1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu giao thoa văn hóa

30 900 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 233,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những biểu hiện của giao thoa văn hóa với Phương Tây đặc biệt là Pháp I.Nguyên nhân và điều kiện để giao thoa văn hóa. Hơn một thế kỷ qua, nước ta có hai thời kỳ giao thoa văn hóa Đông Tây xét ở phạm vi toàn quốc, nói chính xác hơn là giao thoa văn hóa bản địa và văn hóa phương Đông đã bản địa hóa và văn hóa từ phương Tây du nhập. Thời kỳ thứ nhất, mang tính cưỡng bức diễn ra vào khoảng những năm 20 cho đến cuối những năm 50 của thế kỷ trước. Thời kỳ thứ 2 là thời kỳ tự nguyện mở cửa và hội nhập, sôi động nhất là từ những năm 90 của thế kỷ trước đến ngày nay... Ở thời kỳ thứ nhất, sau khi cơ bản bình định xong các phong trào chống đối, chính quyền thực dân Pháp ồ ạt du nhập văn hóa chính quốc vào thuộc địa Đông Dương, nhất là Việt Nam với những ý đồ có lợi cho chủ nghĩa thực dân. Bằng văn hóa, họ sẽ tạo ra một tầng lớp trí thức bản địa được khai sáng văn minh chính quốc, thần phục Pháp và từ đó sẵn sàng hướng theo Pháp, làm công cụ cho Pháp. Để thực hiện chủ trương này, họ xây dựng một hệ thống giáo dục theo mô hình giáo dục Pháp, đưa văn hóa Pháp vào nội dung giảng dạy, đào tạo; du nhập tràn ngập những tác phẩm nghệ thuật, văn hóa phẩm, lối sống, ngôn ngữ Pháp… vào nước ta. Bên cạnh ý đồ phục vụ sự cai trị của chính quyền, có một dòng khác, dòng văn hóa do những người Pháp, những người sùng mộ Pháp du nhập. Sau hơn 20 năm đất nước chia làm hai miền, miền Bắc tiếp thu nền văn hóa mang màu sắc XHCN ở các nước do Đảng Cộng sản cầm quyền, chủ yếu là Trung Quốc, Liên Xô và các nước ở Đông Âu. Miền Nam chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Mỹ, do chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ mang lại. Năm 1975, đất nước thống nhất và đến năm 1986, quá trình Đổi mới được khởi xướng theo con đường hội nhập và phát triển. Một trào lưu văn hóa mới, trào lưu hội nhập văn hóa rộ lên, chi phối hầu hết các lĩnh vực văn hóa, văn học nghệ thuật. Cũng sau hơn 25 năm mở cửa, bằng các cuộc giao lưu, bằng những thông tin từ nhiều nguồn, văn hóa phương Tây với những tinh hoa của nó đã giúp cho tầm dân trí, tầm văn hóa của người Việt thay đổi rất nhiều. Xu thế hội nhập để cùng phát triển, trong đó có hội nhập văn hóa là không thể đảo ngược. Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam không nên và không thể là một ốc đảo về văn hóa. Chủ động hội nhập, chắt lọc mọi tinh hoa văn hóa bên ngoài, kể cả tinh hoa văn hóa phương Tây để làm phong phú mình là ích nước lợi nhà.

Trang 1

MỤC LỤC

I.Nguyên nhân và điều kiện để giao thoa văn hóa 2

II.Những biểu hiện của giao thoa văn hóa 3

1.Giao lưu văn hóa tinh thần 3

1.1.Văn học - giáo dục 3

1.1.1 Ngôn ngữ- chữ viết 3

1.1.2 Văn học – nghệ thuật : 3

1.1.3 Báo chí : 5

1.1.4 Giáo dục , khoa học : 6

1.1.5 Hệ tư tưởng : 8

1.2 Cải cách tôn giáo 9

1.2.1.Quá trình du nhập các tôn giáo phương tây vào Việt Nam: 9

1.2.2 Kitô giáo với văn hoá Việt Nam: 10

1.3 Mỹ thuật 14

1.4.Triết học 19

1.5 Kiến trúc 20

2 Giao lưu văn hóa vật chất 22

2.1 Trên lĩnh vực nông nghiệp: 23

2.2 Trên lĩnh vực công nghiệp 23

2.3.Trên lĩnh vực đô thị 25

2.4.Đời sống vật chất 25

3 Giao lưu văn hóa và bảo tồn bản sắc văn hóa Việt Nam 26

3.1 Mặt tích cực 26

Trang 2

Những biểu hiện của giao thoa văn hóa với Phương Tây- đặc biệt là Pháp I.Nguyên nhân và điều kiện để giao thoa văn hóa.

Hơn một thế kỷ qua, nước ta có hai thời kỳ giao thoa văn hóa Đông Tây xét ởphạm vi toàn quốc, nói chính xác hơn là giao thoa văn hóa bản địa và văn hóaphương Đông đã bản địa hóa và văn hóa từ phương Tây du nhập Thời kỳ thứnhất, mang tính cưỡng bức diễn ra vào khoảng những năm 20 cho đến cuốinhững năm 50 của thế kỷ trước Thời kỳ thứ 2 là thời kỳ tự nguyện mở cửa vàhội nhập, sôi động nhất là từ những năm 90 của thế kỷ trước đến ngày nay

Ở thời kỳ thứ nhất, sau khi cơ bản bình định xong các phong trào chống đối,chính quyền thực dân Pháp ồ ạt du nhập văn hóa chính quốc vào thuộc địa ĐôngDương, nhất là Việt Nam với những ý đồ có lợi cho chủ nghĩa thực dân Bằngvăn hóa, họ sẽ tạo ra một tầng lớp trí thức bản địa được "khai sáng" văn minhchính quốc, thần phục Pháp và từ đó sẵn sàng hướng theo Pháp, làm công cụ choPháp Để thực hiện chủ trương này, họ xây dựng một hệ thống giáo dục theo môhình giáo dục Pháp, đưa văn hóa Pháp vào nội dung giảng dạy, đào tạo; du nhậptràn ngập những tác phẩm nghệ thuật, văn hóa phẩm, lối sống, ngôn ngữ Pháp…vào nước ta Bên cạnh ý đồ phục vụ sự cai trị của chính quyền, có một dòngkhác, dòng văn hóa do những người Pháp, những người sùng mộ Pháp du nhập.Sau hơn 20 năm đất nước chia làm hai miền, miền Bắc tiếp thu nền văn hóamang màu sắc XHCN ở các nước do Đảng Cộng sản cầm quyền, chủ yếu làTrung Quốc, Liên Xô và các nước ở Đông Âu Miền Nam chịu ảnh hưởng củanền văn hóa Mỹ, do chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ mang lại Năm 1975, đấtnước thống nhất và đến năm 1986, quá trình Đổi mới được khởi xướng theo conđường hội nhập và phát triển Một trào lưu văn hóa mới, trào lưu hội nhập vănhóa rộ lên, chi phối hầu hết các lĩnh vực văn hóa, văn học nghệ thuật

Cũng sau hơn 25 năm mở cửa, bằng các cuộc giao lưu, bằng những thông tin từnhiều nguồn, văn hóa phương Tây với những tinh hoa của nó đã giúp cho tầmdân trí, tầm văn hóa của người Việt thay đổi rất nhiều Xu thế hội nhập để cùngphát triển, trong đó có hội nhập văn hóa là không thể đảo ngược Trong bối cảnhhiện nay, Việt Nam không nên và không thể là một ốc đảo về văn hóa Chủ độnghội nhập, chắt lọc mọi tinh hoa văn hóa bên ngoài, kể cả tinh hoa văn hóaphương Tây để làm phong phú mình là ích nước lợi nhà

Trang 3

II.Những biểu hiện của giao thoa văn hóa

1.Giao lưu văn hóa tinh thần.

Xu thế hội nhập để cùng phát triển, trong đó có hội nhập văn hóa là không thểđảo ngược Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam không nên và không thể là một

ốc đảo về văn hóa Chủ động hội nhập, chắt lọc mọi tinh hoa văn hóa bên ngoài,

kể cả tinh hoa văn hóa phương Tây để làm phong phú mình là ích nước lợi nhà

1.1.Văn học - giáo dục

1.1.1 Ngôn ngữ- chữ viết

Khi truyền đạo sang Việt Nam , khó khăn đầu tiên mà các giáo sĩ mắc phải

là sự khác biệt về ngôn ngữ và văn tự Bởi vậy ,họ đã dùng bộ chữ cái La tinh thêm các dấu phụ để ghi âm tiếng Việt , tạo nên chữ Quốc ngữ chữ Quốcngữ là thành quả tập thể của nhiều giáo sĩ Bồ Đào Nha , Ý , Pháp … và nhữngngưòi Việt Nam đã giúp họ học tiếng Việt Song công lao lớn nhất thuộc về

linh mục Alexandre de Rhodes ( 1591-1660 ) , ngưòi đã kế thừa các công trình

của Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa, biên soạn và xuất bản ơ Romavào năm 1651 cuốn từ điển Annam – Lusian- Latin ( thường gọi là từ điển Việt

– Bồ – La ) và cuốn Phép giảng tám ngày in song ngữ Latin – Việt Tuy chữ

Quốc ngữ ban đầu chỉ là công cụ truyền đạo của các giáo sĩ , nhưng do có ưuđiểm là dễ học ,nên được các nhà Nho tiến bộ tích cực truyền bá để phổ cậpgiáo dục và nâng cao dân trí ( hội truyền bá chữ quốc ngữ )

Sự tiếp xúc với phương Tây cũng khiến cho tiếng Việt có biến động mạnh : hàng loạt từ ngữ được vay mượn để diễn tả những khái niệm mới đã đi vàođời sống thường ngày như xà phòng / xà bông ( savon ) kem ( crème ) ga ( gaz ) … Có những hiện tượng ngữ pháp vốn đặc thù cho các ngôn ngữphương Tây ( như thể bị động , kiến trúc danh từ ….) ở những mức độ nhấtđịnh cũng đã du nhập vào tiếng Việt

1.1.2 Văn học – nghệ thuật :

Sau khi đã phát triển tới đỉnh cao rực rỡ ở thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉXIX, văn học ở nửa sau thế kỉ XIX, đi vào cuộc kháng chiến chống Pháp xâmlược Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu là người chiến sĩ tiên phong trênmặt trận này Cùng với ông là một thế hệ các nhà văn thơ yêu nước như PhanVăn Trị, Hồ Huân Nghiệp, Đoàn Hữu Trưng, Phạm Văn Nghị v.v… Sau đó làthế hệ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương v.v…

Trang 4

Sau thế hệ này là thế hệ các nhà Nho như Phan Bội Châu, Phan ChâuTrinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền v.v… về phương diện chính trị lúc này

là một thứ vũ khí của quần chúng để chống kẻ thù cướp nước, cổ động cho sựtiến bộ xã hội Do tác động khách quan, văn học giai đaọn này đã có bước pháttriển nhanh chóng cả về hình thức và nội dung

Trước hết là sử dụng chữ Quốc ngữ để sáng tác văn học Với việc phổbiến chữ Quốc ngữ, mảng văn học bằng chữ Quốc ngữ đã phá triển Ban đầu,chữ Quốc ngữ được dùng để phiên âm các sách chữ Nôm, chữ Hán, chữ Pháp

Hàng loạt các tác phẩm chữ Hán như Đại học, Kinh thi, Minh tâm bảo giám

v.v…, các truyện thơ Nôm như Truyện Kiều, Nhị Độ Mai, Lục Vân Tiên v.v…, các truyện dân gian, câu hò, câu hát, được ra mắt bạn đọc bằng chữ Quốc

ngữ ở Nam Bộ Không thể không ghi công đầu cho một số trí thức ở Nam Bộcuối thế kỉ XIX như Trương Vĩnh Kí, Huỳnh Tịnh Của, Trần Phong Sắc, PhụngHoàng Sang, Bùi Quang Nho, Khẩu Võ Nghi v.v… trong lĩnh vực này

Mặt khác là sự phát triển của những sáng tác bằng chữ Quốc ngữ, như kí

sự là thể loại sớm ra đời với tác phẩm Chuyến đi Bắc Kì năm At Hợi (1876) của

Trương Vĩnh Kí; tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ cũng ra đời ở Nam Bộ sớm

nhất Đầu tiên phải kể tới Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản,

nếu coi đây là một truyện dài, một tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ thì nó đã ra

mắt bạn đọc từ năm 1887 Sau đó là Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân của

Trương Duy Toản ra mắt bạn đọc vào năm 1910 Cũng năm này Trần Chánh

Chiếu có tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữHoàng Tố Anh hàm oan Thập niên hai

mươi của thế kỉ XX, tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ có khá nhiều tác giả: Phạm

Duy Tốn với truyện ngắn Sống chết mặc bay(1918) Đó là Tân Dân Tử với Giọt

máu chung tình (1926), và Lê Hoàng Mưu với Hà Hương phong nguyệt (1915), Oán hồng quần (1920), Tô Huệ Nhi ngoại sử (1920), Oan kia theo mãi (1922), Cay đắng mùi đời (1923), Tỉnh mộng (1923), Nhơn tình ấm lạnh(1925) Những tác giả này ở Sài Gòn, trong khi đó, ở Hà Nội, Nguyễn

Trọng Thuật cóQuả dưa đỏ (1925), Hoàng Ngọc Phách có Tố Tâm (1925).

Vào thập niên ba mươi, bốn mươi, văn xuôi bằng chữ Quốc ngữ đã có mộtbước tiến bộ vượt bậc Nhóm Tự lực văn đoàn với Nhất Linh, Khái Hưng,

Hoàng Đạo v.v…, đã cho ra mắt bạn đọc một loạt tác phẩm như Nửa chừng

xuân, Đoạn tuyệt, Bướm trắng v.v… Bên cạnh nhóm Tự lực văn đoàn là các nhà

văn hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố với Tắt đèn, Nam Cao với Chí phèo, Vũ Trọng Phụng với Giông tố, Số đỏ v.v… Sự trong sáng của tiếng Việt trong các

tác phẩm này là bước tiến của văn xuôi bằng chữ Quốc ngữ Cùng với kí, tiểuthuyết là thơ Phong trào thơ mới xuất hiện với một loạt tên tuổi như Thế Lữ,Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v…, khẳng định sự chuyển

Trang 5

mình của văn học Việt Nam theo hướng hiện đại, sự thay thế vẻ vang của vănhọc bằng chữ Quốc ngữ trong đời sống văn hóa.

Mặt khác, sự chuyển mình của văn học Việt Nam giai đoạn này không chỉ

ở phương diện hình thức Cái tôi cá nhân, sự ý thức về cá nhân, tình yêu lứa đôixuất hiện trong các tiểu thuyết của nhóm Tự lực văn đoàn, trong các tập thơ củacác nhà thơ mới là một hiện tượng mới trong văn hóa Việt Nam Chưa bao giờtiếng nói từ hạnh phúc cá nhân lại cháy bỏng như vậy trong văn học Việt Nam:

Mau lên chứ Vội vàng lên với chứ

Em, em ơi tình non sắp già rồi.

Tuy nhiên, nhìn ở phương diện công dân,sáng tạo của nhóm Tự lực vănđoàn, của phong trào thơ mới, quả có ý nghĩa như đồng chí Trường Chinh nhậnđịnh: “một tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa”

Cùng với những tác giả, tác phẩm này, sự xuất hiện của hệ tư tưởng Mácxít trong đời sống văn hóa đã dẫn tới sự xuất hiện của bộ phận các tác giả cáchmạng Thời kì từ 1931-1935 là cuộc đầu tranh giữa quan điểm của chủ nghĩa

Mác – Lênin và các quan điểm đối lập Trên tờ Phụ nữ thời đàm, đồng chí Hải

Triều đã viết nhiều bài về nguyên lí, quan điểm của chủ nghĩa Duy vật Chính vìvậy, bản Đề cương có ý nghĩa như một cương lĩnh văn hóa dân chủ mới Vềsáng tác, thơ Tố Hữu và đáng kể hơn cả là các sáng tác của Chủ tịch Hồ ChíMinh là tiếng nói tiêu biểu cho dòng văn học cách mạng này

Rõ ràng, non một trăm năm, văn học Việt Nam đã có bước chuyển biếnquan trọng đi từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại

Trong nghệ thuật hội hoa thì xuất hiện những thể loại vay mượn từphương Tây như tranh sơn dầu , tranh bột màu với bút pháp tả thực Bút pháp tảthực của phương Tây còn xuất hiện ngay cả trên sân khấu với thể loại kịch nói

và tác động tới sự ra đờ của nghệ thuật cải lương Nghệ thuật thanh sắc tổnghợp cổ truyền bắt đầu phân hoá thành hàng loạt bộ môn như ca , muá , nhạc ,kịch …

1.1.3 Báo chí :

Khởi điểm để báo chí ra đời ở Việt Nam là từ ý đồ của thực dân Pháp cần

có một thứ vũ khí nhằm tuyên truyền cho chính quyền thuộc địa Do vậy, báo

chí ra đời ở Sài Gòn trước tiên Lúc đầu là tờ báo bằng tiếng Pháp Le Bulletin

officiel de(Expédition de la Cocinchine và tờ Le Bulletin des commune bằng chữ

Trang 6

Hán) Ngày 15-4-1865, tờ Gia Định báo ra đời Sau tờ Gia Định báo là tờ Phan

Yên báo Năm 1888, tờThông loại khóa trình của Trương Vĩnh Ký được phát

hành Năm 1901, tờ báo thứ ba bằng chữ Quốc ngữ ra mắt bạn đọc là tờ Nông

cổ mím đàm Sau đó tờ Lục tỉnh tân văn ra mắt bạn đọc thế giới, ở Sài Gòn Báo

chí ra đời rất nhiều như Nữ giới chung, Phụ nữ tân văn, Đuốc nhà Nam v.v…

Ơ Hà Nội, có các bào bằng chữ Quốc ngữ như Đăng cổ tùng báo, Hữu

Thanh, Thực nghiệp dân báo, Nam phong, Trung Bắc tân văn v.v…

Nói chung, những tờ báo bằng chữ Quốc ngữ ở cả ba miền trong thời kìnày, dù vô tình hay hữu ý đều góp phần vào sự phát triển văn học chữ Quốc ngữ

Ngoài những tờ bào bằng chữ Quốc ngữ, một thế kỉ này ở cả ba đô thị: HàNội, Huế, Saì Gòn đều có những tờ báo bằng chữ Pháp nhằm phục vụ chính

quyền đó, nhưng cũng có thể có những tờ báo tiến bộ chẳng hạn tờ L’Annam,

tờ La Cloche fêlée(Chuông rè) ở sài Gòn, tờ Notre voix (Tiếng nói của chúng ta),

tờ Le Travail (Lao động), tờ Rassemblement (Tập hợp), Enavant (Tiến lên) ở Hà

Nội trong thời kì 1936-1939

Trong giai đoạn từ năm 1858 đến năm 1945, việc dùng chữ Quốc ngữ đểlàm báo đã là bước đột biến của diễn trình văn hóa Nhìn ở phương diện ngônngữ văn tự, đấy là một bước đột biến Nhìn ở phương diện lịch sử báo chí, đâycũng là một bước đột biến

1.1.4 Giáo dục , khoa học :

- Giáo dục:

Để đào tạo người làm việc cho mình , thực dân pháp đã buôc học trò học tiếngPháp , bắt theo hệ thống giáo dục kiểu phương Tây Năm 1898 , chương trìnhthi Hương có thêm hai môn Quốc ngữ và Pháp văn Năm 1906 lập ra Nha Họcchính Đông Dương và định ra ba bậc học cơ sở là ấu học ,tiểu học và trunghọc Trong những năm nầy , nhà cầm quyền lập ra môt số trường Cao đẳng vàđến năm 1908 thì mở ra trưòng Đại học Đông Dương Hệ thống Nho học tànlụi dần Đến năm 1915 ở Bắc kỳ và 1918 ỡ Trung kỳ việc thi Hương bị bãi

bỏ , chấm dứt nền Nho học Việt Nam

Hệ thống giaó dục mới cùng với sách vở phương Tây đã góp phần giúpngườ Việt Nam mở rộng tầm mắt ,tiếp xúc với các tư tưởng dân chủ tư sản ,rồi sau là tưởng Mácxít Truyền thống đạo học cùng với lối tư duy tổng hợp nay được bổ sung thêm kiểu tư duy phân tích Nó được rèn luyện qua báo chí,giáo duc và những hoạt động của những cơ quan như Trường Viễn Đông Pháp (thành lập 1901 tại Hà Nội ) Viện vi trùng học ( thành lập ở Sào Gòn 1891 , Nha

Trang 7

Trang 1896 , Hà Nội 1902 ) Nền khoa học hiện đại manh nha từ thời thưộcPháp này đến khi giao lưu với liên Xô và hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa , đã trở nên thực sự vững mạnh và phát triển

-Khoa học tự nhiên

Pháp hỗ trợ Việt Nam trong rất nhiều lĩnh vự, kinh tế yu tê, giáo dục, khoa học

kỹ thuật, chuyển giao công nghệ giữa Việt Nam và pháp tồn tại mối quan hệtương đồng và lực hút giữa 2 mối quan hệ 2 nước pháp và Việt Nam như cótiếng nói chung trong quan hệ quốc tế giữa 2 nước Pháp luôn ủng hộ các quyếtđịnh cũng như ý kiến của Việt Nam khi Việt Nam trở thành ủy viên khôngthường trực của hội đồng bảo an ninh hợp quốc

Pháp là một trong những nước có khoa học công nghệ hiện đại vì thế việc hợptác khoa học công nghệ giữa Việt Nam và Pháp là rất cần thiết cho sự phát triểnkhoa học công nghệ của Việt Nam

Tháng 3/ 2007 Hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam vàPháp đã được ký kết nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các chuyên gia và tổchức khoa học công nghệ hai nước tang cường hơn nữa qun hệ hợp tác

Cả thế giới đã chứng kiến tài năng thiết kế của pháp khi chế tạo ra tàu hỏacao tốc, thiết bị điện phức tạp, tên lửa, vệ tinh viễn thong, máy bay( máy bayAirbus, siêu thanh Concorde,Caravelle) Chế tạo cơ khí nhất là sản xuấtoto( đứng thứ 4 thế giới với côn ty lớn PSA) Hàng không đứng thứ 3 thế giới (với công ty EADS)

Là nước sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn thứ 3 thế giới với khoảng 300 đầu đạnhạt nhân Pháp sở hữu một ngành công nghiệp hàng không quan trọng đứng đầu

là tổ hợp hàng không Châu Âu Airbus và là cường quốc Châu Âu duy nhất(ngoại trừ Nga) có sân bay vũ trụ riêng của mình Pháp cũng là nước độc lậpnhất về năng lượng ở phương Tây nhờ đã đầu tư lớn vào năng lượng nguyên tử,khiến nước này trở thành quốc gia gây phát sinh carbon dioxide thấp nhất trong

số các nước công nghiệp phát triển trên thế giới Nhờ những khoản đầu tư lớnvào kỹ thuật nguyên tử, khoảng 77% nhu cầu năng lượng của Pháp được cungcấp từ các nhà máy điện nguyên tử

Trang 8

1.1.5 Hệ tư tưởng :

Là tấm gương phản chiếu nhiều mặt đời sống và nếp sống của cộngđồng , một dân tộc , ơ trung tâm của văn hoá quyển , hệ tư tưởng củng được xem như là một hệ văn hoá Sự tiếp xúc ,giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và phương Tây tạo ra sự chuyển mình của hệ tư tưởng Việt Nam từ 1858-1945 diễn ra trong một thời kì đầy biến động về tư tưỏng và chính trị Gầnmột trăm năm ở Việt Nam xuất hiện và tồn tại nhiều hệ tư tưởng khác nhau, tác đông lẫn nhau , hoà hợp lẫn nhau , tự biến dạng do khúc xạ qua môitrường xã hội … tạo nên một trường tư tưởng rất phức tạp

Trên mặt bằng lịch sử , các hệ tưởng vào Việt Nam từ hàng nghìn nămtrước vẫn tồn tại ở xã hội mà căn bản vẫn là xóm làng với những ngườinông dân trồng lúa nước Dù có biết bao biến động trầm luân trên bề mặtlịch sử thì hệ tư tưởng của họ vẫn là hệ tư tưỏng thần thoại với một hệ thốngthần linh đa dạng

Nho giáo tồn tại như một hệ tư tưởng vì có vị trí đặc biệt ở nhà hậu Lê ,nhà Nguyễn bây giờ không giúp các Nho sĩ trả lời được câu hỏi lớn của thờiđại Những phong trào Văn thân ,Cần vương đưới ánh sáng của tư tưỏng Nhogiáo không giúp các Nho sĩ tìm được con đường cứu nước Nói cách khác , yêu nước chống Pháp kiểu nầy là bảo thủ ,nên đã thất bại Các Nho sĩ thế hệsau với tấm lòng yêu nước của mình đã tổ chức cuộc vận động giải phóng dântộc theo một hệ tư tưởng khác Trào lưu tư tưỏng dân chu tư sản qua tân thư

và tân văn Trung Quốc như Am băng thất , Trung Quốc hồn , Mậu Tuất chính

biến ,Tân dân tuỳ báo … của Lương Khãi Siêu , Khang Hữu Vi , các thuyết về

nhân đạo, dân quyền của những nhà phát ngôn của giai cấp tư sản Pháp lúcđang lên như Rousseau, Montesquiseu,Vonte… được đi vào Vệt Nam Tựcảnh tỉnh để đổi mới ,tìm một con đưòng đi khác , các nhà Nho đã từ biệt hệ

tư tưởng quen thuộc của bao nhiêu thế hệ trưóc Phan Bội Châu ( 1867-1940 )

là một nhân chứng tiêu biểu Với Duy tân hội ,ông còn giử tư tưởng quân chủ Với Việt Nam Quang phục hội ,ông đã chuyển sang tư tưởng dân chủ Sau khigặp gỡ Nguyễn Ai Quốc , và ở cuối đời ông còn viết sách về Chủ nghĩa xãhội Đi từ hình mẫu nầy sang hình mẫu khác ,ước nguyện duy nhất của PhanBội Châu vẫn chỉ là giành lại quyền độc lập dân tộc

Vượt ra ngoài ý đồ của bọn thực dân, sự áp đặt thô bạo của chúng dẫnđến hậu quả ngược lại là khích lệ tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và chống

Trang 9

Pháp Xuất hiện Nguyễn Trường Tộ với những bản điều trần, Phan Chu Trinh với phong trào Duy Tân

Từ tấm lòng yêu nước , nhà các mạng Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủnghĩa Mác Lê nin rồi truyền bá vào Việt Nam giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng phát triển và ngày càng giác ngộ về mình Phong trào đấu tranh củagiai cấp công nhân ngày càng lan rộng và có tổ hức Ba tổ chức cộng sản ra đời

ở Bắc kỳ , Trung kỳ rồi Nam kỳ ,để rồi ngày 6/1/1930 , Nguyễn Ai Quốc chủtrì hội nghị hiệp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ,đánh dấu “một bước ngoặc vô cùng quantrọng trong lich sử cách mạng nước ta Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản đãtrưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng ” , đồng thời nó cũng khẵng định

sự hiện diện của một hệ tư tưỏng mới ở Việt Nam

1.2 Cải cách tôn giáo

1.2.1.Quá trình du nhập các tôn giáo phương tây vào Việt Nam:

Tình hình Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII có nhiều xáo trộn và

diễn biến phức tạp Nội bộ giai cấp thống trị lục đục vì sự tranh chấp quyền lựcdẫn đến sự chia cắt đất nước kéo dài từ năm 1645 đến năm 1692, sau đó là cuộcnội chiến giữa Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn và sự phục hồi của nhà Nguyễnđầu thế kỷ XIX Những điều đó đã làm cho kinh tế trì trệ và gián đoạn, chính trịthì hỗn độn, đời sống của nhân dân thì đói khổ lầm than, nhân tâm thì giao động

ly tán, tạo thuận lợi cho việc thâm nhập truyền bá Công giáo cũng như việc dòmngó chinh phục của chủ nghĩa tư bản phương Tây Từ những thập niên đầu củathế kỷ XVI ở Việt Nam đã có các giáo sĩ phương Tây đến truyền giáo

Thời kỳ 1533 đến năm 1614 chủ yếu là các giáo sĩ dòng Phan-xi-cô thuộcdòng Bồ Đào Nha và dòng Đa Minh thuộc Tây Ban Nha đi theo những thuyềnbuôn vào nước ta, nhưng do không quen thông thổ, chưa thạo ngôn ngữ nên việctruyền giáo không mấy kết quả

Năm 1659, Giáo hoàng Alec-xăng-đrơ VII đã thành lập 2 Giáo phái đầu tiên

ở Việt Nam và phong 2 người Pháp là Francois Pallu và Lambert de la Mottelàm giám mục phụ trách truyền đạo ở Đông Dương Như vậy, thế kỷ XVI, XVII

là thời kỳ truyền giáo của các giáo sĩ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Càng về sauvai trò của các giáo sĩ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha càng lu mờ, trong khi cácgiáo sĩ Pháp ngày càng mạnh, nhất là sau khi Hội Thừa sai Paris ra đời Năm

1659, Giáo hoàng Alec-xăng-đrơ VII đã thành lập 2 Giáo phái đầu tiên ở ViệtNam và phong 2 người Pháp là Francois Pallu và Lambert de la Motte làm giám

Trang 10

mục phụ trách truyền đạo ở Đông Dương Như vậy, thế kỷ XVI, XVII là thời kỳtruyền giáo của các giáo sĩ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Càng về sau vai tròcủa các giáo sĩ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha càng lu mờ, trong khi các giáo sĩPháp ngày càng mạnh, nhất là sau khi Hội Thừa sai Paris ra đời.

Thời kỳ này thực dân Pháp âm mưu xâm lược Việt Nam, đe dọa nền độc lậpdân tộc Sau khi chiếm được Việt Nam, nhất là từ khi thiết lập được chế độthống trị, gần như là để đền đáp công lao Hội Thừa sai Paris, Pháp ban cho cácgiáo sĩ Thừa sai nhiều đặc quyền đặc lợi Uy thế của Giáo hội được đề cao, cácgiáo sĩ trở thành những người có thế lực lớn trong xã hội lúc bấy giờ Nhờnhững điều kiện thuận lợi về mặt vật chất và tinh thần do chính quyền Pháp đưalại hàng ngàn cơ sở tôn giáo được triển khai xây dựng, số tín đồ ngày càng tăngnhanh

1.2.2 Kitô giáo với văn hoá Việt Nam:

Lớp văn hoá giao lưu với phương Tây hình thành tư khoảng thế kỷ XVI - XVII ,song những ngưòi phương Tây đầu tiên đã tới Việt Nam vàĐông Nam Á sớm hơn nhiều ,vào khoảng đầu công nguyên họ đem đến cac

đồ trang sức, pha lê , vũ khí , áo giáp … Đổi lấy các đồ quý hiếm của Đông Nam Á như trầm hương ,kỳ nam , vàng , đá quý , yến sào ,đồi mồi , ngàvoi , tê giác … và đặc biệt là hồ tiêu và các loại gia vị dùng để bảo quảnthịt Không phải ngẫu nhiên mà giới nghiên cứu đã gọi tuyến đường biển

từ Địa Trung Hải đến Việt Nam và Đông Nam Á thời đó la Đưòng hồ tiêu

Sau thời Trung cổ nặng nề khiến cho sự giao lưu bị gián đoạn ,sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi nhận “vào năm NguyênHoà thứ I đờivua Lê Trang Tông (1533 ) có môt người Tây dưong tên là I-nê –khu ( Inatio ) theo đường biển lẻn vào giảng đạo Gia tô ở các làng NinhCường ,Quần Anh ,Trà Lũ ( thuộc Nam Định cũ ) ” Từ đó các giáo sĩ Bồ ĐàoNha và Tây Ban Nha tìm đến ngày càng đông Ban đầu ,do chưa quen phongthổ ,chưa thông thạo ngôn ngữ nên việc truyền giáo ít thu được kết quả Dầndần công việc tiến triển ngày càng khá hơn Theo tài iiệu của giaó hội thìđến năm 1593 , ở Nghệ An đã có đến 12 làng Công giáo toàn tòng Ki tôgiáo đã mở đầu cho sự giao lưu văn hoá giữa Việt Nam với phương Tây

Ki- tô giáo ( hay Cơ đốc giáo ,Thiên Chuá giáo ) là tên gọi chung cho tất

cả các tông phái cùng thờ chúa Jesus Christ Ki tô giáo ra đời như một nhánhcủa Do thái giaó ở vùng Palestin ,rồi nhanh chóng phát triển thành mộttôngiáo độc lập - tôn giáo của những người bị áp bức Ban đầu , do bị giới

Trang 11

chủ nô La Mã ngăn cản và bức hại Đến thế kỷ IV ,hoàng đế Constanti đệ nhất ra chỉ dụ tha đạo và công nhận Ki tô gáo là quốc giáo

Trong quá trình phát triển , đến khoãng năm 974-1054 ,Ki tô giáo đã tách

ra thành hai giáo hội : giáo hội phía Tây gọi là Công giáo ( có nghĩa là đạochung cho toàn thế giới ), lấy Roma làm trung tâm ( nên còn gọi là Công giáo

La Mã , đôi khi gọi là La Mã giáo ) và giáo hội phía Đông gọi là Chính thốnggiáo lấy Constantism làm trung tâm

Đến năm 1520 , cùng với sự phát triển của giai cấp tư sản , phong tràocải cách tôn giáo do mục sư Đức tên là M Luther cầm đầu dẫn đến một cuộcphân liệt thứ hai , từ khối Công giáo La Mã đã tách ra một dòng mới là đạoTin lành Đạo Tin lành chiu ảnh hưởng đậm nét của tư tưỏng dân chủ tư sản

và khuynh hưóng tự do các nhân : phủ nhận quyền lực của toà thánh và công đồng chung , chỉ thừa nhận Chúa Jesus và kinh thánh ,cho rằng bàMaria chỉ đồng trinh đến khi sinh chủa Jesus ( do sự phản đối giáo quyền La

Mã ,cho nên có tên gọi là Protestanism , nghĩa là Thệ phản ) Vào thế kỷ XVI còn diễn ra cuộc ly khai thứ ba : Anh giáo ,tách ra khỏi Công giáo La Mã

Sự tiếp xúc văn hoá trong giai đoạn đầu diễn ra trên phương diện tôngiáo và thương mại Vươn cánh tay tới phương Đông xa xôi nầy , nhà truyềngiáo và nhà tư bản tất yếu có nhu cầu liên kết chặt chẻ với nhau Nhà truyềngiáo muốn mở rộng nước chúa cần phương tiện để đi xa Nhà tư bản muốnkiếm lời cần người am hiểu thị trường nên sẳn sàng giúp đở tài chính cho các giáo sĩ và chở họ đi bất cứ nơi đâu Bù lại , khi đến nơi ,các giáo sĩ sẽvừa đi truyền đạo , vừa tìm sẳn các nguồn hàng quý hiếm , nhiều khi các giáo sĩ giúp nhà buôn bằng cách can thiệp với chính quyền địa phưong chophép họ buôn bán

Trong việc buôn bán và truyền đạo trong giai đoạn nầy , các giáo sĩ vàthương nnhân phưong Tây thường phục tùng nghiêm chỉnh các quy định củanhà nưóc phong kiến Đổi lại , các chính quyền phong kiến Việt Nam rất niềm

nở đón tiếp họ Cả chúa Nguyễn , chúa Trịnh và vua Lê đều muốn tranh thủlực lượng nầy để củng cố thế lực ,phát triển kinh tế và tăng cưòng tiềm lựcquân sự để kiềm chế và chông lại đối phương Trong khi đó thì ở châu Âu ,chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh và đi vào con đường thực dân , chi phối mọi hoạt động của xã hội

Cuối năm 1624 , giáo sĩ ngưòi pháp Alxandre de Rhodes ( 1591 – 1660 ) ,

thường phiên âm là Á lịch sơn Đắc Lộ , thuộc giáo hội Bồ Đào Nha ,sau mấynăm truyền giáo ở đàng Trong và Đàng Ngoài , đã trở về châu Au vận động toàthánh Rô ma giao cho Pháp quyền truyền đạo ở Viễn Đông Kết quả là năm

Trang 12

1658 ,giáo hoàng đã phong cho hai giáo sĩ Pháp là Francois Pallu và Lambert

de la Motte làm giám mục cai quản hai địa phận Đàng Trong và Đàng Ngoài

Năm 1664 , Hội thừa sai Pari,thường gọi lả Hội truyền giáo nước ngoài của

Pháp được thành lập

Cuộc nội chiến Nguyễn Anh – Tây Sơn vào thế kỷ XVIII là một cơ hội

tốt cho cho sự bành trướng của Hội truyền giáo nước ngoài của pháp và sựcan thiệp cuả thực dân Pháp Giám mục Pièrre Pigneaux de Béhaine ( 1741 –

1799 ) , thường được phiên âm là Bá Đa Lộc, còn gọi là cha Cả , đại diện củatoà thánh ở Đàng Trong ,đã trở thành người đỡ đầu tích cực cho NguyễnAnh Ong đã đưa hoàng tử Cảnh đi Pháp ,và năm 1787 đã đại diện cho NguyễnAnh kí với Pháp hiệp ước Versailles Sau đó , do xãy ra cách mạng Pháp 1789 ,hiệp ước Versailles không được hiện Bá Đa Lộc đã tự mình mộ quân và sắm

vũ khí giúp Nguyễn Anh đánh Tây Sơn Hoạt động của Ba Đa Lộc đã giúp cho nước Pháp có được một chổ đứng vững chắc ở Việt Nam về tôn giáo vàchính trị

Sau khi lên ngôi vào năm 1802 , lấy niên hiệu là Gia Long , Nguyễn Anh lâm vào một tình thế nước đôi : Môt mặt chịu ơn các giáo sĩ và ân nhân Pháp ,

do vậy ông đã ban thưởng hậu và sử dụng một số làm cố vấn và quan lạitrong triều ; mặt khác lại lo ngại sự phát triển của Ki to giáo trước mắt sẽ ảnhhưởng xấu đến truyền thống đạo đức và thuần phong mỹ tục cổ truyền , saunữa có thể làm mất ổn định chính trị và dẫn đến nguy cơ mất nước

Để đối phó với tình hình nầy , Nhà Nguyễn chủ trương “bế môn toã cảng ”trong giao lưu và giữ nguyên hiện trạng đạo Ki tô chứ không khuyến khíchphát triển Trong chiếu ban hành tháng giêng năm 1084 , nhân nói với dânchung Bắc Hà về việc thơ thần Phật ,vua Gia long đã tuyên bố :” dân các tổngnào có nhà thờ Gia tô đổ nát thì phải đưa đơn trình quan trấn mới được tu bổ , dựng nhà thờ mới thì đều cấm”.Để bảo tồn văn hoá và tạo điều kiện giữ ổnđịnh chính trị ,nhà Nguyễn đã khôi phục Nho giáo là Quốc giáo ,Gia Longtừng căn dặn Minh Mạng :”Hãy biết ơn ngưòi Pháp ,nhưng đừng bao giờ để họđặt chân vào triều đình của con”

Dưới thời Minh Mạng ( 1820-1840 ), ý đồ xâm lược của Pháp càng lộ rõ Qua thời Thiệu Tri ( 1841- 1847 ) ,sang thời Tự Đức ( 1848 – 1883 ) , cuộc leothang xâm lược của Pháp ngày càng gia tăng Những người Pháp làm quan tạitriều đình nhà Nguyễn và nhiều cha cố đã báo về chính phủ Pháp nhiều tìnhbáo quan trọng , một số giáo sĩ theo tàu chiến Pháp xâm nhập Việt Nam … Không phân biệt được bọn thực dân đội lốt tôn giáo và tay sai với con chiên nhẹ

dạ cả tin và những giáo dân lương thiện , Minh Mạng , rồi Thiệu Trị và TựĐức đã ra một loạt chỉ dụ cấm đạo Việc cấm đạo và giết giáo dân đến lượt

Trang 13

mình lại tạo ra một cớ rất mủi lòng cho bọn thực dân can thiệp vũ trang ráoriết hơn cái sai nầy kéo theo cái sao khác Trước sức ép của Pháp , tháng 5/

1862 Tự Đức buộc phải ký với Pháp Hoà ước Nhâm Tuất, theo đó thì triều

đình phải nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ và bỏ cấm đạo Sự kiện nầy đã khiến nhiều nhà Nho yêu nước phản ứng quyết liệt , họ dấy lênphong trào “Bình Tây sát tả” ( dẹp giặc Tây , giết tả đạo ) kéo dài tới thời kỳCần Vương

Trong khi gây nên cảnh cốt nhục tương tàn đó , bọn thực dân không quantâm gì đến đời sống của giáo dân Ngay cả giữa các giáo sĩ thừa sai với giáo

sĩ bản xứ cũng luôn có một sự phân biệt đối xử nhiều khi tới tàn nhẫn ( mãinăm 1933 toà tòa thánh Roma mời phong chức giám mục cho người bản

xứ đầu tiên là Nguyễn Bá Tòng ) Năm 1954 , khi Pháp đã thất bại ỡ ĐiệnBiên Phủ , bọn thực dân đội lốt tôn giáo còn tung tin “Chúa đã vào Nam” đểlội kéo một số lớn tín đồ từ Bắc vào Nam , gây nên sự xáo trộn lớn trong cuộc sống của lương dân

Sau bốn thế kỷ truyền đạo ,tới nay Ki tô giáo đã có chổ đứng vững chắc ởViệt nam với khoãng hơn 5 triệu tín đồ và nửa triệu tín đồ Tin Lành , song con

số nầy chưa phải là lớn vào Việt Nam khi chế độ phong kiến đang khủnghoảng trầm trọng ,Phật giáo thì suy đồi và Nho giáo thì không bàn đến kiếp sau, Ki tô giáo đã có nhều cơ hộ trở thành chổ dựa tinh thần cho ngưòi dân đangcần niềm an ủi Nhưng Ki tô giáo đã không tranh thủ được hoàn cảnh thuậnlợi ấy mà trở thành đạo của số đông là bởi hai lý do chủ yếu :

Thứ nhất , khác với phương Tây , trong quá trình thâm nhập vào Việt Nam

xa xôi , hoạt động truyền giáo đã dính líu và thoã hiệp với hoạt động của kẻthực dân xâm lược Trong luận án tiến sĩ quốc gia khoa học chính trị bảo vệ tạitại đại học Pari năm 1968 ông Cao Huy Thuần đã viết :”Khi khảo cứu lịch sửthực dân của châu Au vào thế kỷ XIX , chúng ta chú ý ngay đến sự đi đôi giữahoạt động truyền giáo và hoạt động quân sự … Nhưng chữ “đi đôi “ vẫn cònphải bàn cãi , vì như một nhà ngoại giao Pháp đã nhận xét một cách mĩa mai

“đó là những con đường song song mà trái với mọi định luật hình học lạithường gặp nhau” Nói cách khác , Phúc âm được truyền bá trong khắp thế giới

Á, Phi là nhờ vào sự chinh phục xâm lăng của người Au châu ” , “Mỗi bướctiến của sự xâm lăng thuộc địa tương ứng với một bước “leo thang” của đạo

Gia tô ,và ngược lại “ Trong cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp , Nguyễn Ai

Quốc đã phải dành cả một chương viết về Chủ nghĩa giáo hội :”Hàng giáo sĩthuộc địa không những phải chịu trách nhiệm gây ra chiến tranh thuộc địa ,

mà còn là bọn kéo dài chiến tranh , bọn chủ trương đánh đen cùng , không chịu điều đình “non” … Một hoà ước với người Việt Nam dù có lợi bao nhiêucũng chẳng thoã mãn được lòng ham muốcn của các ông ấy Họ muốn đánh

Trang 14

chiếm hết cả nước và lật đổ triều đại đang trị vì Giám mục Pellerin đã nhiềulần nói như thế và đó cũng là ý kiến của giám mục Lefebvre ”, Người ViệtNam với truyền thống bao dung ,vốn dễ chấp nhận mọi tôn giáo ngoại lai ,miễn là nó đến với thiện chí hoà bình , ấy vậy mà vào thời kỳ nầy lần đầutiên đã xuất hiện sự đối lập giữa “bên giáo ” vời “bên lương ”.

Thứ hai , khác với các tôn giáo được hình thành ở Á Đông đã vào Việt

Nam trước như Phật giáo , Đạo giáo , Ki tô giáo là tôn giáo mang đậm tínhcách cứng rắn của truyền thống văn hoá phương Tây , do vậy mà , trong mộtthời gian dài ,khó hoà đồng được với văn hoá Việt Nam Klhi truyền giáo ởcác nước gần gũi về địa lý và tương đồng về văn hoá , những tính cách nầy ítdẫn đến xung đột Nhưng khi đến phương Đông nói chung và Việt Nam nóiriêng , nó gây nên một sự tương phản rỏ nét Ông Nguyễn Tử Lộc đã viết :”

Sự truyền đạo Công giáo vào Việt Nam và sự phát triển của đạo … có mộttính cách rất ngoại quốc đối với phần còn lại của dân tộc Tính cách ngoại quốc gồm cả hình thức đến nội dung , từ lễ nghi , nghệ thuật đến lối sống ,tín ngưỡng Đạo Công giáo có vẽ rất Tây , từ cầu kinh La tinh đến ảnh tượng thờ ,đến kiểu kiến trúc giáo đường , đến quan niệm con người và vũ trụ ”

Nổi bật trong mối quan hệ nầy là mâu thuẩn giữa một bên là truyền

thống thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam với bên kia là tính độc tôn của Ki

tô giáo không chấp nhận việc thờ cúng ai ngoài Chúa Không chỉ việc thờ

cúng tổ tiên mà cả Tam giáo ( Nho , Lão , Phật ) cũng bị các giáo sĩ coi là “mêtín dị đoan” và phủ nhận Ngay từ thời đó , cũng đã có không ít giáo sĩ nhận rarằng quan niệm cực đoan nầy là “lạc đường và gây trở ngại không thể vượt quađược cho việc truyền đạo” Cho tới Công đồng Va ti căng II ( 1962-1965 ),những sự khác biệt và các sắc thái văn hoá địa phương mới được hoà đồng Trong quá trình tiếp thu văn hoá , Người Việt Nam bao giờ cũng thâuhoá linh hoạt , tiếp nhận những gì có ích và biến đổi cho phù hợp Ngay tronglĩnh vực Ki tô giáo, với những ngôi nhà thờ cao vút có đỉnh nhọn thoắt, thì nhàthờ Phát Diệm lại xuất hiện dạng kiến trúc dân tôc thấp, trãi rộng và có máicong Hiện nay người Ki tô hữu Việt Nam đang thực sự hoà mình với dân tộc,

ở trong lòng dân tộc, vì dân tộc, xây dựng cho mình truyền thống “kính Chúa

,yêu nưóc” và đề cao tình thần Sống phúc âm trong lòng dân tộc.

1.3 Mỹ thuật

Luồng văn hóa từ phương Tây và ảnh hưởng của phương Tây vào Việt Namtrước hết làm thay đổi cái nhìn của người Việt Nam với thế giới Trước đây làmột không gian đóng kín Xung quanh chúng ta là một bức tường, bên kia bứctường là một thế giới hoàn toàn xa lạ, hoàn toàn khác biệt đến mức trong sự hìnhdung của không ít người

Trang 15

Sự giao thoa văn hóa phương tây mà ở đây chủ yếu là từ văn hóa Pháp do chúng

ta đã phải trải qua thời kì dài đô hộ của Pháp thể hiện qua các biểu hiện sau đây:

người Pháp đứng đầu

Về mỹ thuật, Người Pháp đã mang đến cho mỹ thuật Việt Nam (chủ yếu từ khithành lập Trường Mỹ thuật Đông Dương (1925) hai chiều kích (dimensions)mới:

màu tâm linh (spiritual) vốn có)

Điều đáng chú ý là mặc dầu không có bề dày truyền thống như điêu khắc, song

kể từ khi tiếp xúc với văn hóa Pháp, lại chính là hội họa chứ không phải điêukhắc trở thành ngành phát triển nhất và có những thành tựu lớn nhất

Về sự phát triển của Mỹ thuật hiện đại Việt Nam, chúng tôi tạm chia làm 4 giaiđoạn như sau (các thành tố văn hóa khác của Việt Nam tuy có phát triển chênhlệch nhau đôi chút (“tân nhạc” chậm hơn “thơ mới”, “văn chương kiểu mới”,

“cải lương” (ca kịch mới) có thể xuất hiện sớm từ đầu thế kỷ - quãng thập kỷđầu - thập kỷ hai (1910-1920) song nhìn theo vĩ mô thì về cơ bản là vẫn “vầyvậy” về giao thoa văn hóa Việt - Pháp, Đông - Tây, Nam - Bắc ở thế kỷ XX)

a,Giao thoa tiền Cách mạng (trước 1945):

Mĩ thuật Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến năm 1945 nằm trong một quá trìnhchuyển biến và phân hoá quan trọng trong lịch sử cận đại Việt Nam Thế kỷ XIXvới nhà Nguyễn một triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, đã đặt đất nước

ta vào hoàn cảnh mới, sự giao tiếp với phương Tây và ảnh hưởng văn hoá TrungHoa đã tạo lập một nền nghệ thuật đa dạng mang nhiều yếu tố phức tạp bênngoài Tuy vậy, nét nghệ thuật cổ truyền vẫn được bảo lưu qua các công trìnhkiến trúc, điêu khắc, mĩ thuật dân gian

Ngày đăng: 05/04/2016, 14:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w