Trong xu thế hội nhập văn hóa giữa các tộc người sinh sống trên đất nước Việt Nam và hội nhập theo hướng toàn cầu hóa giữa Việt Nam và quốc tế giới khoa học rất cần những công trình nghi
Trang 21
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Các tư liệu được trích dẫn đúng quy định Công trình nghiên cứu này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 32
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô đã giảng dạy và hướng dẫn thực hiện đề tài khoa học này, trong thời gian tôi được đào tạo Cao học tại Trường Đại học Trà Vinh Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và Phòng Sau đại học -Trường Đại học Trà Vinh, Bảo tàng Khmer tỉnh Trà Vinh, Thư viện tỉnh Trà Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và làm luận văn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Hiến Chương đã tận tình hướng dẫn, khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn Tôi không quên cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành luận văn này
Trà Vinh, tháng 2/2017
Lâm Thị Hồng Nhủ
Trang 41.2 Khái niệm giao thoa văn hóa và quá trình giao thoa, tiếp biến văn hóa
của cộng đồng cư dân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
18
Chương 3: BIỂU HIỆN GIAO THOA VĂN HÓA VẬT THỂ GIỮA
NGƯỜI KINH, KHMER, HOA Ở TRÀ VINH
46
Chương 4: CÁC YẾU TỐ DẪN ĐẾN GIAO THOA VĂN HÓA VẬT
THỂ GIỮA NGƯỜI KINH, KHMER, HOA Ở TRÀ VINH
106
4.3 Chính sách của Nhà nước đối với các dân tộc thiểu số 111
Trang 5nổ của hệ thống thông tin đại chúng, của tin học thì sự giao thoa văn hóa vật thể giữa các dân tộc là nhu cầu cấp thiết
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Mỗi dân tộc đều có những giá trị văn hóa đặc sắc, góp phần tạo nên nền văn hóa Việt Nam vừa thống nhất, vừa đa dạng Trong quá trình khai phá vùng đất mới – vùng đất màu mỡ ở đồng bằng sông Cửu Long, chắc chắn có công sức của nhiều tộc người thuộc các ngữ hệ Nam Á, Nam Đảo Chính họ đã tạo nền tảng văn hóa dân tộc ngày nay, nhưng phải nói rằng từ thế kỉ XVII trở lại đây, khi người Việt, người Khmer, người Hoa đoàn tụ trong một đại gia đình Việt Nam thì việc phát triển về kinh tế, xã hội và văn hóa ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Trà Vinh nói riêng mới được đẩy mạnh
Trà Vinh – một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là vùng đất
tụ họp dân tứ xứ, nhưng do hoàn cảnh lịch sử, kinh tế và điều kiện tự nhiên mà ba tộc người chính: Việt, Hoa, Khmer sinh sống ở đây tự điều chỉnh, biến đổi phù hợp với sinh hoạt, cách nghĩ của mình Người Kinh chiếm 69%, người Khmer chiếm 29%, người Hoa và số ít người Chăm chiếm phần còn lại Chính bởi do nhiều thế
kỷ cộng cư với nhau trên một địa bàn nên quá trình đồng văn cũng là một quá trình phát triển xã hội vận động theo quy luật chung của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Sự giao lưu và tiếp biến văn hóa đó thể hiện rất rõ trong nhiều thành tố văn hóa dân gian của ba dân tộc Kinh- Khmer- Hoa ở Trà Vinh
Trong quá trình cộng cư này các tộc người ở Trà Vinh đã tạo thành một sức mạnh tổng hợp to lớn trong việc khắc phục và chế ngự những thiên tai địch họa,
Trang 65
xây dựng xóm làng, làm cho vùng đất này trước kia chỉ là rừng rậm hoang vu, nhiễm phèn, đầm lầy nê địa đã trở thành một vùng đất trù phú, đem lại một nguồn lợi to lớn từ thiên nhiên, đất hoang dần dần thu hẹp, xóm làng mọc lên, và đời sống kinh tế ngày càng được nâng cao
Cùng với sự phát triển của xã hội, giao lưu văn hoá các dân tộc là vấn đề có tính lịch sử không chỉ riêng gì ở Việt Nam mà còn diễn ra phổ biến ở các quốc gia, các dân tộc khác, khi nhân loại ngày càng đang tìm cách xích lại gần nhau, học hỏi lẫn nhau trong xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá cũng như là sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, đòi hỏi không riêng gì ở các nhà quản lý xã hội mà còn là trách nhiệm đặt trên đôi vai của những nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
Trong xu thế hội nhập văn hóa giữa các tộc người sinh sống trên đất nước Việt Nam và hội nhập theo hướng toàn cầu hóa giữa Việt Nam và quốc tế giới khoa học rất cần những công trình nghiên cứu trường hợp nhằm phân tích sâu từng đặc điểm cũng như các bình diện của giao lưu văn hóa tộc người trên từng địa vực cụ thể, nhất là ở Trà Vinh – một tỉnh có quá trình giao lưu văn hóa mạnh mẽ giữa 3 tộc người diễn ra mấy thế kỷ qua, đồng thời góp phần làm phong phú thêm nền lịch
sử văn hóa của dân tộc Việt Nam, vừa mang tính nhân văn vừa mang tính xã hội sâu sắc và đó cũng là một trong những hướng phát triển du lịch Việt Nam đưa văn hoá Việt Nam ra bên ngoài mà ta đã thấy Xuất phát từ những lý do nêu trên nên tác
giả quyết định chọn và đi sâu tìm hiểu về: “Giao thoa văn hóa vật thể giữa các
tộc người ở Trà Vinh làm luận văn thạc sĩ
Trang 7Trong công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước năm 1993, mã số
KX.04.12, “Luận cứ khoa học cho việc xác định chính sách đối với cộng đồng người Khmer và người Hoa ở Việt Nam” [5] do Phan Xuân Biên chủ nhiệm đã nêu ra các
chính sách đặc thù, phù hợp với những tín ngưỡng, phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số, vừa bảo tồn và phát huy những sắc thái văn hóa độc đáo của từng dân tộc, vừa đảm bảo tính thống nhất của nền văn hóa Việt Nam
Trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam, Châu Thị Hải (1996) có bài viết: “Diễn biến địa lý và lịch sử trong quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt - Hoa” [266]
đã chỉ ra những con đường mà yếu tố Trung Hoa đi vào Việt Nam Bất kể bằng con đường nào thì sự giao thoa văn hóa vẫn biểu hiện phong phú trong các lĩnh lực ăn ở, mặc, phong tuc, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, ngôn ngữ, văn tự, kiến trúc, điêu khắc, hội họa
Phạm Đức Dương, Châu Thị Hải (1998):“Bước đầu tìm hiểu sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt Hoa trong lịch sử” [17] Đề tài được sự tham gia của một số
cán bộ nghiên cứu trong và ngoài Viện, đã đề cập tới nhiều khía cạnh của vấn đề Trong đó có nhiều bài đã tập trung tìm hiểu vai trò của người Trung Hoa trong việc chuyển tải văn hóa ở Việt Nam, nêu rõ những đặc điểm của sự hội nhập văn hóa Việt – Hoa và những biểu hiện cụ thể của sự hội nhập đó trên các lĩnh vực văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật tạo hình, trong sự phát triển các ngành nghề thủ công
Huỳnh Lứa với công trình: Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thể kỉ XVII, XVIII, XIX (2000) [38] và Vũ Minh Giang (chủ biên) với công trình Lược sử
Trang 87
vùng đất Nam Bộ Việt Nam (2008) [23] đã khẳng định Nam Bộ là một bộ phận
không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam Các công trình này miêu tả khá hoàn chỉnh về cuộc sống của cộng đồng cư dân Nam Bộ và mối quan hệ đoàn kết, giao thoa văn hóa giữa các dân tộc Việt, Hoa, Khmer, Chăm cùng các dân tộc ít người khác
Đàng Năng Hòa (2001), với bài viết “Nhìn lại giao lưu văn hóa Chăm - Việt qua âm nhạc dân gian”[32], qua tìm hiểu và so sánh đã phân tích khá cụ thể những
nét tương đồng và gần gũi về âm nhạc giữa hai dân tộc
Luận văn của Trần Hạnh Minh Phương (2003), “Giao lưu văn hóa Việt- Hoa qua các cơ sở tín ngưỡng – tôn giáo của người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh” [44]
đã phân tích cụ thể những biểu hiện của văn hóa Việt qua các tín ngưỡng – tôn giáo Hoa (chùa, quán, nhà thờ, hội thánh), cũng như ảnh hưởng của giao lưu văn hóa Việt – Hoa đối với các hoạt động tại các cơ sở tín ngưỡng – tôn giáo Hoa
Năm 2011, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí
Minh đã tổ chức Hội thảo Khoa học: “Cộng đồng dân tộc Khmer trong quá trình phát triển và hội nhập”.Trong kỉ yếu này có hơn 20 bài viết của nhiều tác giả khác nhau như: Nguyễn Thanh Luân, Võ Thị Mỹ: “Người Khmer và những tương đồng văn hóa các dân tộc đồng bằng sông Cửu Long” [38], Đinh Lưu Giang: “Một số đặc điểm của song ngữ Khmer – Việt vùng Nam Bộ” [22] Các bài viết này là nguồn
tư liệu quý giá, giúp tác giả nhận diện bản sắc văn hóa riêng của từng tộc người, cũng như giao thoa và tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc
Trên tạp chí Khoa học và Công nghệ, Huỳnh Ngọc Thu (2011) có bài viết:
“Giao lưu tiếp biến văn hóa ở cộng đồng đa dân tộc (Việt, Khmer, Hoa) tại xã Bình
An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang” [62] Ở công trình này, tác giả đã phân tích
cụ thể những biểu hiện mang tính văn hóa chung của ba dân tộc được biết đến trong phương thức sản xuất nông nghiệp, nghề thủ công, buôn bán; những biểu hiện mang tính biến đổi văn hóa được biết đến qua nghi lễ vòng đời người và những biểu hiện trong văn hóa vật chất và những biểu hiện mang tính hội tụ trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng được biết đến qua các lễ hội, các yếu tố tôn giáo – tín ngưỡng và phong
Trang 9Sách: “Ăn cơm mới, nói chuyện cũ: Hậu Giang- Ba Thắc chứng tích, nhân vật đất đai, thủy thổ của miền Nam cũ” (2012) [51] của Vương Hồng Sển, cuốn sách
gồm 18 câu chuyện, đa phần được viết vào năm 1996 Qua các câu chuyện kể, chúng
ta hình dung ra được văn hóa cộng cư của các dân tộc sông tại đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có Trà Vinh
Trần Hồng Liên (2012) với công trình: “Hội nhập và Giao lưu văn hóa của người Hoa ở Việt Nam (trên lĩnh vực văn hóa, tín ngưỡng)” [33] đã làm rõ qua kiến
trúc trang trí, các thần linh được thờ tự, qua nghi lễ, lễ hội
Bùi Xuân Đính trong sách “Các tộc người ở Việt Nam” (2012) [19] đã nêu ra
những yếu tố văn hóa vật thể và văn hóa tinh thần chủ yếu của các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam một cách khái quát, riêng ở vùng Nam Bộ tập trung vào bốn tộc người Việt, Khmer, Hoa, Chăm
Trần Phỏng Điều (2012) với bài viết “Sự giao thoa ngôn ngữ giữa các dân tộc ở Nam Bộ” [18] đã làm rõ những từ mà tiếng Việt mượn có nguồn gốc Khmer,
những từ mà tiếng Việt mượn có nguồn gốc Quảng Đông, Triều Châu
Năm 2013, Võ Văn Sen trong “Nam Bộ đất và người”( tập 9) [50], đã tập
hợp các bài viết các công trình nghiên cứu của Hội viên hội Khoa học Thành phố Hồ Chí Minh và Hội Khoa học Lịch sử các tỉnh thành Nam Bộ qua đó đã làm sáng tỏ được lịch sử, văn hóa, tộc người vùng đất Nam Bộ nói chung và Trà Vinh nói riêng
Đinh Văn Liên (1985) với bài viết Giao lưu văn hóa giữa các dân tộc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long trong Mấy đặc điểm văn hóa đồng bằng sông Cửu Long
[34] đã chỉ ra được những giao lưu văn hóa của ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa trên các phương diện sinh hoạt kinh tế, văn hóa vật chất, phong tục tập quán và văn hóa tinh thần
Trang 109
Trần Minh Thuận (2013) trong “Một số biểu hiện của sự giao lưu và tiếp xúc văn hóa của cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long trong lịch sử” [56] tác giả đề cập đến quá trình giao lưu văn hóa giữa người Việt, người Khmer, người Hoa: Người Khmer đã chịu ảnh hưởng của phong tục thờ cúng tổ tiên Họ cũng đặt ly hương, chân đèn, mâm quả như người Việt, người Hoa và chưng bày bàn thờ Phật chung với bàn thờ tổ tiên Khảo sát dưới góc độ văn hóa chúng ta thấy sự tiếp xúc văn hóa giữa người Hoa và người Việt diễn ra mạnh mẽ hơn so với giữa người Việt và người Khmer
Lê Thị Bé Hằng (2013) trong công trình “Giao lưu văn hóa Việt- Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (1975 -2000)” [30] nghiên cứu các khía cạnh về
biểu hiện của sự giao lưu văn hóa từ lịch sử tụ cư và cộng cư cũng như đặc điểm cư trú, cơ sở kinh tế - xã hội của hai tộc người Việt và Khmer, đồng thời đi sâu tìm hiểu
và làm sáng tỏ về nét văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của hai tộc người này Qua đó, so sánh, đối chiếu những đặc trưng văn hóa tìm ra những nét tương đồng về giao lưu văn hóa người Việt – Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Năm 2014, ba luận văn: Phan Văn Giàu: “Nghi lễ vòng đời của người Khmer Vĩnh Long” [24], Võ Hải Minh: “Văn hóa ẩm thực của người Khmer Nam Bộ (trường hợp tỉnh Vĩnh Long)” [40], Hồ Văn Minh: “Lễ cưới người Khmer Vĩnh Long” [41] Ba luận văn trên đã nêu chi tiết tính chất giao lưu và những biến đổi các
thành tố văn hóa như nghi lễ vòng đời người, ẩm thực, cũng như lễ cưới người Khmer Vĩnh Long Trên cơ sở đó giúp tác giả có hướng nghiên cứu sâu hơn về giao thoa và biến đổi văn hóa giữa hai tộc người Việt – Khmer
Gần đây nhất (2015) luận văn thạc sĩ của Sơn Quan: “Giao lưu văn hóa Việt – Khmer ở huyện Vũng Liêm, tỉnh Sóc Trăng” [48] và luận văn thạc sĩ của Trương
Tú Nhân: “Giao lưu văn hóa Việt – Hoa- Khmer tại phường Vĩnh phước, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng” [44] Hai công trình đã tập trung nghiên cứu sự giao lưu và
biến đổi văn hóa trên lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể như kiến trúc, trang phục, ẩm thực,…tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục giữa hai dân tộc người Việt và người Khmer ở huyện Vũng Liêm, tỉnh Sóc Trăng
Trang 1110
Từ những phân tích trên cho thấy vấn đề giao thoa, tiếp biến văn hóa giữa các tộc người ở Việt Nam đã được các nhà khoa học đào sâu nghiên cứu từ rất lâu Tuy nhiên, theo tác giả nhận thấy, ở đồng bằng sông Cửu Long việc nghiên cứu khía cạnh giao lưu tiếp biến văn hóa (đặc biệt là văn hóa vật thể) dưới tác động của
đô thị hóa chưa được nghiên cứu sâu đối với từng thành tố văn hóa, mà nghiên cứu mang tính tổng thể chung, nhất là đối với Trà Vinh, một tỉnh đang trên chặng đường mới của văn minh đô thị
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu tìm hiểu trong phạm vi tỉnh Trà Vinh, giới hạn trong khoảng thời gian từ 1986 đến nay Vì tỉnh này là nơi tụ cư lâu đời của đông đảo cộng đồng người Việt cũng như người Khmer, Hoa Bên cạnh đó với việc tìm hiểu văn hóa người Việt, Khmer, Hoa từ năm 1986 – nay, đây là giai đoạn có những dấu ấn cũng như những biểu hiện rất rõ nét trong sự giao thoa văn hóa vật thể, góp phần làm phong phú thêm lịch sử văn hóa Việt Nam
Luận văn tìm hiểu một số vấn đề lý luận về giao lưu văn hóa, trong phần này tác giả sẽ nêu một số khái niệm liên quan về giao thoa văn hóa như: khái niệm văn hóa, giao thoa văn hóa, dân tộc và tộc người Để thấy được giao thoa văn hóa luôn
có tính qui luật, là một tất yếu trong sự phát triển văn hóa dân tộc, là hiện tượng phổ biến của lịch sử văn hóa nhân loại Cũng như làm rõ một số vấn đề thực tiễn về tổng quan tỉnh Trà Vinh, quá trình cộng cư của các dân tộc ở Trà Vinh
Luận văn còn đi sâu tìm hiểu và làm sáng tỏ về nét văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của các tộc người này Qua đó, so sánh, đối chiếu những đặc trưng văn hóa tìm ra những nét giao thoa văn hóa vật thể người Việt, Khmer, Hoa ở Trà Vinh
Tuy nhiên, việc phát huy tính thống nhất và tính đa dạng là hai yêu cầu bắt buộc trong sự phát triển của nền văn hóa nước ta Tính đa dạng yêu cầu phải bảo tồn, khai thác và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc, tôn trọng những sắc thái riêng trong văn hóa các dân tộc Nhưng tính đa dạng phải được đặt trong mối quan hệ với tính thống nhất, tính thống nhất được thể hiện ở những
Trang 1211
giá trị chung giữa các dân tộc
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và công bố các kết quả nghiên cứu, chúng tôi đã
tiếp cận lý thuyết về giao thoa và tiếp biến văn hóa để vận dụng vào việc nghiên
cứu mối quan hệ văn hóa giữa các tộc người ở Trà Vinh Đồng thời, chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp lịch sử: được vận dụng làm rõ những sự kiện lịch sử cụ thể
phản ánh những giá trị văn hóa của các tộc người Khmer, Hoa từ thế kỉ XIX cho đến nay sao cho đúng những gì nó đã diễn ra và tồn tại theo một thời gian xác định
Phương pháp quan sát tham dự: tiến hành thăm dò, rà soát, quan sát và ghi
nhận về sự giao thoa và biến đổi các thành tố văn hóa có liên quan đến nội dung khảo sát của luận văn ở địa bàn tỉnh Trà Vinh
Phương pháp hệ thống cấu trúc: nhằm thiết lập một hệ thống cấu trúc cho
chuyên đề dựa trên nguồn dữ liệu liên quan với những đặc điểm văn hóa tộc người, văn hóa thương mại và giao lưu tiếp biến văn hóa tại Trà Vinh
Phương pháp phân tích tư liệu: phân tích nhiều nguồn tư liệu khác nhau để
tìm hiểu về lịch sử vấn đề nghiên cứu và tìm ra những hướng mới trong nghiên cứu giao thoa văn hóa giữa các tộc người ở Trà Vinh
Phương pháp điền dã dân tộc học: quan sát thực địa, ghi chép sưu tầm tư
liệu tại các huyện ở tỉnh Trà Vinh, phỏng vấn nhóm dân cư địa phương, phỏng vấn các chuyên gia để bổ sung thêm tư liệu nghiên cứu
Phương pháp so sánh: qua những tư liệu thu thập được, tác giả dùng phương
pháp so sánh, đối chiếu để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt về văn hóa truyền thống giữa các tộc người và những biến đổi văn hóa giữa các tộc người này trong tiến trình công nghiệp hóa ở tỉnh Trà Vinh
Bên cạnh đó, luận văn ít nhiều sử dụng các phương pháp liên ngành như văn hóa học với nhân học, xã hội học, dân tộc học, đồng thời tác giả cũng đã tìm hiểu và vận dụng khai thác đối chiếu trong một số khái niệm để làm rõ nội dung đề tài
Trang 1312
Trong quá trình nghiên cứu trong chúng sử dụng linh hoạt các phương pháp trên, tùy mục đích cụ thể mà sẽ ưu tiên sử dụng phương pháp nào cho phù hợp
5 Đóng góp của luận văn
Dân tộc Khmer, Hoa là 2 trong 54 dân tộc ở nước ta có nền văn hóa đặc sắc, thể hiện trên nhiều lĩnh vực Đặc biệt văn hóa Khmer hòa quyện chặt chẽ với tôn giáo (Phật giáo tiểu thừa), và chính điều đó làm ảnh hưởng sâu rộng tới toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của người dân Việt Nam Người Khmer, Hoa Trà Vinh đã
có những đóng góp nhất định vào kho tàng văn hóa chung của người Việt – đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Trà Vinh nói riêng, những sắc thái được tiếp nhận làm phong phú thêm nét bản sắc văn hóa người Việt Đồng thời, người Khmer, Hoa cũng tự tiếp nhận vào nền văn hóa của mình không ít yếu tố văn hóa của người Việt, kiến trúc, loại hình cư trú, ẩm thực,
Những giá trị văn hóa do dân tộc Khmer, Hoa cũng như những giá trị văn hóa vật thể của người Việt ở Trà Vinh đã sáng tạo ra trong quá trình lịch sử vô cùng
đa dạng và phong phú, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể đã thể hiện những bản sắc riêng trong mỗi nền văn hóa của mỗi dân tộc, những bản sắc văn hóa riêng ấy được hòa quyện vào nhau tạo nên sư giao lưu, tiếp biến và giao lưu trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc, đã làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc
Nghiên cứu về giao thoa văn hóa vật thể giữa các tộc người ở Trà Vinh từ năm 1986 đến giai đoạn hiện nay, ngoài việc thể hiện ý thức giữ gìn những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, bản thân còn có thêm nhiều nhận thức mới về những nét mới trong văn hóa của các dân tộc Việt Nam mà điển hình là ở Trà Vinh Luận văn còn cung cấp kiến thức bao quát, bổ ích về lĩnh vực văn hóa dân tộc và ít nhiều giúp cho công tác giảng dạy ở trường Phổ thông được tốt hơn
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được cấu trúc với bốn chương cụ thể như sau:
Chương 1: Lý luận về giao thoa văn hóa: Trình bày một số vấn đề lý luận
chung về khái niệm văn hóa, giao thoa văn hóa, dân tộc và tộc người; một số vấn đề
Trang 1413
thực tiễn về tổng quan tỉnh Trà Vinh, quá trình cộng cư của các dân tộc ở Trà Vinh
Chương II: Khái quát về tỉnh Trà Vinh: Trình bày một số vấn đề thực tiễn
về tổng quan tỉnh Trà Vinh, quá trình cộng cư của các dân tộc ở Trà Vinh
Chương 3: Biểu hiện giao thoa văn hóa vật thể giữa người Kinh Khmer, Hoa ở Trà Vinh: Phân tích những những biểu hiện giao thoa văn hóa vật thể như
kiến trúc, loại hình cư trú, ẩm thực
Chương 4: Những yếu tố tác động đến giao thoa văn hóa vật thể giữa các tộc người ở Trà Vinh: Phân tích cội nguồn lịch sử văn hóa, quá trình cộng cư lâu dài, quan hệ hôn nhân, chính sách của Nhà nước đối với các dân tộc thiểu số
Trang 1514
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ GIAO THOA VĂN HÓA 1.1 Khái niệm văn hóa
Khái niệm văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều nét nghĩa
và cách hiểu khác nhau.Tùy theo lĩnh vực nghiên cứu các nhà khoa học có những góc nhìn về văn hóa ở từng lĩnh vực khác nhau trong cách định nghĩa về văn hóa theo hai nét nghĩa: nghĩa rộng hay nghĩa hẹp
1.1.1 Văn hóa theo nghĩa rộng
Trong các định nghĩa khác nhau về văn hóa theo nghĩa rộng, các nhà khoa học gặp nhau ở những điểm chung khái quát nhất đó là xem văn hóa là sản phẩm của con người sáng tạo ra trong quá trình lao động và hoạt động thực tiễn trong cuộc sống
Nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 – 1917) trong
công trình nghiên cứu – Văn hóa học là gì ? đã định nghĩa: Văn hóa là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất
cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội [76] Theo định nghĩa này văn hóa là những gì mà văn hóa
Nhà xã hội học người Mỹ William Isaac Thomas (1863 - 1947), định nghĩa
văn hóa qua các quan niệm về giá trị, coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử, ) [63]
Nhà tâm lý học người Mỹ William Graham Sumner (1840 - 1910), nhấn
mạnh văn hóa ở quá trình thích nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành
thói quen, lối ứng xử của con người Theo ông: Văn hóa là tổng thể những thích
Trang 1615
nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa.[73]
Nhìn chung những điểm khái quát về văn hóa của các nhà khoa học trên có
sự đồng nhất với khái niệm về văn hóa của Trần Ngọc Thêm, trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.[52]
1.1.2 Văn hóa theo nghĩa hẹp
Theo Trần Ngọc Thêm trong Khái luận về văn hóa [54], văn hóa theo nghĩa
hẹp được hạn định ở các phương diện về chiều sâu hoặc chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian,…
- Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…)
- Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…)
- Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…)
- Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)
Nói chung văn hóa theo nghĩa hẹp là cái mà con người học được chứ không phải kế thừa về mặt sinh học Về phương diện này trong cách hiểu nôm na của tiếng Việt văn hóa có các nghĩa như sau:
- Là trình độ học vấn của mỗi người Trình văn hóa lớp 10/10 hay 10/ 12,…
- Là trình độ ứng xử giữa con người với con người (phép lịch sự) Ví dụ: ăn nói có văn hóa, ăn mặc có văn hóa
Tóm lại, văn hóa là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trên cái nền của thế giới tự nhiên và phát triển trong mối quan hệ tương
Trang 1716
tác giữa con người với con người trong xã hội Và cũng chính văn hóa đã tạo nên phần NGƯỜI của CON NGƯỜI để duy trì sự bền vững của xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà con người tạo ra
1.1.3 Văn hóa hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
Sản phẩm của con người bao gồm hai giá trị đó giá trị vật chất và giá trị tinh thần.Vì vậy, văn hoá theo nghĩa rộng gồm cả văn hoá vật chất (văn hóa vật thể) và văn hóa tinh thần (văn hóa phi vật chất hay văn hóa phi vật thể) Trong luận văn này, người viết thống nhất gọi văn hóa vật chất là văn hóa vật thể và văn hóa tinh thần là văn hóa phi vật thể
1.1.3.1 Văn hóa vật thể
Văn hóa vật thể là một bộ phận của văn hóa nhân loại, thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất; là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và thẫm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người Chính vì vậy thuộc tính bản chất của văn hóa thể hiện trước hết là ở tính thực tiễn
Vật chất tồn tại trong thế giới tự nhiên đơn thuần chỉ là sản phẩm của tự nhiên Nhưng khi được con người sử dụng vật chất đó để phục vụ cho nhu cầu của đời sống thì vật chất đó trở thành sản phẩm của con người hay sản phẩm văn hóa Một hòn đá ngoài tự nhiên là sản phẩm của tự nhiên Nhưng nếu được con người biết tận dụng những công năng từ những hình thù riêng biệt của hòn đá để phục vụ cho nhu cầu sinh tồn của mình như sử dụng mặt vát nhẵn bóng để nghiền thức ăn, mặt sắc, nhọn để làm dao cắt, làm rìu, làm cuốc thì hòn đá đó trở thành sản phẩm của văn hóa
Như vậy sản phẩm của văn hóa là những sản phẩm do ý chí của loài người chế ngự tự nhiên hoặc bộ máy hoạt động của loài người điều khiển giới tự nhiên
Trang 18Tóm lại, văn hóa vật thể là toàn bộ sản phẩm vật chất mà con người tạo ra trong quá trình lao động sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất ăn, mặc, ở, đi lại, công cụ sản xuất, phương tiện sản xuất… văn hóa vật thể nói lên trình độ phát triển của con người trong lĩnh vực sản xuất vật chất, thể hiện trình độ chiếm lĩnh và khai thác những vật thể trong tự nhiên
Thông qua việc nghiên cứu về những giá trị văn hóa vật thể của một cộng đồng dân tộc, một quốc gia cụ thể người ta thấy được trình độ phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội,…của một cộng đồng dân tộc, một quốc gia cụ thể
1.1.3.2 Văn hoá phi vật thể
Văn hóa phi vật thể là tổng thể các giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người Văn hóa tinh thần là những ý niệm,
tư tưởng, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, giá trị chuẩn mực đạo đức, lối sống, ngôn ngữ, nghệ thuật, lễ hội,
Lĩnh vực văn hóa phi vật thể gồm các thành tố: văn hóa tư tưởng, văn hóa giáo dục, văn hóa nghệ thuật, văn hóa lối sống, văn hóa lễ hội… Những thành tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành nền tảng tinh thần xã hội
Văn hóa tinh thần tồn tại trong trí nhớ, tư tưởng, chữ viết, các loại hình nghệ thuật như văn học, âm nhạc, sân khấu,… qua truyền miệng, chữ viết, quá trình diễn xướng dân gian, Giá trị văn hóa tinh thần tạo nên một hệ thống chi phối bởi trình
độ nhận thức của từng cá nhân trong cộng đồng
Sự phân chia văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần mang tính quy ước, bởi trong đời sống không có cái gì là thuần túy Vật chất hoặc Tinh thần
Căn cứ vào mức độ mục đích sử dụng vật chất hay phi vật chất của đối tượng
Trang 1918
văn hóa để phân biệt đối tượng đó thuộc về văn hóa vật thể hay văn hóa phi vật thể Những sản phẩm làm ra trước hết để phục vụ cho các nhu cầu vật chất như: ăn, mặc, ở,… thì dù có giá trị nghệ thuật cao đến mức độ nào vẫn thuộc dạng văn hóa vật thể Những sản phẩm làm ra trước hết để phục vụ cho các nhu cầu tinh thần dù
có được vật chất hóa chúng vẫn thuộc dạng văn hoá phi vật thể Ví dụ, một tác phẩm văn học được in thành sách, một pho tượng, một bức tranh,… dùng để trang trí trong phòng khách thì vẫn mang giá trị tinh thần hơn là giá trị vật chất
Căn cứ vào hình thức lao động tạo ra sản phẩm xã hội thì người ta xếp hoạt động sản xuất vật chất vào dạng văn hóa vật chất Hình thức lao động này phải sử dụng nhiều năng lực cơ bắp, mồ hôi… còn hoạt động sản xuất tinh thần được xếp vào văn hóa tinh thần Hình thức lao động này chủ yếu sử dụng năng lực trí tuệ
Hai thành phần văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể có mối quan hệ mật thiết với nhau
1.2 Khái niệm giao thoa văn hóa
Nền văn hoá của bất cứ dân tộc nào, trong bất cứ thời kỳ lịch sử nào cũng đồng thời có sự kế thừa, sử dụng những di sản của quá khứ và sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới trên cơ sở ý thức hệ tư tưởng của một hình thái xã hội nhất định (công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến,…), một thời kỳ lịch sử nhất định Chính vì vậy mà văn hóa bao giờ cũng mang dấu ấn của lịch sử xã hội
Văn hóa luôn có sự vận động, phát triển cùng với sự biến đổi của điều kiện
tự nhiên và sự phát triển của xã hội loài người Điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội là điều kiện lao động, sản xuất và sinh tồn của con người Con người muốn tồn tại trong thế giới tự nhiên và xã hội luôn biến động buộc con người phải có sự thay đổi cách sống, cách làm việc, cách suy nghĩ,… để thích ứng
Trong quá trình vận động và phát triển của văn hóa có những yếu tố mới của
tự nhiên và xã hội tác động đến con người Ban đầu, con người khó có thể thích ứng
và hòa nhập đôi khi dẫn đến mâu thuẫn, xung đột gay gắt về giá trị vật chất và tinh thần của cái cũ và cái mới, cái truyền thống và cái hiện đại, giữa văn hóa tộc người này với văn hóa tộc người khác, giữa nền văn hóa này với nền văn hóa khác,…
Trang 2019
Nhưng con người sau đó biết chấp nhận sự tồn tại của cái riêng biệt, cái khác biệt của những giá trị văn hóa mới, của văn hóa tộc người này với văn hóa tộc người khác, của nền văn hóa này với nền văn hóa khác Từ việc biết chấp nhận sự tồn tại hiển nhiên những giá trị văn hóa mới dẫn đến hiện tượng một cá nhân, một bộ phận hay toàn thể tộc người này tiếp nhận, hòa hợp với những giá trị văn hóa khác biệt của tộc người khác để tạo ra một lối sống văn hóa mới Lối sống văn hóa mới này làm cho giá trị văn hóa truyền thống của tộc người có sự pha trộn không còn thuần chất dân tộc nhưng đâu đó vẫn còn giữ được những bản sắc văn hóa riêng biệt của dân tộc của họ Chính những bản sắc riêng biệt còn lưu giữ này đã làm cho tộc người này có sự khác biệt với tộc người khác trên cùng một địa bàn cư trú mà không làm cho dân tộc đó mất đi Nghĩa là họ hòa nhập nhưng không hòa tan Lối sống hòa nhập văn hóa của tộc người này với lối sống văn hóa của tộc người khác
và ngược lại tạo ra một lối sống văn hóa mới của một tộc người góp phần làm cho văn hóa tộc người trở nên phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc Đồng thời sự hòa nhập lối sống văn hóa của các tộc người trên cùng một địa bàn cư trú cũng tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng của cộng đồng cư dân vùng miền ấy
Lối sống văn hóa tộc người này có sự tương tác với lối sống văn hóa của tộc người khác hoặc sự tương tác hòa hợp của lối sống văn hóa của cộng đồng cư dân sống trong cùng địa bàn cư trú lẫn nhau tạo ra lối sống văn hóa mới khác biệt với văn hóa truyền thống của một tộc người cụ thể, tạo ra một lối sống văn hóa đặc trưng riêng biệt của một cộng đồng cư dân cụ thể Lối sống văn hóa mới này chính
là sản phẩm của quá trình giao thoa văn hóa
Như vậy, giao thoa văn hóa là sự tương tác giữa các nền văn hóa (văn hóa phương Đông, phương Tây,…), giữa các tộc người cùng sinh sống trong một quốc gia (người Kinh, Khmer, Hoa, Mường, Tày,…), giữa những người cùng nhóm xã hội (giữa giáo viên với giáo viên), giữa các nhóm xã hội khác nhau (tương tác giữa một doanh nhân và một bác sĩ,…), giữa cá nhân người này với người khác trong cùng vùng, miền, địa phương,… hoặc khác vùng miền, địa phương hay lãnh thổ quốc gia,
Trang 2120
Nhìn chung khái niệm giao thoa văn hóa được hiểu theo hai nghĩa rộng, hẹp Nghĩa rộng: giao thoa văn hóa là quá trình tiếp xúc văn hóa ít nhất giữa hai tộc người Nghĩa hẹp: giao thoa văn hóa là hiện tượng ảnh hưởng của một nền văn hóa này đến một nền văn hóa khác, Quá trình tương tác, giao lưu văn hóa xảy ra hiện tượng những yếu tố của nền văn hóa này xâm nhập vào nền văn hóa kia (tiếp thu thụ động); hoặc nền văn hóa này vay mượn những yếu tố của nền văn hóa kia tiếp thu chủ động ); rồi trên cơ sở những yếu tố nội sinh và ngoại sinh mà điều chỉnh, cải biên cho phù hợp, gây ra sự giao thoa văn hóa
Giao thoa văn hóa chính là sản phẩm của quá trình giao lưu - tiếp biến văn hoá, là một hiện tượng thường xuyên xảy ra trong lịch sử nhân loại đối với bất cứ cộng đồng và quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển, quá trình này diễn ra từ quy
mô nhỏ giữa các tộc người khác nhau trên cùng một lãnh thổ quốc gia dân tộc cho đến giữa các quốc gia khác nhau trên thế giới Sự giao lưu đã tạo điều kiện cho việc tiếp nhận những giá trị mới, trước hết là văn minh vật chất, những giá trị cũ, lạc hậu dần dần bị mất đi, những nhân tố mới tích cực, theo hướng phát triển được hình thành Giao thoa văn hoá là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc và của toàn nhân loại
Trong quá trình tiếp biến và giao thoa văn hóa, dù bị áp đặt hay tự nguyện, văn hóa Việt Nam nói chung cũng như văn hóa cư dân người Việt ở tỉnh Trà Vinh không những giữ được bản sắc văn hóa của mình mà còn trở nên giàu đẹp thêm nhờ biết tiếp thu và cải biến thành của mình(Việt hóa) nhiều yếu tố mới từ bên ngoài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước qua các giai đoạn lịch
sử, đồng thời cũng phù hợp với hệ giá trị tinh thần cốt lõi của văn hóa dân tộc
1.3 Dân tộc và tộc người
1.3.1 Dân tộc
Trong Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, xuất bản năm 1998, nghĩa
của từ “dân tộc” bao hàm hai nét nghĩa sau:
Theo nghĩa rộng, dân tộc là cộng đồng người hình thành trong lịch sử có
Trang 2221
chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng
văn hóa và tính cách Dân tộc Việt Nam, dân tộc Nga,dân tộc Pháp,… Với hai nội hàm nghĩa như trên cho thấy với khái niệm dân tộc ở cấp độ quốc gia (Nation) được dùng để chỉ Dân tộc Việt Nam (tất cả những người là công dân Việt Nam, sinh sống
trên đất Việt Nam và Việt kiều ở nước ngoài)
Theo nghĩa hẹp, dân tộc là tên gọi chung những cộng đồng người cùng
chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử
từ sau bộ lạc Việt Nam là một nước có nhiều dân tộc Đoàn kết các dân tộc để cứu nước Cán bộ người dân tộc,… Với nghĩa này, dân tộc được dùng để chỉ các cộng đồng tộc người cụ thể (Ethnic) như dân tộc Việt (Kinh), dân tộc Chăm, dân tộc Hoa, dân tộc Ba Na, dân tộc Thái,
Như vậy, dân tộc Việt Nam bao gồm nhiều tộc người khác nhau liên kết lại, hay nói đúng hơn, dân tộc Việt Nam là khối đại đoàn kết của 54 dân tộc anh em
đang sinh sống hòa hợp, cùng nhau xây dựng, tồn tại, phát triển trong khối thống nhất, đa dạng, đậm đà bản sắc Việt Các thành phần dân tộc sống trên địa bàn tỉnh Trà Vinh là một bộ phận của khối đại đoàn kết đó
1.3.2.Tộc người
Theo Phan Hữu Dật: Tộc người là cộng đồng người hình thành trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, cùng có chung những đặc điểm tương đối bền vững về ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, ý thức sự thống nhất của mình và làm cho mình khác với các tộc người khác, thông qua tên tự gọi [14]
Theo nghĩa rộng tộc người là một cộng đồng người hình thành trong lịch sử
Như vậy yếu tố cộng đồng người phải được xem xét ở góc độ nhân chủng học Đây
là yếu tố nền tảng của việc xác định nguồn gốc tộc người Căn cứ vào yếu tố này chúng ta có thể xác định được các tộc người được sinh ra từ những bộ phận chủng tộc nào, nguồn gốc tổ tiên của họ ở đâu và nhận biết qua hình thái đặc trưng bên ngoài về vóc dáng, màu da, tóc, mũi, môi,… để xác định chủng tộc đó là chủng tộc nào
Tộc người theo nghĩa hẹp là: cộng đồng người cùng có chung những đặc
Trang 2322
điểm tương đối bền vững về ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, ý thức sự thống nhất của mình và làm cho mình khác với các tộc người khác, thông qua tên tự gọi
Xét về yếu tố ngôn ngữ, tộc người có thể được hiểu là một cộng đồng người
có chung tiếng mẹ đẻ Như vậy, tộc người tương đương với nhóm ngôn ngữ như vậy mỗi tộc người có riêng một thứ ngôn ngữ để giao tiếp Chữ viết, tiếng nói là một tiêu chí quan trọng để xác định thành phần tộc người Ngôn ngữ là tài sản chung của tộc người, là phương tiện chuyển tải nền văn hoá của tộc người
Xét về mặt văn hóa, tâm lý, ý thức trong sự thống nhất của cộng đồng tộc
người trong bản thân cá nhân tộc người đã làm cho cộng đồng mỗi tộc người có sự
khác biệt với các cộng đồng tộc người khác Mỗi tộc người trong quá trình sinh tồn
đều sáng tạo ra cho mình những giá trị riêng để phù hợp với điều kiện tự nhiên và
xã hội Trong quá trình lịch sử, giá trị ấy dần trở thành những truyền thống văn hoá riêng cho dân tộc mình, trở thành tập quán, nếp sống, bản sắc độc đáo riêng của mỗi dân tộc Văn hoá tộc người được hình thành và phát triển trong mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, chính sự tác động qua lại giữa con người với tự nhiên, tự nhiên với con người, con người với con người trong cộng đồng tộc người
là cái gốc của văn hóa tộc người [43, tr.33], điều đó tạo nên sự khác biệt về văn hóa giữa tộc người này với tộc người khác Chính vì vậy tâm lý, ý thức tự giác tộc người thống nhất hình thành nên giá trị văn hóa của một tộc người đây chính là yếu tố cốt lõi để định danh một tộc người
Cũng xét về mặt tiêu chí trên để xác định để xác định tộc người còn cho thấy, cùng một tộc người cư trú trên nhiều địa bàn, lãnh thổ khác nhau thì bản sắc văn hóa của tộc người đó cũng có những sự khác biệt Ví dụ, tộc người Khmer Trà Vinh
có những nét văn hóa khác biệt đôi chút với tộc người Khmer An giang; tộc người Khmer Nam bộ có những nét văn hóa khác biệt so với tộc người Khmer Campuchia,…
Từ khái niệm về tộc người được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp cho ta cách
hiểu về tộc người như sau:
Tộc người là các khái niệm có tính lịch sử, bởi thế mỗi giai đoạn cụ thể có
Trang 2423
thể nó sẽ được nhận thức thay đổi khác nhau
Về nhân chủng học, một tộc người có thể không thuần chủng về chủng tộc
do quá trình lai phối giữa chủng tộc này với chủng tộc khác, giữa tộc người này với tộc người khác Một chủng tộc người cư trú trên nhiều địa bàn khác nhau về môi trường tự nhiên, môi trường xã hội phát sinh ra nhiều tộc người khác nhau do chính
sự thích nghi tạo nên sự khác biệt về văn hóa tộc người Một tộc người cư trú trên nhiều địa bàn cư trú khác nhau sẽ có những bản sắc văn hóa khác nhau
Trên thể giới có khoảng 3000 tộc người (ước tính) và trên 200 quốc gia Vì thế xét về mặt quốc gia và vùng lãnh thổ, một tộc người có thể cư trú trên nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ Một quốc gia, vùng lãnh thổ có nhiều tộc người cư trú Ví
dụ, tộc người Việt (Việt kiều) hiện cư trú trên nhiều quốc gia trên thế giới ; trong khi đó trên đất chúng ta có rất nhiều tộc người Thái, người Hoa, người Khmer,… sinh sống
Về ngôn ngữ - tiếng nói, ngôn ngữ - tiếng nói của một tộc người có thể bị mai một và mất đi, thay vào đó một tộc người có thể vay mượn ngôn ngữ, tiếng nói của một hay nhiều hơn ngôn ngữ, tiếng nói của tộc người khác do nhu cầu giao tiếp mang tính phổ thông chi phối (một bộ phận kiều bào của ta đang sống ở nước ngoài mất dần tiếng mẹ đẻ) Một tộc người đánh mất ngôn ngữ, tiếng nói vô hình chung đánh mất văn hóa tộc người dần dần có thể tộc người này bị đồng hóa và tự thân biến mất và trở thành một tộc người khác không rõ định danh Trên thực tế đã từng
có hiện tượng này mà cụ thể là một số tộc người ở Trung Quốc do bị Hán hóa
Xét về mặt pháp lý, mỗi một tộc người cư trú trên một quốc gia đều có quyền bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội như nhau và có trách nhiệm nghĩa vụ với tư cách là công dân của quốc gia đó
Xét về ý thức tộc người, ý thức tộc người bao hàm sự tự khẳng định của cộng đồng qua quá trình lịch sử gồm cộng đồng kí ức, cộng đồng hiện tại và cả cộng đồng tương lai với những giá trị chính trị, đạo đức cùng khát vọng về sự phát triển
Ý thức tộc người vừa hòa nhập tự nhiên vào đời sống tinh thần của cộng đồng vừa
có khả năng tạo ra khoảng cách để xác lập đời sống riêng của tộc người Ý thức tộc
Trang 2524
người, do vậy, là sản phẩm văn hoá đồng thời là điểm xuất phát của sáng tạo và gìn giữ văn hoá tộc người Ý thức tộc người là nhân tố trực tiếp làm nên tinh thần, cốt cách của dân tộc Đây là những yếu tố cơ bản dùng để xác định bản sắc văn hóa của tộc người
Trong quá trình vận động, các tộc người luôn có ý thức xây dựng, phát triển đồng thời giữ gìn, bảo vệ nhà nước, dân tộc, kinh tế, văn hóa của cộng đồng mình
Đó cũng chính là quá trình giữ gìn bản sắc của một hoặc nhiều cộng đồng tộc người
mà đại thể là tinh thần dân tộc Thực tế cho thấy, việc giữ gìn tộc người trước hết là giữ gìn tộc danh và ý thức về tộc người Tức là những yếu tố thuộc lĩnh vực văn hoá, dân tộc chứ chưa phải lĩnh vực nhà nước
Các tộc người được phân bố xen kẽ với nhau trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, tộc người chiếm đa số về số lượng thường giữ vai trò chủ thể của nền văn hóa
Trang 2625
CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH TRÀ VINH 2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý và các đơn vị hành chính
Vị trí địa lý
Tỉnh Trà Vinh nằm ở hạ lưu sông Mê Kông là tỉnh duyên hải đồng bằng sông Cửu Long, giữa hai nhánh là sông Cổ Chiên (thuộc sông Tiền) và Định An (sông Hậu), có hệ tọa độ địa lí từ 9030’07’’ đến 10005’20’’ vĩ độ Bắc và từ 105059’21’’ đến 106035’ kinh độ Đông Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Bến Tre (ranh giới là sông Cổ Chiên) Phía tây và tây bắc giáp tỉnh Vĩnh Long; phía tây và tây nam giáp tỉnh Sóc Trăng (ranh giới là sông Hậu); phía đông và đông nam giáp biển Đông
Nhìn tổng thể, tỉnh Trà Vinh như một dải cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu Đây được xem như 2 mạch dẫn cho cả hệ thống sông, rạch, kênh đào, giúp chúng lưu thông, tuần hoàn Với hệ thống sông rạch chằng chịt, tỉnh Trà Vinh có mạng lưới giao thông đường thủy nối liền các địa phương trong tỉnh và các nơi khác, tưới tiêu ruộng đồng, phục vụ nông nghiệp, cung cấp nguồn thủy sản trên sông và nguồn phù sa vô tận, cân bằng sinh thái, là một tiềm năng lớn của tỉnh
Các dơn vị hành chính
Trung tâm tỉnh lỵ là Thành phố Trà Vinh, nằm trên Quốc lộ 53, cách Thành phố Hồ Chí Minh gần 200 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km Ngoài tỉnh lỵ Thành phố Trà Vinh còn gồm các huyện: Càng Long, Châu Thành, Tiểu Cần, Cầu
Kè, Trà Cú, Cầu Ngang, Duyên Hải Diện tích tự nhiên 2.341 km2
2.1.2 Địa hình và khí hậu
Địa hình
Địa hình Trà Vinh mang tính chất của địa hình đồng bằng châu thổ ven biển, chịu ảnh hưởng bởi tác động giao thoa giữa sông và biển Trà Vinh có 65 km bờ biển đã hình thành nên vùng đất Trà Vinh gồm vùng đất châu thổ lâu đời, bên cạnh vùng đất trẻ mới bồi đắp do phù sa của hệ thống sông Cửu Long, có hàng trăm gò, giồng cát và mạng lưới sông ngòi chằng chịt Độ cao trung bình từ 1 đến 3m, trong
Trang 2726
đó đại bộ phận có độ cao từ 0,4 - 1,0m (chiếm 60% diện tích toàn tỉnh)
Nhìn chung trong toàn tỉnh, các huyện phía bắc có địa hình bằng phẳng hơn
so với các huyện phía Nam Dọc theo hai bờ sông thường có địa hình cao và thấp dần về phía nội đồng Khu vực có địa hình cao nhất (hơn 4m) gồm các giồng cát phân bố ở Nhị Trường, Long Sơn (huyện Cầu Ngang), Ngọc Biên (Trà Cú), Long Hữu (Duyên Hải) Khu vực có địa hình thấp dần (0,4m) tập trung tại các cánh đồng trũng thuộc các xã Tập Sơn, Ngãi Xuyên, Ngọc Biên (Trà Cú), Thanh Mĩ (Châu Thành), Mĩ Hòa, Mĩ Long, Hiệp Mĩ (Cầu Ngang), Long Vĩnh (Duyên Hải)
Lượng mưa trung bình trong năm ở Trà Vinh đạt 1403mm Trong cả tỉnh, lượng mưa giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Khí hậu của Trà Vinh có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa tập trung trong mùa mưa tới 85,6% tổng lượng mưa cả năm Các tháng mùa khô đều ít mưa, đặc biệt tháng 1 và tháng 2 rất ít mưa, lượng mưa dưới 20mm/tháng
2.1.3 Tài nguyên
Đất đai
Tỉnh Trà Vinh có những nhóm đất chính sau:
- Đất cát giồng: phân bố tại các giồng cát ven biển
- Đất phù sa bao gồm: đất phù sa phát triển trên chân giồng cát, đất phù sa không nhiễm mặn, đất phù sa nhiễm mặn
- Đất phèn gồm có các loại: đất phèn không nhiễm mặn, đất phèn nhiễm mặn trung bình, đất phèn nhiễm mặn nhiều
Trang 2827
Sinh vật
Ven biển Trà Vinh có các khu rừng ngập mặn với các loài như: mắm, đước, bần, sú, vẹt Rừng tập trung ở các huyện Duyên Hải, Cầu Ngang, Trà Cú, Châu Thành Ngoài ra còn có các dải dừa nước ven sông, rạch Ở các vùng hoang hóa có các loài lăn, lác, bàng
Rừng ngập mặn Trà Vinh là môi trường sinh sống của một số loài động vật như ong, chim, thú, bò sát, lưỡng cư như khỉ, chồn, trăn, rắn, rùa…
Biển Trà Vinh có nhiều tôm cá và các loài thủy sản khác Sản lượng thủy sản hằng năm khoảng 1,2 triệu tấn
Khoáng sản
Nằm ở phần cuối hạ lưu sông Mê Kông, địa hình thấp nên về mặt địa chất lãnh thổ của tỉnh là trầm tích trẻ với phù sa có nguồn gốc sông, biển Vì thế, khoáng sản ở Trà Vinh nghèo, chỉ có cát xây dựng và sét để làm gạch ngói
Trên địa bàn tỉnh còn có mỏ nước khoáng ở thị trấn Long Toàn, huyện Duyên Hải Thành phần chính là Bicacbônat Natri với nhiệt độ 38,50C và khả năng khai thác có thể đạt 2400m3/ngày
2.2 Quá trình hình thành và phát triển
2.2.1 Lịch sử hình thành
Thời kì Chân Lạp, địa danh “Trà Vinh” theo tiếng Khmer là “Preastrapeang”
có nghĩa là “Hồ Phật”, địa danh này mang đậm nét tôn giáo phải chăng ám chỉ “Ao
Bà Om” ? (thuộc khóm 3 phường 8 thành phố Trà Vinh Người Khmer đào ao này
từ xa xưa để giữ nước ngọt cho nguyên vùng Việc quản lý hồ nước đều do nhà chùa đảm trách)
Ao Bà Om gắn liền với sự tích của người Khmer Chuyện xưa kể rằng, mỗi khi nam và nữ trong làng muốn cưới nhau, không bên nào dám ngỏ lời trước, vì sợ chịu phí tổn hôn nhân rất lớn Nên nhân chuyện đào ao lấy nước, dân làng cho hai bên nam nữ thi đua, mỗi bên đào một hồ, bên nào thua phải chịu tốn kém cho việc cưới xin Người lãnh đạo phái nữ là bà Om liền nghĩ ra một kế Khi trời vừa sập tối,
bà cho bày tiệc thết đãi các ông Vì quá chén, ỷ lại vào sức của mình, nên các ông lơ
Trang 2928
là nhiệm vụ Tới nửa đêm, Bà Om treo ngọn đèn lên cành cây làm họ lầm tưởng là sao Mai mọc, xách đồ nghề về Các bà ở lại cắm cúi đào và chiến thắng Địa danh
ao Bà Om được lưu truyền từ đó
Khi người Việt đặt chân đến nơi đây thì đọc “Preastrapeang” âm trại là “Trà
- Văn” hay còn được gọi là “Trà Vang” thuộc hạt Long Hồ (tỉnh Vĩnh Long) Dần dần tên gọi “Trà Vang” lại biến âm thành tên gọi “Trà Vinh” như ngày hôm nay
Trước khi người Việt đặt chân đến đây khai phá, vùng đất này còn rất hoang
vu, đầm lầy và sông rạch chằng chịt, dân cư thưa thớt, đất đai được khai phá rất ít, như Lê Quý Đôn (1726 -1784) đã từng viết trong tập bút ký về Đàng Trong: ''Từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu trở vào toàn là rừng rậm dày đặc ''
Thế kỷ XVII, chiến tranh Trịnh - Nguyễn (1627-1672) chia cắt đất nước Điều này đã làm cho hàng vạn nông dân lâm vào thảm họa diệt vong, phải đi tìm cõi sống ở phương Nam Do đó miền đồng bằng châu thổ hạ lưu sông Cửu Long (trong
đó có vùng đất Trà Vinh) là nơi đón nhận các lưu dân người Việt từ miền Bắc chạy vào
Cuối thế kỷ thứ XVII, các chúa Nguyễn đã chủ động tổ chức di dân người Việt vào vùng đất Nam Bộ, thực thi những chính sách chiêu mộ lưu dân và đưa quân đội vào Nam khai phá đất đai Cùng với người Việt và người Khmer, người Hoa cũng được chúa Nguyễn tạo điều kiện để cùng nhau khai phá và định cư trên vùng đất phía Nam này, trong đó có vùng đất Trà Vinh
Năm 1748, Nặc Nguyên chiếm ngôi vua Chân Lạp Sau khi lên ngôi, Nặc Nguyên thường đem binh lấn hiếp nhóm di dân người Chăm, Nặc Nguyên lại là thông sứ với Chúa Trịnh Doanh (1740-1767) lập mưu đánh Chúa Nguyễn quyết giành lại vùng đất Thuỷ Chân Lạp Vì việc này, chúa Nguyễn Phúc Khoát quyết định chinh phạt Chân Lạp Cuộc chinh phạt này bắt đầu từ năm 1753 và kết thúc vào năm 1756 dẫn đến việc quốc vương Nặc Nguyên thua trận và dâng hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạt để tạ tội với triều Việt
Năm 1757, Nặc Nguyên băng hà Chú họ là Nặc Nhuận tạm coi việc nước
Trang 3029
Biên thần tâu xin chúa Nguyễn lập Nhuận lên ngôi quốc vương Chúa Nguyễn Phúc
Khoát bắt phải hiến hai phủ Trà Vang, Ba Thắc, rồi sau mới y cho, để tỏ lòng biết
ơn cứu sống và phong vua nước Chân Lạp cho Nặc Tôn (con Nặc Nhuận), Nặc Tôn dâng vùng đất Tầm Phong Long cho chúa Nguyễn
Như vậy, đến năm 1757, những phần đất còn lại ở miền Tây Nam Bộ chính thức thuộc về chủ quyền của Việt Nam
2.2.2 Quá trình phát triển
Sự hình thành và phát triển của tỉnh Trà Vinh được chia thành 2 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: từ năm 1732 đến năm 1900
Vùng đất với tên gọi "Trà Vang", có từ trước khi chúa Nguyễn lập châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ vào năm 1732
Năm 1802, sau khi lên ngôi, Gia Long bắt tay vào việc phân định lại ranh giới các đơn vị hành chính trên toàn quốc Từ đó, vùng đất Trà Vinh thuộc dinh Vĩnh Trấn Năm 1803, vua Gia Long cho đổi dinh Vĩnh Trấn thành dinh Hoằng Trấn Vùng đất Trà Vinh lúc này thuộc dinh Hoằng Trấn Năm 1808, Gia Long đổi Vĩnh Trấn được đổi thành trấn Vĩnh Thanh Lúc bấy giờ, vùng đất Trà Vinh thuộc trấn Vĩnh Thanh
Đến năm 1832, trấn Vĩnh Thanh được đổi tên là trấn Vĩnh Long Sau đó, vua Minh Mạng cho đổi các trấn thành tỉnh Lúc này, Trà Vinh là một huyện thuộc phủ Lạc Hoá tỉnh Vĩnh Long
Năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định phân chia toàn bộ Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính Khu vực hành chính Vĩnh Long gồm 4 tiểu khu: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Sa Đéc Tiểu khu Trà Vinh là tiền thân của tỉnh Trà Vinh sau này
Ngày 20/12/1899, Toàn quyền Đông Dương Doumer ký nghị định đổi tên gọi tiểu khu thành tỉnh Nam Kỳ lục tỉnh cũ được phân chia lại thành 10 tỉnh mới, tỉnh Vĩnh Long cũ được tách ra thành 3 tỉnh mới: Vĩnh Long, Bến Tre Từ đó, tên tỉnh Trà Vinh được sử dụng chính thức trên các văn bản tiếng Pháp là Province de
Trang 3130
Trà Vinh
Giai đoạn 2: Từ năm 1900 đến nay
Tháng 5/1951, thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Cục, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ đã ban hành Nghị định số 174/NB-51 ngày 27/6/1951 về việc sáp nhập 20 tỉnh Nam Bộ thành 11 tỉnh Theo đó, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh được sáp nhập lại thành tỉnh Vĩnh Trà
Từ năm 1954 đến năm 1960, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành phân chia lại địa giới hành chính các tỉnh miền Nam Trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, hai huyện Cầu Kè và Tiểu Cần được tách ra, ghép với hai huyện Trà Ôn và Tam Bình của Vĩnh Long để thành lập một tỉnh mới là tỉnh Tam Cần Đầu năm 1957, Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Bình Tỉnh Tam Cần thành lập được gần một năm thì giải thể, ba quận của tỉnh Tam Cần và quận Vũng Liêm (của tỉnh Vĩnh Long) được sáp nhập vào tỉnh Vĩnh Bình
Tháng 2/1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ban hành nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh được sáp nhập thành tỉnh Cửu Long
Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá VIII ra quyết định tách tỉnh Cửu Long thành 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh Ngày 5/5/1992 tỉnh Trà Vinh được tách ra từ tỉnh Cửu Long và chính thức đi vào hoạt động cho đến ngày nay [73]
2.2.3 Quá trình phát triển từ khi tái thành lập tỉnh
Từ sau khi tái thành lập tỉnh, toàn thể quân dân Trà Vinh luôn phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, truyền thống anh hùng trong kháng chiến ngày đêm
ra sức lao động xây dựng cuộc sống mới, xây dựng quê hương đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Trà Vinh có 18.374 liệt sĩ;
987 bà mẹ Việt Nam anh hùng cùng 61 đơn vị, địa phương được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
Là một tỉnh nghèo với kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, có xuất phát điểm thấp nhưng Đảng bộ và quân dân Trà Vinh đã không ngừng nỗ lực đưa tỉnh nhà
Trang 3231
phát triển bền vững trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng…
Trong chiến tranh, nhân dân Trà Vinh cùng nhân dân cả nước đã chiến thắng những kẻ thù xâm lược hùng mạnh Trong hòa bình, nhân dân Trà Vinh lại một lần nữa sẽ chiến thắng, đó là chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu Đồng bào các dân tộc ở Trà Vinh đã phát huy truyền thống đoàn kết, cần cù, sáng tạo để vùng đất mà họ khai phá từ những thế kỷ trước dần 'thay da đổi thịt", vững vàng cùng cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, con đường mà Đảng ta đã sáng suốt lựa chọn
Trải qua hơn ba thế kỷ với biết bao thăng trầm của lịch sử, nhiều thế hệ cư dân người Việt, Khmer, Hoa,… đã đổ biết bao công sức để xây dựng và bảo vệ vùng đất này Mỗi tấc đất nơi đây đều thấm đẫm mồ hôi và máu của người dân nơi đây Chính vì thế mà đối với mỗi người dân Trà Vinh vùng đất này có giá trị thiêng liêng, trường tồn cùng dân tộc Mỗi người dân Trà Vinh luôn ý thức được những giá trị lịch sử và mồ hôi, xương máu của bao thế hệ cha ông, cùng chung tay xây dựng đất nước ngày càng phát triển, vững bước trong giai đoạn hội nhập với thế giới hiện nay
Tóm lại, với tất cả các căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử như trên, không một luận điệu xuyên tạc hay bất kỳ một thế lực thù địch nào có thể phủ định chân lý
“Tỉnh Trà Vinh là một bộ phận của vùng đất Tây Nam Bộ là thuộc chủ quyền của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, người Trà Vinh cũng như đồng bào Tây Nam Bộ là máu thịt của dân tộc Việt Nam” [71]
2.3 Cƣ dân và truyền thống
2.3.1 Khái quát về cƣ dân Trà Vinh
Theo thống kê, dân số tỉnh Trà Vinh năm 2013 là 1.027.012 người, là tỉnh có quy mô dân số nhỏ (đứng thứ 11/13 tỉnh, thành phố ở đồng bằng sông Cửu Long) Trong đó, 854.808 người (83,19%) dân số sống ở khu vực nông thôn; 172.707 người (16,81%) sống ở khu vực thành thị (thành phố và các thị trấn)
Người Kinh có tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu dân số của tỉnh với 694.261 người, chiếm 67,57% dân số của tỉnh, cư trú khắp các địa bàn trong tỉnh nhưng tập trung nhiều nhất ở thành phố Trà Vinh, các thị trấn, thị tứ và các vùng đất ven sông rạch
Trang 3332
Ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Trà Vinh là địa phương có đông đồng bào Khmer, đứng thứ hai ở đồng bằng sông Cửu Long (sau tỉnh Sóc Trăng), với 324.877 người, chiếm 31,62% dân số Đồng bào Khmer có mặt ở các huyện, thành phố trong tỉnh, nhưng tập trung đông nhất ở huyện Trà Cú, Châu Thành, Cầu Ngang, Cầu Kè, Tiểu Cần… và sống tập trung thành các phum, sóc trên các giồng cát, ven sông rạch hoặc ven đường giao thông xen kẽ với các ấp, khóm của người Kinh Ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và một số ít làm dịch vụ
Người Hoa có 7.690 người, chiếm 0,8% dân số của tỉnh Người Hoa sống tập trung nhiều nhất ở thành phố Trà Vinh và các thị trấn Ngành nghề chủ yếu là dịch
vụ và sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Ngoài ra, còn có một số đồng bào các dân tộc ít người khác như: Chăm 163 người, Churu 53 người, Dao 39 người [68]
2.3.2 Truyền thống các cƣ dân sống trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
2.3.2.1 Cộng đồng cƣ dân Việt và những giá trị văn hóa truyền thống
Từ cuối thế kỷ XVI và đặc biệt là từ đầu thế kỷ XVII, dưới sự bảo hộ của các
Nguyễn, với chủ trương chiêu mộ lưu dân vào khai hoang vùng đất Nam Bộ đã làm cho tiến trình hình thành cộng đồng người Việt ở Nam Bộ ngày càng diễn ra mạnh
mẽ hơn
Trà Vinh là một bộ phận của vùng đất Tây Nam bộ, với ưu thế của vùng đất ven biển, nằm giữa hai cửa sông lớn, địa hình lại có nhiều giồng cát và gò đất, tỉnh Trà Vinh sớm được tiếp nhận lưu dân người Việt đến bằng nhiều con đường nhờ vào những phương tiện giao thông đường thủy đương thời
Bên cạnh đó, còn có một bộ phận người Việt từ Bắc Bộ cũng đã xuất hiện ở Trà Vinh trong các sự kiện lịch sử như: Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời
Trang 3433
năm 1945, sự kiện chia các đất nước 1954, sự kiện thống nhất đất nước năm 1975
và từ năm 1986 đất nước đi vào thời kì đổi mới cho đến nay
Cộng đồng người Việt cư trú khắp các địa bàn trong tỉnh nhưng tập trung nhiều nhất ở thành phố Trà Vinh, các thị trấn, thị tứ và các vùng đất ven sông rạch
Tính trọng nghĩa Nam bộ là đất tụ cư của người tứ phương nghèo khó, họ
là những con người gan dạ, liều lĩnh bước chân đến đây để mưu sinh lập nghiệp Là những người xa lạ, nhưng họ cũng có nhu cầu tương trợ lẫ ởquan hệ ải tình mà là nghĩa Tính trọng nghĩa khiến người Nam Bộ coi nhẹ tiền tài, vật chất (trọng nghĩa khinh tài) Biểu hiện của tính trọng
nghĩa đó là tấm lòng hào hiệp, hiếu khách, thẳng thắn, bộc trực Hình tượng nghĩa hiệp của các nhận vật Lục Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh,… trong thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu chính là những hình tượng lý tưởng về trọng nghĩa khinh tài mà người dân Nam Bộ rất tôn kính
Người dân Trà Vinh mang trong mình tính cách của con người Nam Bộ, họ sống hết mình vì việc nghĩa, sẵn sàng đùm bọc, sẻ
dốc túi đãi nhau, ngày mai thiế ệp, thích làm việc thiện nên người dân Trà Vinh cũng hết lòng ủng hộ trong công tác xã hội như xây dựng mái ấm tình thương, xây nhà tình nghĩa, cứu trợ đồng bào thiên tai,…
Tính cần kiệm và giàu lòng tự trọng Thuở hoang sơ vùng đất Trà vinh là
rừng rậm hoang hóa lắm thú dữ, đất đai lại nhiễm mặn, nhiễm phèn nặng để có miếng ăn miếng ăn ngay từ buổi đầu cư dân Việt phải dãi dầu một nắng hai sương
để có một vùng đất trù phú như ngày nay, lại thêm các tầng lớp áp bức bóc lột của địa chủ, thực dân trong thời kỳ thuộc Pháp, nhân dân Trà Vinh phải trải qua nhiều
cơ cực để có đủ chén cơm manh áo Từ sự cơ cực vất vả gian lao ấy, cộng đồng cư dân người Việt Trà Vinh buộc phải cần kiệm và trân trọng thành quả lao động của mình Ở Trà Vinh còn tồn tại trong dân gian một bài thơ để răn dạy con cháu sau:
Xin đừng quy quát việc ăn xài
Khéo vén vun thân đặng tương lai
Tả tơi khúc dưới quần thay ống;
Trang 3534
Cực khổ thân trên áo vá vai;
Kho cá dặn con thêm nhiều muối;
Nấu cơm dặn vợ độn nhiều khoai
Trăm năm khỏi đói, gọi rằng tốt
Miễn khỏi chìu ai, khỏi lụy ai
Cần cù, sáng tạo trong lao động Từ buổi đầu của một vùng đất hoang sơ,
cộng đồng cư dân Việt chính bàn tay lao động cần cù và tinh thần sáng tạo không mệt mõi khai phá thiên nhiên Dãy rừng hoang vu ngày nào nay đã trở thành những cánh đồng quanh năm vàng bông trĩu hạt, thành những xóm làng trù phú Trong thời
kỳ đất nước đổi mới có nhiều tấm gương trong lao động sản xuất để vượt quá thử
thách đói nghèo với những tên tuổi tiêu biểu như “vua măng cụt” Lưu Văn Nhiều; nhà “sáng chế chân đất” Trần Văn Dũng; “vua lúa giống” Dương Văn Châu…
Lối ứng xử mềm dẻo Đặc trưng của địa hình Trà Vinh có nhiều sông ngòi,
kênh, rạch, ao, hồ… đã tạo ra cho cư dân một truyền thống văn hóa sông – nước, có
tư duy của cư dân vùng sông nước Gắn bó với sông nước trong công việc đánh bắt, nuôi trồng thủy sản; sống trên sông nước như cất nhà sàn, làm thuyền để ở, sống gần gũi với sông như một nhu cầu thiết yếu trong công việc cấy trồng lúa nước…
tạo cho người Việt có khả năng đối phó rất linh hoạt với mọi tình thế
Tình yêu quê hương đất nước nồng nàn, tinh thần quật cường chống ngoại xâm, và luôn hướng về nguồn cội tổ tiên
Tình yêu quê hương đất nước của cộng đồng cư dân Việt thể hiện ở nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau
- Là lòng tự hào về một vùng đất trù phú gắn với những danh lam thắng cảnh
và con người hiền hòa, đôn hậu:
Trà Vinh là xứ ruộng, giồng, Rừng xanh, biển rộng, nhiều sông, lắm vườn
Con người hiền hậu dễ thương
Xa quê lập hội đồng hương kết tình
hay
Trang 3635
Biển Ba-Động nước xanh cát trắng,
Ao Bà Om thắng cảnh miền Tây, Xin mời du khách về đây, Xem qua thì biết chốn nầy thần tiên
Hay
Cá Trà Vinh xanh kỳ đỏ dạ Gái xứ nầy không lang chạ đâu anh…
- Là nỗi nhớ nhung mỗi khi xa xứ:
Ðố ai quên được tình quê
Ðố ai viễn xứ không về Trà vinh?!
Từ tình yêu quê hương chân chất đó đã biến cộng đồng cư dân Việt thành một sức mạnh quật khởi chống kẻ thù xâm lược mà tiêu biểu nhất là hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), Đảng bộ, lực lượng vũ trang và cộng đồng các dân tộc Trà Vinh đã đoàn kết, anh dũng chiến đấu, lập nên những chiến công vang dội như trận Cả Chương (1946), trận La Bang (1948), chiến dịch Cầu Kè (1949), chiến dịch Trà Vinh (mùa xuân 1950)… góp phần cùng nhân dân cả nước đi đến chiến thắng Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Genève, kết thúc chiến tranh, rút quân về nước
Trong thời kỳ chống Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, cộng đồng các dân tộc Trà Vinh kiên trì đấu tranh chính trị, từng bước xây dựng lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với bạo lực vũ trang giành thế chủ động, từng bước đánh bại các chiến lược chiến tranh của địch Trong chiến dịch Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975, các lực lượng vũ trang cách mạng Trà Vinh đã thần tốc tiến chiếm các mục tiêu quan trọng, làm tê liệt ý chí chiến đấu của kẻ thù, góp phần cùng quân dân
cả nước chiến thắng kẻ thù, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Tinh thần đoàn kết tương thân tương ái Ngay từ đầu vùng đất này còn rất
hoang sơ rất cần có sức mạnh tập thể đã khiến các thành viên của cộng đồng phải cố kết lại với nhau, nương tựa vào nhau để làm ăn, sinh sống Tinh thần đoàn kết được
Trang 3736
thể hiện rõ nét nhất và đẹp nhất của cư dân Việt còn tồn tại phổ biến đến ngày nay
đó là hình thức lao động dần công như gieo, gặt, cấy, sạ, dựng nhà, vét mương,…
Biểu hiện của tinh thần đoàn kết của cư dân Việt, đó là đoàn kết trong gia đình, dòng họ, hàng xóm, láng giềng, đoàn kết trong cộng đồng cùng cộng cư với nhau,
họ không phân biệt người đến trước, đến sau, không kỳ thị dân tộc Truyền thống quý báu này được hình thành và phát triển trong nhiều thế kỷ chung lưng đấu cật khai phá vùng đất này Tinh thần đoàn kết đó càng được phát huy cao độ trong quá trình đấu tranh chống áp bức của phong kiến và thực dân sau này Tinh thần đoàn kết của cộng đồng cư dân Việt đã trở thành một giá trị lâu bền, là ý thức dân tộc, là
tư tưởng, tình cảm, tâm hồn gắn bó với mảnh đất yêu thương, là yêu cầu của sự sống còn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung của cả dân tộc
Tinh thần tương thân tương ái là đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc
trong quan niệm “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm là rách”
Chính sách nô dịch, cướp bóc của bọn thống trị, thiên tai dịch bệnh… đè nặng lên đôi vai người lao động Họ cảm thấy thương mình và thương người cùng cảnh ngộ Trong lúc khó khăn, hoạn nạn, chính tình yêu thương, đùm bọc đã giúp họ vượt qua hoàn cảnh thực tại Tinh thần tương thân tương ái còn là sự tương giao trong quan
niệm “từ bi – bác ái” của Phật giáo mà người Khmer luôn tiếp nhận được trong
sinh hoạt tôn giáo, trong chữ “Nhâni” của Nho, Lão trong suối nguồn văn hóa của
cộng đồng người Hoa Tinh thần tương thân tương ái là một hành động thường thấy trong cuộc sống đời thường của cư dân người Việt ở Trà Vinh cho nên nó rất đỗi bình thường nhưng lại là hành động hết sức nhân văn và cao đẹp
Luôn hướng về cội nguồn dân tộc và lãnh tụ Hồ Chí Minh Đâu đó trong
cõi sâu tâm hồn của cộng đồng cư dân Việt ở Trà Vinh vẫn hằn lên nỗi đau đáu mỗi
khi nghe ai đó đọc lên những vần thơ trong bài thơ Nhớ Bắc của tướng Huỳnh Văn
Nghệ:
Ai về xứ Bắc, ta đi với Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở đất
Trang 3837
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long
Phải chăng vết hằn đó là một nỗi khát vọng tìm về nơi đất Tổ Cũng chính vết hằn đọng sâu trong tâm hồn đó cộng đồng cư dân Việt Trà Vinh mãi mãi là dân tộc Việt Nam, mãi mãi là dòng máu Lạc Hồng bốn ngàn năm đang rừng rực cháy trong huyết quản của con cháu Rồng Tiên và dòng máu đó không thể lẫn khuất ở đâu được cho dù phải trải qua bao biến cố của thời đại
Khát vọng hướng về cội nguồn dân tộc cũng là khát vọng của ý chí thống nhất đất nước, chính vì vậy Bác Hồ luôn là hình ảnh tôn kính, tôn thờ đến thiêng liêng trong lòng người dân Trà Vinh Nhân dân Trà Vinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ mấy ai một lần gặp Bác lúc sinh thời, nhưng hình ảnh Người đã in sâu trong trái tim và khối óc, tượng trưng cho ý chí độc lập và tự do Niềm tin vào Chủ tịch Hồ Chí Minh của nhân dân Việt Nam cũng là niềm tin cộng đồng cư dân Trà Vinh là niềm tin tất thắng của sức mạnh Việt Nam Sau khi Bác qua đời, nhân dân Trà Vinh quyết định xây dựng đền thờ để tưởng nhớ đến Bác ở xã Long Đức (một xã ngoại ô thành phố Trà Vinh) ngay trong tầm đạn pháo của kẻ thù, và kiên cường bảo vệ cho đến ngày miền Nam giải phóng
2.3.2.2 Cộng đồng cƣ dân Khmer và những giá trị văn hóa truyền thống
Trước thế kỷ thứ VII vùng hạ lưu sông Mêkông (Tây Nam Bộ ngày này) thuộc Vương quốc Phù Nam Thế kỷ VII đế chế Phù Nam tan rã, do Chân Lạp vốn
là một trong những thuộc quốc của Phù Nam tấn công đánh chiếm Vì vậy, mộ
ến cuối thế kỉ XIII-XVI, do sức
ép của xã hội phong kiến thời Ăngko đã đẩy những dòng người Khmer nhập cư vào đất Nam Bộ Theo thói quen họ chủ yếu chỉ tập trung sinh sống trên những giồng đất cao ở cửa sông Hậu và sông Tiền như Sóc Trăng, Trà Vinh… Người Khmer Nam Bộ và người Khmer Campuchia vốn có chung nguồn gốc tộc người, có những nét gần gũi về đặc trưng văn hóa tộc người Nhưng do sống tách biệt lâu đời, nên người Khmer Nam Bộ có những điểm riêng về cư trú, kinh tế, văn hóa, xã hội Đặc biệt từ khi các chúa Nguyễn xác nhập Biên Hòa - Gia Định, Hà Tiên vào lãnh thổ Việt Nam, người Khmer Nam Bộ đã tách khỏi cộng đồng dân tộc ở Campuchia để
Trang 3938
trở thành một trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Hoạt động kinh tế của người Khmer ở Trà Vinh chủ yếu là nông nghiệp Người Khmer trồng rau màu trên các giồng cát xung quanh phum, sóc Phần lớn sản lượng rau màu ở Trà Vinh do người Khmer cung cấp
Từ xưa, người Khmer đã có kinh nghiệm trồng lúa nước Họ biết gieo trồng các giống lúa và biện pháp kỹ thuật thích hợp cho từng loại đất Có nhiều biện pháp thủy lợi để tưới tiêu ruộng đất, lợi dụng nước mưa để cấy lúa mùa, dùng gàu giai, gàu sòng tát nước khi bị khô hạn hay tháo nước khi ngập úng Ở những vùng gần sông rạch và bị nhiễm mặn, phèn, đồng bào còn lợi dụng thủy triều để đưa nước vào ruộng, rồi đắp những đập nhỏ để giữ nước xổ phèn, giữ phù sa hoặc tập trung đào các ao lớn ở các vùng đất giồng, đất cao để lấy nước Nông cụ lao động hết sức đa dạng như: nọc cấy để cấy lúa ở những nơi đất cứng, cây phảng để phát hoang trước khi cấy, cây vòng hái để gặt lúa Ngày nay, với việc chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nghề nông của bà con Khmer đã có nhiều thay đổi so với trước, phần lớn các khâu làm đất, thu hoạch đã được cơ giới hóa, nhiều dụng cụ nhà nông và phương thức canh tác cũ không còn được sử dụng
Ngoài nghề trồng rau màu, lúa nước, đồng bào Khmer còn, chăn nuôi bò, heo, gà vịt Trong những năm gần đây, một bộ phận đồng bào Khmer ở các xã vùng ven biển thuộc các huyện Cầu Ngang, Duyên Hải, Trà Cú có thêm nghề mới đó là nuôi thủy sản mang lại thu nhập khá cao
Đồng bào Khmer rất khéo tay trong việc thủ công đan đát, dệt chiếu, mộc dân dụng… từ nguồn nguyên liệu có sẵn tại địa phương như mây, tre, trúc, lác làm thành nhiều đồ gia dụng như rổ, rá, nia, sàng, dụng cụ bắt cá, tép Sản phẩm đan đát bền, đẹp, phong phú, đa dạng về kiểu dáng, tinh tế trong cách đan cài hoa văn
Hoạt động mua bán ở nông thôn vùng người Khmer trước đây do người Hoa, người Việt đảm nhận Gần đây, một số hộ người Khmer mở tiệm tạp hóa, quán giải khát,…trong phum sóc của mình Hình thức buôn bán này vẫn còn nhỏ lẻ, song cũng cho thấy có sự thay đổi quan niệm trong hoạt động kinh tế của người Khmer
Trang 4039
Phần lớn người Khmer định cư trên đất giồng cát, họ sống tập trung thành những thôn xóm nhỏ gọi là “phum”, “sóc”, các phum, sóc thường xen kẽ với làng người Việt hoặc người Hoa
Trong khoảng 10 năm qua, với việc thực hiện các chương trình, dự án của nhà nước và các tổ chức quốc tế đã làm thay đổi đáng kể đời sống khó khăn của người Khmer, vùng người Khmer sinh sống từng bước được cải thiện
Tính cộng đồng trong văn hoá truyền thống của dân tộc Khmer ở Trà Vinh Người Khmer quan niệm rằng, chỉ có thông qua cộng đồng, con người mới
được trở thành người Hình thức sinh hoạt cộng đồng thể hiện rõ trong văn hóa tín
ngưỡng với tư cách là một hình thái ý thức xã hội
Sắc thái cộng đồng người Khmer được thể hiện trong sinh hoạt lễ hội truyền thống Lễ hội của người Khmer là dịp để cộng đồng, vui chơi, giải trí, hàn huyên, trò chuyện về công việc đồng áng, nhớ tổ tiên, ôn lại truyền thống và ước mơ về cuộc sống phồn thịnh trong tương lai sau những tháng ngày lao động mệt nhọc Thông qua các sinh hoạt lễ hội, bảo lưu được nhiều phong tục, tập quán tốt đẹp, tạo nền tảng vững chắc cho giá trị bản sắc văn hóa riêng của người Khmer và tạo ra tính cộng đồng rộng rãi chan hòa giữa người với người
Chùa của người Khmer là một trung tâm văn hóa, tư tưởng của cộng đồng Vai trò của sư sãi nhà chùa đều thấm nhuần nghĩa vụ “tốt đời, đẹp đạo”, lo cho đời sống Phật tử Vì vậy, rất nhiều sư sãi tích cực trong việc vận động, hướng dẫn làm
ăn, khuyên răn đạo đức, hòa giải những mâu thuẫn, bất hòa trong phum, sóc Do
đó, chùa chiền giữ vị trí quan trọng trong tâm thức của mỗi cư dân Khmer, “Người Khmer nếu không có chùa không thành người Khmer” Chính vì lẽ đó, nhiều cuộc vận động xã hội, vận động cách mạng của Đảng và Nhà nước luôn bắt đầu từ nhà chùa Bởi đây, ngoài yếu tố tín ngưỡng, tâm linh còn là mối quan hệ kinh tế, gia đình, xã hội
Tính cộng đồng trong văn hoá truyền thống của dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh còn thể hiện ở loại hình cư trú phum sóc.Trong quá trình định cư, người Khmer quần tụ và cư trú trong các phum, sóc Mối quan hệ giữa các thành viên trong phum,