khắp cả nước với hàng loạt công trình như cung điện, chùa tháp, đình miếu, lăng tẩm, nhà cửa,…
Trang 3Đồng thời, qua giao thoa văn hóa bản địa và khu vực, Phật giáo cũng có những thay đổi nhất định cho phù hợp Tiêu biểu là lĩnh vực âm nhạc, đàn ca hát xướng, Phật giáo nguyên thủy Ấn Độ vốn không chấp nhận việc tăng ni tiếp xúc và sử dụng nhưng sau khi truyền vào nước ta, nhận ảnh hưởng của văn hóa truyền thống dân tộc, Phật giáo dần dần hấp thụ hình thức nghệ thuật âm nhạc
và sử dụng loại hình nghệ thuật này như là một trong những phương tiện quan trọng trong truyền bá chánh pháp Nhiều nhà âm nhạc cổ đại chính thống và dân gian qua thời gian tìm tòi đã ứng dụng đạo lí Phật giáo với âm nhạc cung đình, âm nhạc tôn giáo khác, âm nhạc dân gian thành một tổng thể âm nhạc dân tộc, tạo ra một đặc trưng “viễn, hư, đạm, tĩnh” của âm nhạc Phật giáo
Bên cạnh đạo Phật, đạo Hindu đến từ Ấn Độ, du nhập vào miền Trung và phía nam nước ta từ đầu công nguyên đã bản địa hóa thành nền văn hóa Chăm1 của vương quốc Chămpa hùng mạnh2 Tuy thu nhận nguồn gốc ảnh hưởng từ Ấn Độ nhưng văn hóa Chăm còn chịu ảnh hưởng của văn minh bản địa Sa Huỳnh và văn minh nông nghiệp của khu vực Đông Nam Á Điều này được thể hiện qua tín ngưỡng phồn thực với tục thờ cập linh vật Linga – Yoni hay chế độ mẫu hệ trong truyền thống văn hóa của người Chăm Đồng thời, dưới ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ thông qua con đường giao thương hàng hải vốn rất phát triển lúc bấy giờ, vương quốc Chămpa sử dụng một cơ cấu chính trị liên bang, một vương quốc được tạo thành nhiều tiểu quốc, tương tự các vương quốc miền Nam Ấn Độ Học giả Trần Kỳ Phương cho rằng, có ít nhất 5 tiểu quốc trong vương quốc Chămpa, cụ thể hiện nay, người ta đã xác định được ít nhất 5 tiểu quốc (châu) thành phần của vương quốc Chămpa : Vijaya (Đồ Bàn), Amaràvati (khu vực hạ lưu sông Thu Bồn), Ulik (nam Quảng Trị), Vuyar (khu vực Cửa Việt, Gio Linh) và Jriy (Đồng Hới)
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, dân tộc Chăm đã để lại một nền văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc vô cùng phong phú, không hề thua kém bất cứ quốc gia cổ đại nào trong vùng Đông Nam Á cùng thời điểm Nghệ thuật Chămpa cùng với những công trình sáng lập đồ sộ và có giá trị đặc biệt đi vào tính vô giá của một nền nghệ thuật của một thời xa xưa, không chỉ huy hoàng
về vật chất mà ngay từ buổi đầu nghệ thuật Chămpa đã có thiên hướng đi vào cuộc sống của thế giới siêu nhiên Với những tác phẩm điêu khắc thông qua những tư liệu bằng đồng, đá, mô tả về đề tài Phật giáo đã phát triển hầu như khắp tất cả không gian rộng lớn của vương quốc Chămpa từ niềm Bắc Indrapura đến miền Nam Panduranga trước đây là những bằng chứng sắc nét về một nền tảng tư tưởng Phật giáo đã từng tồn tại và phát triển sâu mạnh đối với cộng đồng tộc người bản địa Thông qua những loại hình, nội dung phản ánh rất đa dạng của các tác phẩm được kiến tạo trong đó quan niệm và tính ngưỡng hình tượng Bồ Tát (Bodhisatta) đang phát triển mạnh vào thời kì này đã
để lại cho nhân loại những tác phẩm điêu khắc được xem như tuyệt tác trở thành những giá trị vô giá đối với ngày nay3
Trong thành quả ấy phải kể đến nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc Chămpa qua các di tích đền tháp còn giữ lại đến nay Dưới ảnh hưởng và tác động của nghệ thuật Ấn Độ, nghệ thuật Chămpa thậm chí đã đạt đến đỉnh cao khi mà nghệ thuật độc lập của người Việt láng giềng còn chưa hình thành Trong tương quan và quan hệ với văn hóa Đại Việt, văn hóa Chămpa được xem như vượt trội, dẫn đến “trong nghệ thuật, phải có chuyên môn cao, phải từ nền nghệ thuật có trước dẫn đến nền nghệ thuật có sau, con đường giao lưu là hữu thức và chiều hướng diễn tiến lại là Chămpa – Đại
1 Có người cho rằng, văn hóa Chămpa là sự kế tiếp của văn hóa Sa Huỳnh cổ đại (Trần Bá Việt)
2 Từ khoảng 2000 năm trước suốt dọc từ dải đất miền Trung đến tận vùng Đồng Nai của Nam Trung Bộ nước ta xuất hiện bộ tộc người Chăm, chủ nhân của nhà nước Chămpa
3 Xem thêm Thông Thanh Khánh
Trang 4Việt”1 Cho đến nay, đa phần các di tích về nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Chămpa đang trong tình trạng đổ nát Vì vậy, việc phục dựng lại những đặc điểm của kiến trúc Chămpa gặp nhiều khó khăn vì các nhà phục dựng hiện nay chưa tường minh nhiều điều về phương thức xây dựng kiến trúc này
Có thể nói, nghệ thuật điêu khắc Chămpa đã thật sự chinh phục lòng người bằng những đường nét tài hoa có ý sáng tạo mạnh mẽ đã tạo nên những tác phẩm có giá trị độc đáo và đồ sộ, có sức sống xuyên suốt với thời gian, là kiệt tác của những thế hệ nghệ sĩ tài hoa Chămpa để lại cho đời Trong đó hình tượng Bồ Tát qua bàn tay tài hoa của những người nghệ sĩ Chămpa đã đôi phần khái quát cho ta thấy diện mạo bối cảnh thăng trầm của vương quốc Chămpa thông qua ngôn ngữ điêu khắc Đó còn là phản ảnh tinh thần Phật giáo vốn một thời đã từng ngự trị trong lòng cộng đồng và truyền thống tín ngưỡng hình tượng Bồ Tát Quan Thế Âm theo tư tưởng mẫu hệ
Dấu ấn Ấn Độ trong giao thoa văn hóa ở Việt Nam qua lăng kính tôn giáo còn thể hiện khá rõ nét qua những nét sinh hoạt hằng ngày của người dân nước ta cũng như các kì lễ lạc quan trọng của mỗi tộc người, mỗi cộng đồng hay đất nước Phong tục tập quán của người dân Nam Ấn có thể phảng phất đâu đó ở các cộng đồng người dân miền Trung hoặc Nam Bộ nước ta Các nghi thức sinh hoạt thường nhật hoặc lễ hội quan trọng theo vòng đời có những nét tương đồng và giữ một vị trí nhất định trong cuộc sống của mỗi người Đặc biệt các nghi thức và thói quen sinh hoạt ấy được
sự hỗ trợ bởi các nghi thức tôn giáo truyền trực diện và trực tiếp từ các thế hệ tăng sĩ Ấn Độ và tăng
sĩ trong nước vốn ăn sâu trong tiềm thức của họ và người dân Sự tôn kính và tin tưởng đối với tôn giáo, của hệ kiến thức đi kèm trong hàng tăng, tục đã làm cho các thói quen, nghi thức ấy ít thay đổi theo dòng thời gian, dù nó ở tại nơi khởi phát hay được du nhập sang nước ta hàng ngàn năm Tóm lại, có thể nói rằng, dấu ấn Ấn Độ trong giao thoa văn hóa ở Việt Nam đã, đang và sẽ hiện hữu trong lịch sử, trong đời sống của người dân dưới nhiều khía cạnh khác nhau, từ văn hóa, hội họa, nghệ thuật, kiến trúc, tôn giáo,… cho đến khoa học công nghệ, kinh tế,… Dấu ấn đó sẽ được tiếp biến, phát triển và giao thoa văn hóa thông qua quan hệ hôn nhân, huyết thống, cạnh tranh cùng tồn tại trong mối quan hệ đa chiều, đa cực cũng như sự tương đồng văn hóa trong tiến trình hội nhập toàn cầu giữa hai dân tộc Việt Nam – Ấn Độ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Will Durant, Lịch sử văn minh Ấn Độ, Nguyễn Hiến Lê (dịch), NXB Văn hóa Thông tin, 2006 [2] Phạm Đức Dương, Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, NXB Khoa học xã hội,
2000
[3] Viện Tôn Giáo, Tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996 [4] Đinh Gia Khánh, Đại cương về tiến trình văn hóa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,
1996
[5] Thông Thanh Khánh, Hình tượng Bồ Tát trong nghệ thuật điêu khắc Chămpa, (tài liệu lưu hành nội bộ)
1 Theo Trần Bá Việt
Trang 5[6] Phan Ngọc, Về văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, NXB Văn hóa thông tin, 1994
[7] Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, 2004
[8] Trần Kỳ Phương, Bước đầu xác định danh hiệu các tiểu vương quốc thuộc miền Bắc vương quốc cổ Chiêm Thành (Campuchia) tại miền Trung Việt Nam khoảng giữa thế kỉ XI và XV,
Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ II, TP HCM, 2004
[9] Nguyễn Minh San, Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1999 [10] Hà Văn Tấn, Sự hình thành bản sắc văn hóa ở người Việt cổ, Văn hóa Việt Nam – Xã hội và
con người, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000
[11] Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB TP Hồ Chí Minh, 1996
[12] Trần Bá Việt, Đền tháp Chămpa – Bí ẩn xây dựng, NXB Xây dựng, 2007
[13] Trần Quốc Vượng, Sơ đồ diễn trình lịch sử và mô hình văn hóa Việt Nam, Văn hóa học đại
cương và cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996
[14] Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn học, Hà Nội, 2003