1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng nghiệp vụ thanh toán

51 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiệp Vụ Thanh Toán
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 183,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảnchất của tiền tệ được thể hiện rõ qua hai thuộc tính đó: - Giá trị: đo lường hao phí lao động kết tinh trong hàng hoá thông qua giá cả - Giá trị sử dụng: nhằm thoả mãn một nhu cầu nào

Trang 1

CHƯƠNG 1 HỆ THỐNG TIỀN TỆ THẾ GIỚI.

Mục tiêu

Nhằm trang bị cho người học một số kiến thức cơ bản về hệ thống tiền tệ thế giới, bản chất của tiền tệ, quá trình phát triển của các hình thái tiền tệ, quy luật lưu thông tiền tệ, lạm phát, các loại hình tiền tệ phổ biến trên thế giới

1.1 Những vấn đề chung về tiền tệ.

1.1.1 Bản chất của tiền tệ.

- Theo Mác, trong lịch sử phát triển của loại người, lúc đầu con người sốngthành bầy đàn, kiếm ăn một cách tự nhiên, chưa có chiếm hữu tư nhân, chưa cósản xuất và trao đổi hàng hóa nên chưa có tiền tệ Tuy nhiên, ngay từ trong xãhội nguyên thủy đã xuất hiện mầm móng của sự trao đổi Lúc đầu trao đổi mangtính chất ngẫu nhiên và được tiến hành trực tiếp đổi vật này lấy vật khác

1 bao thóc = 1 con dê

- Khi sự phân công lao động xã hội lần thứ nhất xuất hiện (chăn nuôi tách rakhỏi trồng trọt), hoạt động trao đổi diễn ra thường xuyên hơn Tham gia trao đổibây giờ không phải là hai loại hàng hóa mà là một loạt các loại hàng hóa khácnhau

1 bao thóc = 1 con dê = 2 cái rìu

Lúc này nhu cầu trao đổi trở nên phức tạp hơn, người có thịt muốn đổi thóc,nhưng người có thóc lại không cần thịt mà lại cần thứ khác Vì thế, việc trao đổitrực tiếp không còn thích hợp và gây trở ngại cho trao đổi Trong tình hình đó,người ta phải đi con đường vòng, mang hàng hoá của mình đổi lấy thứ hàng hoá

mà nó được nhiều người ưa chuộng, rồi đem đổi lấy thứ hàng hoá mà mình cần

Do đó, tất yếu đòi hỏi phải có một thứ hàng hóa đặc biệt đóng vai trò vật nganggiá chung tách ra từ tất cả các thứ hàng hóa khác và các hàng hóa khác có thểtrao đổi được với nó, ví dụ như da thú Thích ứng với giai đoạn phát triển nàycủa trao đổi là hình thái giá trị chung Nhưng trong giai đoạn này, tác dụng củavật ngang giá chung vẫn chưa cụ thể tại một thứ hàng hóa nào, trong nhữngvùng khác nhau thì có những thứ hàng hóa khác nhau có tác dụng làm vật nganggiá chung

- Cuộc phân công lao động xã hội lần thứ hai xuất hiện, thủ công nghiệp táchkhỏi nông nghiệp làm cho sản xuất hàng hóa phát triển và thị trường mở rộng.Tình trạng nhiều loại hàng hóa có tác dụng làm vật ngang giá chung phát sinhmâu thuẫn với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, thị trường đòi hỏi phảithống nhất một vật ngang giá đơn nhất Khi vật ngang giá chung cố định ở mộtloại hàng hóa thì sinh ra hình thái tiền tệ Khi đó, tất cả hàng hóa được biểu hiện

Trang 2

giá trị của nó trong một thứ hàng hóa, thứ hàng hóa đó trở thành vật ngang giáchung.

Tóm lại, tiền tệ là một phạm trù lịch sử, nó là sản phẩm tự phát của nền kinh

tế hàng hóa Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và pháttriển của sản xuất và trao đổi hàng hóa Mọi người đều biết tiền tệ là một thuậtngữ rất quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội, tuy nhiên, khó có thể tìm ramột khái niệm thống nhất về tiền tệ

Theo Mác, tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế

giới hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác và thực hiện trao đổi giữa chúng.

Theo các nhà kinh tế hiện đại: Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được

chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.

Bản chất của tiền tệ:

 Tiền tệ thực chất là vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hoá dịch

vụ, giúp quá trình trao đổi diễn ra dễ dàng hơn

 Lúc đầu vật ngang giá chung là hàng hoá thông thường (bò, cừu, rìu) sau

đó là hàng hoá mở rộng (kẽm, đồng, bạc) và cuối cùng là tiền tệ

 Do tiền tệ là một hàng hoá đặc biệt nên cũng như các hàng hoá thôngthường khác, nó cũng có hai thuộc tính là: Giá trị và giá trị sử dụng Bảnchất của tiền tệ được thể hiện rõ qua hai thuộc tính đó:

- Giá trị: đo lường hao phí lao

động kết tinh trong hàng hoá thông

qua giá cả

- Giá trị sử dụng: nhằm thoả mãn

một nhu cầu nào đó của con người

- Giá trị: là thước đo đo lường giá trịcủa những hàng hoá khác

- Giá trị sử dụng: nhằm thoả mãn tất

cả các nhu cầu của con người khi sởhữu một khối lượng tiền tệ nhất định

1.1.2 Quá trình phát triển của các hình thái tiền tệ.

Tiền tệ hàng hoá - Hoá tệ

Hoá tệ phi kim loại

Hoá tệ phi kim loại là tiền tệ dưới dạng các hàng hoá (trừ kim loại) Đây làhình thái cổ nhất của tiền tệ, rất thông dụng trong các xã hội cổ xưa và trongnhững vùng khác nhau thì có những thứ hàng hóa khác nhau được con ngườidùng làm tiền tệ

Trang 3

 Răng cá voi ở đảo Fiji

 Gỗ đàn hương ở Hawaii

 Mai rùa ở đảo Marianas

 Tuần lộc ở nhiều nơi thuộc Nga

 Lụa ở Trung quốc

 Rượu Rum ở Australia

 Gạo ở Philippines

 Hạt tiêu ở Sumatra

 Đường ở đảo Barbados

 Nô lệ ở Châu Phi xích đạo, Nigeria, Ailen

 Những chuỗi vỏ sò của những thổ dân da đỏ Bắc Mỹ

 Bò, cừu ở Hy lạp và La mã

 Muối ở nhiều nơi…

Tuy nhiên, hoá tệ phi kim loại có nhiều điểm bất tiện như: tính chất khôngđồng nhất, dễ hư hỏng, khó phân chia hay gộp lại, khó bảo quản cũng như vậnchuyển, và chỉ được công nhận trong từng khu vực, từng địa phương Vì vậy màhoá tệ phi kim loại dần dần biến mất và được thay thế bằng dạng hoá tệ thứ hai:hoá tệ kim loại

Hoá tệ kim loại

Hoá tệ kim loại là tiền tệ dưới dạng các kim loại, thường là các kim loạiquý như vàng, bạc, đồng, kẽm… Nói chung các kim loại có nhiều ưu điểm hơn

so với các hàng hoá khác khi được sử dụng làm tiền tệ như: chất lượng, trọnglượng có thể xác định chính xác, dễ dàng hơn, thêm vào đó, nó lại bền hơn, dễchia nhỏ, giá trị tương đối ít biến đổi…

Trong thực tiễn lưu thông hoá tệ kim loại, chỉ có vàng trở thành loại tiền tệđược sử dụng phổ biến và lâu dài nhất Bạc hay đồng chỉ được sử dụng thay thếkhi thiếu vàng dùng làm tiền tệ Sự thống trị của tiền vàng có được là do vàng cónhững ưu điểm hơn hẳn các hàng hoá khác trong việc thực hiện chức năng tiềntệ:

 Vàng là một loại hàng hoá được nhiều người ưa thích Vì vậy, việc dùngvàng trong trao đổi dễ dàng được chấp nhận trên phạm vi rộng lớn

Trang 4

 Vàng không bị thay đổi về màu sắc và chất lượng dưới tác động của môitrường và cơ học nên rất tiện cho việc cất trữ Nó dễ chia nhỏ mà khôngảnh hưởng tới chất lượng.

 Giá trị của vàng ổn định trong thời gian tương đối dài

Tuy có những đặc điểm rất thích hợp cho việc dùng làm tiền tệ như vậy,tiền vàng vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu trao đổi của xã hội khi nền sảnxuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến mức cao Một loạt lý do sau đây đãkhiến cho việc sử dụng tiền vàng ngày càng trở nên bất tiện, không thực hiệnđược chức năng tiền tệ nữa:

 Quy mô và trình độ sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, khối lượng

và chủng loại hàng hoá đưa ra trao đổi ngày càng tăng và đa dạng; trongkhi đó lượng vàng sản xuất ra không đủ đáp ứng nhu cầu về tiền tệ (nhucầu về phương tiện trao đổi) của nền kinh tế

 Giá trị tương đối của vàng so với các hàng hoá khác tăng lên do năngsuất lao động trong ngành khai thác vàng không tăng theo kịp năng suấtlao động chung của các ngành sản xuất hàng hoá khác Điều đó dẫn đếnviệc giá trị của vàng trở nên quá lớn, không thể đáp ứng nhu cầu làm vậtngang giá chung trong một số lĩnh vực có lượng giá trị trao đổi mỗi lầnnhỏ như mua bán dịch vụ hoặc hàng hoá tiêu dùng…

 Ngược lại, trong những giao dịch với giá trị lớn thì tiền vàng lại trở nêncồng kềnh

 Việc dùng vàng làm tiền tệ, con người đã phải giảm bớt các nhu cầudùng vàng làm đồ trang sức hoặc trong các ngành có sử dụng vàng làmnguyên liệu vì xã hội phải dành một phần lớn số lượng vàng hiện có đểlàm tiền tệ

Với những lý do như vậy mà xã hội đã phải đi tìm cho mình một dạng tiền

tệ mới phù hợp hơn Chúng ta chuyển sang hình thái tiền tệ thứ hai:

Tiền giấy.

Tiền giấy xuất hiện đầu tiên dưới dạng các giấy chứng nhận có khả năngđổi ra bạc hoặc vàng do các ngân hàng thương mại phát hành Đây là các camkết cho phép người nắm giữ giấy này có thể đến ngân hàng rút ra số lượng vànghay bạc ghi trên giấy

Do có thể đổi ngược ra vàng và bạc nên các giấy chứng nhận này cũngđược sử dụng trong thanh toán như vàng và bạc Sự ra đời những giấy chứngnhận như vậy đã giúp cho việc giao dịch với những khoản tiền lớn cũng nhưviệc vận chuyển chúng trở nên thuận lợi hơn rất nhiều Dần dần các giấy chứng

Trang 5

nhận nói trên được chuẩn hoá thành các tờ tiền giấy có in mệnh giá và có khảnăng đổi ra vàng một cách tự do theo hàm lượng vàng qui định cho đồng tiền đó.

Và việc sử dụng tiền ngân hàng này hoàn toàn mang tính chất tự nguyện

Sau Đại chiến thế giới thứ nhất, nhằm siết chặt quản lý trong việc pháthành tiền giấy, các nhà nước đã ngăn cấm các ngân hàng thương mại phát hànhgiấy bạc ngân hàng, từ nay mọi việc phát hành chỉ do một ngân hàng duy nhấtgọi là ngân hàng trung ương thực hiện Việc xã hội chấp nhận sử dụng tiền giấymặc dù giá trị thực của nó thấp hơn nhiều so với giá trị mà nó đại diện là vì tiềngiấy được quy định trong luật là phương tiện trao đổi, vì mọi người tin tưởngvào uy tín của cơ quan phát hành (tức NHTW), và vì người ta thấy việc sử dụngtiền giấy là tiện lợi:

 Việc sử dụng tiền giấy đã giúp cho mọi người có thể dễ dàng cất trữ vàvận chuyển tiền hơn

 Tiền giấy cũng có đủ các mệnh giá từ nhỏ tới lớn phù hợp với qui môcác giao dịch của bạn

 Về phía chính phủ, cái lợi thấy rõ nhất của tiền giấy là việc in tiền giấytốn chi phí nhỏ hơn nhiều so với những giá trị mà nó đại diện

Tiền giấy cũng có những nhược điểm như: không bền (dễ rách); chi phí lưuthông vẫn còn lớn khi trao đổi hàng hoá diễn ra trên phạm vi rộng (chẳng hạngiữa các quốc gia hay giữa các vùng xa nhau), đòi hỏi tốc độ thanh toán nhanh,

an toàn thì tiền giấy vẫn tỏ ra cồng kềnh, không an toàn khi vận chuyển; có thể

bị làm giả; dễ rơi vào tình trạng bất ổn (do không có giá trị nội tại và không thể

tự điều tiết được số lượng tiền giấy trong lưu thông như tiền vàng)

1.1.3 Quy luật lưu thông tiền tệ.

Tiền là hình thức biểu hiện giá trị của hàng hóa, nó phục vụ cho sự vận độngcủa hàng hóa Lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ là hai mặt của quá trìnhthống nhất với nhau Lưu thông tiền tệ xuất hiện và dựa trên cơ sở của lưu thônghàng hóa Ở mỗi kỳ nhất định, lưu thông hàng hóa bao giờ cũng đòi hỏi mộtlượng tiền nhất định Số lượng tiền này được xác định bởi quy luật chung củalưu thông tiền tệ

Quy luật này được thể hiện như sau: số lượng tiền cần thiết để thực hiện

chức năng phương tiện lưu thông tỷ lệ thuận với tổng giá cả hàng hoá trong lưu thông và tỷ lệ nghịch với số vòng quay bình quân của đồng tiền cùng loại.

M =

P.Q V

Trang 6

Trong đó: M: Số lượng tiền cần thiết trong lưu thông.

P : Giá cả hàng hoá và dịch vụ.

Q: Khối lượng sản phẩm.

V: Tốc độ lưu thông bình quân của tiền.

Cung - cầu tiền tệ.

a Khối lượng tiền trong lưu thông (Ms).

Khối lượng tiền trong lưu thông là tất cả các phương tiện được chấp nhậnlàm trung gian trao đổi với mọi hàng hoá và dịch vụ tại một thị trường nhất định

và trong một thời gian nhất định Người ta chia thành các khối sau:

 M1: Là bộ phận có tính lõng cao nhất, bao gồm: giấy bạc ngân hàng,ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, ngân phiếu, séc các loại, tiền gởikhông kỳ hạn

 M2 : Bao gồm M1 và tiền gởi có kỳ hạn

 M3 : Bao gồm M2 và thương phiếu, tín phiếu kho bạc, cổ phiếu và cácloại trái khoán

b Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông (Mn).

Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông (Mn) là khối lượng tiền do tổng nhucầu của nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ quyết định

Mn phụ thuộc vào hai yếu tố:

 Tổng mức chu chuyển hàng hoá và dịch vụ

 Tốc độ lưu thông bình quân của tiền

VD: Năm N, người ta tính tổng giá cả hàng hóa và dịch vụ đưa vào lưu thông

là 100.000 tỷ, số vòng quay của tiền là 10 thì khối lượng tiền cần thiết cho lưuthông sẽ là:

Mn là :100.000/10=10.000 tỷ

Giữa Mn và Ms sẽ có một khoảng cách và khi người ta so sánh với nhau tạimột thời điểm nào đó thì nó có thể xảy ra 1 trong 3 trường hợp sau:

Ms = M3 + các phương tiện khác

Trang 7

Ms/Mn = 1: tiền trong lưu thông = tiền cần thiết cho lưu thông, đây là

trường hợp lý tưởng mà tất cả các nước đều mong muốn nhưng thực tếđiều đó không xảy ra

Ms/Mn < 1: số lượng tiền trong lưu thông < số lượng tiền cần thiết

trong lưu thông => thiếu tiền => lạm phát âm (giảm phát) Trường hợpnày sản xuất bị đình trệ, hàng hoá chậm tiêu thụ vì thiếu phương tiệnlưu thông

Ms/Mn > 1: số lượng tiền trong lưu thông > số lượng tiền cần thiết

trong lưu thông => thừa tiền => lạm phát

Trên thực tế, không thể tính toán chính xác các tỷ lệ trên, nhưng có thểkiểm chứng thông qua tín hiệu thị trường, như các thông số về: giá cả hàng hoá,

tỷ giá hối đoái, giá vàng…Việc làm cho Ms và Mn xích lại gần nhau là côngviệc hết sức cần thiết của những nhà hoạch định và thực thi chính sách tiền tệquốc gia

Nhu cầu tiền trong lưu thông

Nhu cầu tiền cho giao dịch: Mọi giao dịch đều cần phải sử dụng tiền:

 Đối với doanh nghiệp, họ cần tiền để phục vụ cho quá trình sản xuấtkinh doanh như: mua nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, trả lương chocông nhân…

 Đối với dân cư, họ cần tiền để chi tiêu phục vụ cho cuộc sống

Nhu cầu tiền cho tích luỹ: Doanh nghiệp và dân cư ngoài việc sử dụng tiền

cho nhu cầu giao dịch, họ phải còn tích luỹ một phần giá trị để sử dụng cho nhucầu trong tương lai là:

 Tích luỹ cho nhu cầu đã dự định trước: đám cưới, sắm tết, xây nhà…

 Tích luỹ cho nhu cầu chưa có dự định trước

Nhu cầu cho dự phòng: Nghĩa là nhu cầu để sử dụng nó khi gặp những rủi

ro

Nhu cầu tiền cho cất trữ: dự trữ tích luỹ cho nhu cầu về sau.

Tóm lại nhu cầu về tiền trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng, việc giữ

lại tiền bao nhiêu là tuỳ thuộc vào các yếu tố như: mức thu nhập, lãi xuất tiền gửi, giá cả hàng hoá, dịch vụ, sự phát triển của xã hội…

Trang 8

1.1.4 Lạm phát.

1.1.4.1 Định nghĩa:

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế, trong đó khối lượng tiền tệ thực tếđưa vào lưu thông vượt quá khối lượng tiền cần thiết trong lưu thông làm chogiá cả hàng hoá tăng lên một cách liên tục và kéo dài dẫn đến đồng tiền quốc gia

bị mất giá so với vàng và ngoại tệ

Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế.

1.1.4.2 Phân loại lạm phát:

Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, hay dưới 10%

một năm Lạm phát vừa phải làm cho giá cả tăng lên chậm, lãi xuất tiền gửikhông cao, không xẩy ra tình trạng mua bán, tích trữ hàng hóa với số lượng lớnnên chính phủ thường xuyên duy trì ở mức lạm phát này để khuyến khích sảnxuất và chi tiêu trong dân chúng

Lạm phát phi mã: xảy ra khi giá cả tăng đột biến khoảng từ 10%

đến 999%, ở mức phi mã, lạm phát làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chónggây tác hại nghiêm trọng đến nền kinh tế

Siêu lạm phát: xảy ra khi giá cả hàng hoá tăng gấp nhiều lần so với

lạm phát phi mã Lạm phát này làm tốc độ lưu thông tiền tệ tăng rất nhanh,lượng tiền trong lưu thông càng thừa nhiều hơn, dẫn đến tốc độ lạm phát bị đẩynhanh hơn Lúc này tiền tệ không thực hiện được chức năng thước đo giá trị,nền kinh tế bị khủng hoảng trầm trọng

1.1.4.3 Nguyên nhân của lạm phát

 Sản xuất sút kém, thu ngân sách không đủ chi buộc phải phát hànhthêm tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách Trong khi đó số lượng hàng hóa sảnxuất vẫn không tăng, dẫn đến thừa tiền khi thừa tiền sẽ kích thích người tiêudùng tăng sức mua (tăng cầu) khiến giá cả tăng vọt

 Thiên tai, mất mùa, lụt bảo, động đất làm giảm năng lực sản xuất

 Giá của một mặt hàng thiết yếu trên thế giới tăng chẳng hạn như,giá dầu thô tăng dẫn đến các nước có nhập khẩu dầu sẽ tăng giá điện, cước phívận chuyển hàng hóa cũng tăng Điện và cước phí vận chuyển là những chi phíđầu vào chủ yếu của tất cả các ngành sản xuất kinh doanh dẫn đến giá thành sảnphẩm tăng theo và buộc doanh nghiệp cúng phải tăng giá bán để bù đắp chi phí

 Do khủng hoảng chính trị, đồng tiền không được tín nhiệm

Trang 9

1.1.4.4 Các biện pháp ổn định tiền tệ trong nền kinh tế thị trường.

Những biện pháp cấp bách:

 Ngừng phát hành tiền vào lưu thông (đóng băng tiền tệ) muốn vậy thìNHTW phải ngừng cung ứng tiền cho lưu thông thông qua nghiệp vụtái chiết khấu, tái cầm cố các giấy tờ có giá

 Tăng lãi suất tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi tiết kiệm

 Cắt giảm các khoản chi chưa cấp bách

 Bán ngoại tệ và vàng

 Khuyến khích tự do mậu dịch, nới lỏng thuế quan để (tăng số lượnghàng hóa) tăng quỹ hàng hoá tiêu dùng cân đối với khối lượng tiềntrong lưu thông

 Vay và xin viện trợ từ bên ngoài

 Cải cách tiền tệ (tức là bỏ đồng tiền cũ thay thế bằng đồng tiền mới,đây là biện pháp tình thế)

Những biện pháp chiến lược: nhằm tạo ra sức mạnh kinh tế đất nước, xác

lập cơ sở ổn định tiền tệ vững chắc

 Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoácủa nền kinh tế quốc dân

 Tạo ngành sản xuất hàng hoá mũi nhọn cho xuất khẩu

 Cải cách hành chính, tinh giảm biên chế, kiện toàn bộ máy hành chính

 Soát xét thường xuyên chính sách thu chi của nhà nước

 Lạm phát để chống lạm phát: có vẻ như không hợp lý, nhưng sẽ tạo sựhợp lý để ổn định lưu thông tiền tệ, đối với các quốc gia có nhiều tiềmnăng về lao động, tài nguyên nhưng thiếu vốn, nhà nước mạnh dạnphát hành để đầu tư và biết sử dụng đúng hướng, đúng mục đích thì sẽliên kết các tiềm năng tạo điều kiện phát triển dẫn đến giảm lạm phát

1.2 Ngoại tệ và ngoại hối.

Ngoại tệ: là đồng tiền nước ngoài lưu thông trong một nước Ngoại tệ có

thể là tiền xu, tiền giấy, tiền trên tài khoản, séc du lịch, tiền điện tử và cácphương tiện khác được xem như tiền

Ngoại hối: là chỉ các phương tiện có giá dùng để thanh toán giữa các quốc

gia, bao gồm:

 Ngoại tệ

Trang 10

 Các phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ như: Séc; hối phiếu, lệnhphiếu, kì phiếu

 Các chứng khoán có giá bằng ngoại tệ: trái phiếu chính phủ, trái phiếucông ty, cổ phiếu

 Vàng, bạc, kim cương, ngoại tệ

 Các phương tiện thanh toán khác

Trang 11

CHƯƠNG 2 TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

Mục tiêu

Nhằm trang bị cho người học một số kiến thức cơ bản về tỷ giá hối đoái, khái niệm về tỷ giá, phương pháp yết tỷ giá, các loại tỷ giá hối đoái, các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái và phương pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái

2.1 Khái niệm về tỷ giá.

2.1.1 Khái niệm.

Hầu hết mỗi quốc gia hay một nhóm quốc gia liên kết (Liên minh ChâuÂu) đều có đồng tiền riêng của mình như: Việt nam có tiền đồng (VNĐ), Trungquốc có Nhân dân tệ (CNY), Mỹ có Dollar (USD) Mối liên hệ kinh tế giữa cácnước, các nhóm nước với nhau thường dựa trên quan hệ mua bán, trao đổi, đầu

tư dẫn đến việc cần có sự trao đổi đồng tiền giữa các nước, đồng tiền này đổi lấyđồng tiền kia, do đó:

Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng bao nhiêu đơn vị tiền tệ nước khác.

VD Tỷ giá giữa đô la Mỹ (USD) và đồng Việt Nam (VND) được viết làUSD/VND chính là số lượng VND cần thiết để mua 1 USD

USD/ VND = 20.830/ 20.870

 Điều này có nghĩa là giá ngân hàng mua vào 1 USD là 20.830

VND và giá ngân hàng bán ra 1 USD là 20.870 VND

Tỷ giá hối đoái còn là quan hệ so sánh giữa hai loại tiền tệ của hai quốc gia khác nhau.

2.1.2 Cơ sở hình thành tỷ giá.

2.1.2.1 Chế độ bản vị vàng.

Trong chế độ bản vị vàng, các đồng tiền quốc gia đều được so sánh, quyđổi với nhau trên cơ sở hàm lượng vàng chứa đựng trong đồng tiền (tiền đúc)của mình hay do đơn vị đồng tiền của mình đại diện Người ta xác định tỷ giágiữa các đồng tiền bằng cách so sánh hàm lượng vàng chứa trong mỗi đơn vịtiền tệ của từng nước

VD: Hàm lượng vàng của một bảng Anh là 2,488281 gam và của một đô

la Mỹ là 0.888671 gam, do đó tỷ giá hối đoái giữa GBP và USD là:

2.488281 0,888671

Hàm lượng vàng của 1 GBP

Hàm lượng vàng của 1 USD

Tỷ giá hối đoái

GBP /USD

Trang 12

2.1.2.2 Chế độ lưu thông tiền giấy.

Tiền đúc trong lưu thông không còn nữa, giấy bạc ngân hàng không còn

tự do đổi ra vàng theo hàm lượng vàng của nó, do đó ngang giá vàng không cònlàm cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái

Việc so sánh hai đồng tiền với nhau được thực hiện bằng cách so sánh sứcmua của hai tiền tệ với nhau, gọi là ngang giá sức mua của tiền tệ

VD: Trong điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị của Anh và Mỹ là nhưnhau Một tấn lúa mì loại một ở Anh có giá là 100 GBP, ở Mỹ có giá là 178USD Ngang giá sức mua là:

2.2 Phương pháp yết tỷ giá.

 Đồng đứng trước gọi là đồng yết giá, đồng đứng sau gọi là đồng địnhgiá

 Tỷ giá đứng trước là giá mua vào của ngân hàng (hay giá bán ra củakhách hàng)

 Tỷ giá đứng sau là giá bán ra của ngân hàng (hay giá mua vào củakhách hàng)

 Tỷ giá được yết có 5 chữ số

 Tên đơn vị tiền tệ của một quốc gia được viết tắt bằng ba ký tự Hai

ký tự đầu tiên là viết tắt của tên nước, ký tự sau cùng là viết tắt củatên đồng tiền

Trang 13

Yết giá Đồng tiền yết giá Đồng tiền định giá

2.2.2 Các phương pháp yết tỷ giá.

2.2.2.1 Phương pháp yết tỷ giá trực tiếp:

Là phương pháp biểu thị một đơn vị ngoại tệ thông qua một số lượng nội tệ nhất định.

 Đối với phương pháp trực tiếp thì ngoại tệ là đồng tiền yết giá, nội tệ

là đồng tiền định giá

 Đa số các quốc gia trên thế giới áp dụng phương pháp trực tiếp

Ví dụ: Tại Hà Nội niêm yết USD/VND = 20.830/ 20.870

 Tại Hà Nội, ngân hàng mua 1 USD trả 20.830 VN và bán 1USD

thu 20.870 VND

2.2.2.2 Phương pháp yết tỷ giá gián tiếp:

Là phương pháp biểu thị một đơn vị nội tệ thông qua một số lượng ngoại tệ nhất định.

Trang 14

 Đối với phương pháp này thì đồng nội tệ là đồng tiền yết giá, cònngoại tệ là đồng tiền định giá

 Anh, Hoa kỳ và một số nước liên hiệp Anh thường sử dụng phươngpháp này

VD: Tại London niêm yết GBP/USD = 1,8421/1,8496

 Tại London, ngân hàng mua 1 GBP trả 1,8421USD và bán 1 GBPthu 1,8496USD

Câu hỏi: Yết giá trực tiếp khác yết giá gián tiếp ở chỗ nào? Chỉ ra bằng cáchđánh dấu × cái nào là yết giá trực tiếp, cái nào là yết giá gián tiếp trong bảng yếtgiá dưới đây:

2.2.3 Phương pháp xác định tỷ giá theo phương pháp tính chéo

Thông thường USD và GBP là hai đồng tiền yết giá chủ yếu trên thịtrường hối đoái của các nước Tuy nhiên, trong giao dịch ngoại hối, khách hàngcòn muốn xác định tỷ giá giữa các đồng tiền khác, ví dụ: CNY/VND trong khitrên thị trường chỉ có tỷ giá USD/CNY và USD/VND Vì vậy, phải dùngphương pháp tính chéo tỷ giá để xác định tỷ giá CNY/VND

2.2.3.1 Xác định tỷ giá hối đoái của hai đồng tiền khác vị trí.

VD Vào ngày 2/1, khách hàng A cần bán 2.000 GBP lấy JPY, kháchhàng B cần mua 1.000 GBP bằng JPY biết:

USD/JPY: 110,36 / 110,80GBP/USD : 1,7651 / 1,7691

Đế tính được số lượng JPY thu về khi bán 2.000 GBP của khách hàng

A, ta cần xác định tỷ giá GBP/JPY Ta có

 GBP/JPY = GBP/USD x USD/JPY

Trang 15

Thế nhưng tỷ giá GBP/USD và USD/JPY đều được niêm yết theo cả tỷgiá mua lẫn tỷ giá bán, vậy làm thế nào để lựa chọn tỷ giá thích hợp để thay vàocông thức trên? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta lý luận việc bán GBP lấy JPYbao gồm hai giao dịch:

1 Khách hàng bán GBP cho ngân hàng để lấy USD, theo tỷ giá muaGBP/USD = 1,7651

2 Khách hàng bán USD cho ngân hàng để lấy JPY, theo tỷ giá muaUSD/JPY = 110,36

Do vậy, Tỷ giá mua GBP/JPY = TG mua GBP/USD x TG mua USD/JPY

= 1,7651 x 110,36 = 194,80

Số lượng JPY thu về khi bán 2.000 GBP là: 2.000 x 194,80 = 389.600 (JPY)

Lý luận tương tự, việc mua 1.000 GBP bằng JPY của khách hàng B cũngbao gồm hai giao dịch:

1 Khách hàng mua USD của ngân hàng bằng JPY, theo tỷ giá bánUSD/JPY = 110,80

2 Khách hàng mua GBP của ngân hàng bằng USD, theo tỷ giá bánGBP/USD = 1,7691

Do vậy, Tỷ giá bán GBP/JPY = TG bán GBP/USD x TG bán USD/JPY

= 1,7691 x 110,80 = 196,02

Số lượng JPY cần để mua 1.000 GBP là: 1.000 x 196,02 = 196.020 (JPY)

Câu hỏi: Giả sử tỷ giá được niêm yết tại Đà nẵng vào ngày 2/3/N như sau:

EUR/USD = 1,2248 / 1,2298USD/VND = 20.830 / 20.870Xác định tỷ giá EUR/VND?

2.2.3.2 Xác định tỷ giá hối đoái của hai đồng tiền cùng vị trí yết giá.

VD Vào ngày 4/1/N, khách hàng C cần bán 3.000 GBP lấy AUD,khách hàng D cần mua 1.500 GBP bằng AUD biết:

GBP/USD = 1,8265 / 1,8291AUD/USD = 1,0245 / 1.0286

Tỷ giá mua = TG mua đồng yết giá x TG mua đồng định giá

Tỷ giá bán = TG bán đồng yết giá x TG bán đồng định giá

Trang 16

Đế tính được số lượng AUD thu về khi bán 3.000 GBP của khách hàng

C, ta cần xác định tỷ giá GBP/AUD, Ta có

GBP/AUD =

Thế nhưng tỷ giá GBP/USD và AUD/USD đều được niêm yết theo cả

tỷ giá mua lẫn tỷ giá bán, vậy làm thế nào để lựa chọn tỷ giá thích hợp để thayvào công thức trên? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta lý luận việc bán GBP lấyAUD bao gồm hao giao dịch:

1 Khách hàng bán GBP cho ngân hàng để lấy USD, theo tỷ giá muaGBP/USD = 1,8265

2 Khách hàng mua AUD của ngân hàng bằng USD, theo tỷ giá bánAUD/USD = 1,0286

 Tỷ giá mua GBP/AUD =

Số AUD thu về khi bán 3.000 GBP là: 3.000 x 1,7757 = 5.327,1 (AUD)

Lý luận tương tự, việc mua GBP bằng AUD cũng bao gồm hai giao dịch:

1 Khách hàng bán AUD cho ngân hàng để lấy USD, theo tỷ giá muaAUD/USD = 1,0245

2 Khách hàng mua GBP của ngân hàng bằng USD, theo tỷ giá bánGBP/USD = 1,8291

 Tỷ giá bán GBP/AUD =

= = 1,7854

GBP/USDAUD/USD

Tỷ giá mua GBP/USD

Tỷ giá bán AUD/USD1,8265

1,0286

Tỷ giá mua = Tỷ giá mua đồng yết giá

Tỷ giá bán đồng định giá

1,82911,0245

Tỷ giá bán GBP/USD

Tỷ giá mua AUD/USD

Trang 17

Số AUD cần để mua 1.500 GBP là: 1.500 x 1,7854 = 2.678,1 (AUD)

Câu hỏi: Ngày 10/1/N, có các tỷ giá hối đoái được niêm yết tại Đà Nẵngnhư sau:

USD/VND = 20.825 / 20.865HKD/VND = 2.647,1 / 2.665,7 Xác định tỷ giá USD/VND?

2.2.3.3 Xác định tỷ giá hối đoái của hai đồng tiền cùng vị trí định giá.

VD Vào ngày 5/1, khách hàng E cần bán 5.000 JPY lấy VND, kháchhàng F cần mua 2.500 JPY bằng VND biết:

USD/JPY: 110,36 / 110,80USD/VND: 20.830 / 20.870

Để tính được số lượng VND thu về khi bán 5.000 JPY của khách hàng

E, ta cần xác định tỷ giá JPY/VND, Ta có

Thế nhưng tỷ giá USD/JPY và USD/VND đều được niêm yết theo cả

tỷ giá mua lẫn tỷ giá bán, vậy làm thế nào để lựa chọn tỷ giá thích hợp để thayvào công thức trên? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta lý luận việc bán JPY lấyVND bao gồm hao giao dịch:

1 Khách hàng mua USD của ngân hàng bằng JPY, theo tỷ giá bán USD/JPY = 110,80

2 Khách hàng bán USD cho ngân hàng để lấy VND, theo tỷ giá muaUSD/VND = 20.830

 Tỷ giá mua JPY/VND =

Số VND thu về khi bán 5.000 JPY là: 5.000 x 187,99 = 939.950 (VND)

USD/VNDUSD/JPY

Tỷ giá mua USD/VND

Tỷ giá bán USD/JPY20.830

Trang 18

Lý luận tương tự, việc mua JPY bằng VND cũng bao gồm hai giao dịch:

1 Khách hàng mua USD của ngân hàng bằng VND, theo tỷ giá bánUSD/VND = 20.870

2 Khách hàng bán USD cho ngân hàng để lấy JPY, theo tỷ giá muaUSD/JPY = 110,36

2.3 Các loại tỷ giá hối đoái.

2.3.1 Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối.

Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do nhà nước công bố được hình thành

trên cơ sở ngang giá vàng

Tỷ giá tự do là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường do quan hệ

cung cầu qui định

Tỷ giá thả nổi là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường và nhà

nước không can thiệp vào sự hình thành và quản lý tỷ giá này

Tỷ giá mua = Tỷ giá mua đồng định giá

Tỷ giá bán đồng yết giá

20.870110,36

Tỷ giá bán = Tỷ giá bán đồng định giá

Tỷ giá mua đồng yết giá

Tỷ giá bán USD/VND

Tỷ giá mua USD/JPY

Trang 19

Tỷ giá cố định là tỷ giá không biến động trong phạm vi thời gian

nào đó

2.3.2 Căn cứ vào thời điểm mua bán.

Tỷ giá đóng cửa: Thông thường ngân hàng không công bố tất cả tỷ

giá của các hợp đồng đã kí kết trong một ngày mà chỉ công bố tỷ giá của hợpđồng kí cuối cùng trong ngày đó, người ta gọi là tỷ giá đóng cửa Tỷ giá đóngcửa được coi là chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động của tỷ giá trong ngày đó

Tỷ giá mở cửa: Là tỷ giá của chuyến giao dịch ngoại hối đầu tiên

trong một ngày

2.3.3 Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng.

Tỷ giá mua: Là tỷ giá ngân hàng mua ngoại hối vào.

Tỷ giá bán: Là tỷ giá ngân hàng bán ngoại hối ra.

2.3.4 Căn cứ vào phương thức chuyển ngoại hối.

Tỷ giá điện hối (T/T): Tức là tỷ giá mua bán ngoại tệ và các giấy

tờ có giá bằng ngoại tệ được chuyển bằng điện Đây là loại tỷ giá thường đượcniêm yết tại các ngân hàng và là cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác

Tỷ giá thư hối: (M/T): Tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư 2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái.

2.4.1 Quan hệ cung cầu về ngoại hối trên thị trường.

Tỷ giá hối đoái biểu thị giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này bằng một

số đơn vị tiền tệ nước kia Do vậy tỷ giá hối đoái sẽ biến động phụ thuộc vào

mối quan hệ giữa cung và cầu về ngoại hối trên thị trường Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối có thể bao gồm:

Cán cân thanh toán quốc tế:

Nếu cán cân thanh toán quốc tế dư thừa thì có thể dẫn đến khả năngcung ngoại hối lớn hơn cầu ngoại hối Trong trường hợp này tỷ giá hối đoái có

xu hướng giảm

Nếu cán cân thanh toán quốc tế thiếu hụt thì có thể dẫn đến khả năngcầu ngoại hối lớn hơn cung ngoại hối Trong trường hợp này tỷ giá hối đoái có

xu hướng tăng

Thu nhập thực tế tăng lên (tức là mức độ tăng của GNP thực tế)

sẽ làm tăng nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu, do đó làm cho nhu cầungoại hối để thanh toán hàng nhập khẩu tăng lên

Trang 20

Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước: Trong điều kiện nền kinh

tế mở, nước nào có lãi suất ngắn hạn cao hơn nước khác hoặc cao hơn LIBID(London interbank Bid rate – lãi đi vay Liên ngân hàng quốc tế ở London) thìvốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra tại đó Do

đó sẽ làm cho cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm đi và tỷ giá hối đoái

sẽ có xu hướng giảm

Những nhu cầu ngoại hối bất thường tăng lên do các nhân tố bất

khả kháng (thiên tai, hạn hán, chiến tranh, khủng bố, hoạt động đầu cơ ngoạitệ )

2.4.2 Mức chênh lệch về lạm phát giữa các nước.

Giả sử khi lạm phát tăng, đồng tiền sẽ bị mất giá, tức là để mua một loạihàng hóa ta sẽ mất nhiều tiền hơn Do đó, khi ta so sánh tỷ lệ lạm phát của 2nước hay so sánh sức mua của hai đồng tiền Nếu mức lạm phát của một nướcnày cao hơn mức lạm phát của một nước khác, thì sức mua của nội tệ sẽ giảm

Và làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên Giả sử, mức lạm phát của VN cao hơnUSA, tính cùng thời điểm Khi đó, sức mua của đồng VND giảm, VND mất giá.Dẫn đến tỷ giá hối đoái tăng

VD Một hàng hoá A ở Mỹ có giá trị 1 USD, tại Việt Nam là 18.000

VND, có nghĩa là ngang giá sức mua đối nội của hai tiền tệ này là USD/VND =

18.000.

Nếu ở Mỹ có mức lạm phát là 5% và ở Việt Nam là 10% thì giá loại hàng

A ở Mỹ tăng lên là 1,05 USD, ở Việt Nam tăng lên là 19.800 VND Do đóngang giá sức mua đối nội sẽ là 1,05 USD = 19.800 VND

USD/VND = = 18.857

Tỷ giá trước lạm phát: USD/VND = 18.000

Tỷ giá sau lạm phát: USD/VND = 18.857

Mức chênh lệch tỷ giá là 857 VND hay là 4.76 %, trong khi đó mức

chênh lệch lạm phát là 5%, Hai mức chênh lệch này có thể coi là tương đươngnhau

Qua đó, có thể nhận thấy tỷ giá biến động do lạm phát phụ thuộc vào mứcchênh lệch lạm phát của hai đồng tiền và nước nào có mức lạm phát lớn hơn thìđồng tiền nước đó giảm sức mua hơn

19.8001,05

Trang 21

Nếu không tính đến các nhân tố khác, chỉ tính riêng ảnh hưởng của nhân

tố lạm phát, ta có thể dự đoán được sự biến động của tỷ giá trong tương lai

VD: Tỷ giá USD/VND bình quân năm 2008 là 16.000 Mức lạm phát của

Mỹ Là 2%/Năm, của Việt Nam là 8%/năm Dự đoán tỷ giá USD/VND năm2009

USD/VND = 16.000 + 16.000 (0.08 - 0.02) = 16.000 + 960 = 16.960

2.5 Phương pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái.

Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, TGHĐ chịu ảnh hưởng của nhiềunhân tố và biến động một cách tự phát Nhà nước có thể áp dụng nhiều biệnpháp để điều chỉnh TGHĐ Các biện pháp chủ yếu để điều chỉnh TGHĐ:

để thu lãi cao Lượng vốn góp vào sẽ góp phần làm dịu sự căng thẳng của cầungoại hối, do đó TGHĐ sẽ có xu hướng giảm xuống

Chính sách chiết khấu cũng chỉ có ảnh hưởng nhất định và có hạn đối vớiTGHĐ, bởi vì giữa tỷ giá và lãi suất không có quan hệ nhân quả, lãi suất khôngphải là nhân tố duy nhất quyết định sự vận động vốn giữa các nước

Lãi suất biến động do tác động của quan hệ cung cầu của vốn cho vay.Còn TGHĐ thì do quan hệ cung cầu về ngoại hối quyết định mà quan hệ này lại

do tình hình của cán cân thanh toán quốc tế dư thừa hay thiếu hụt quyết định.Như vậy là nhân tố hình thành lãi suất và tỷ giá không giống nhau, do đó màbiến động của lãi suất không nhất định đưa TGHĐ biến động theo

Lãi suất lên cao có thể thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chảy vào,nhưng trong tình hình chính trị, kinh tế và tiền tệ trong nước đó không ổn địnhthì không nhất thiết thực hiện được, bởi vì đối với vốn nước ngoài vấn đề lúc đóđặt ra là sự đảm bảo an toàn cho số vốn chứ không phải là vấn đề thu được lãinhiều

Trang 22

VD: Trong cuộc khủng hoảng đô la Mỹ vừa qua, mặc dù lãi suất trên thị

trường New York cao gấp rưỡi thị trường London, gấp ba lần thị trường TâyĐức nhưng vốn ngắn hạn không chạy vào thị trường Mỹ mà đỗ dồn vào TâyĐức và Nhật Bản, mặc dù các nước này thực hiện chính sách lãi suất thấp, bỡi vìnguy cơ phá giá đô la đã sắp trở thành hiện thực

Tuy nhiên không nên hoàn toàn coi thường chính sách chiết khấu Nếutình hình tiền tệ của các nước đều như nhau thì xu hướng đầu tư ngắn hạn vẫnhướng vào những nước có lãi suất cao Do đó, hiện nay chính sách chiết khấuvẫn còn có ý nghĩa của nó

VD: năm 1964 NH Anh nâng tỷ suất chiết khấu từ 5% đến 7%, do đó đã

thu hút được vốn ngắn hạn chảy vào Anh, góp phần giải quyết những khó khăncủa cán cân thanh toán quốc tế của Anh

2.5.2 Sự can thiệp trực tiếp vào thị trường hối đoái

Là biện pháp tác động trực tiếp vào TGHĐ, có nghĩa là ngân hàng trungưng hay các cơ quan ngoại hối của Nhà nước dùng nghiệp vụ mua bán ngoại hốitrực tiếp để điều chỉnh TGHĐ

Khi TGHĐ lên cao, Ngân hàng trung ưng tung ngoại hối ra bán để kéoTGHĐ xuống Muốn thực hiện được biện pháp này, Ngân hàng trung ưng phải

có dự trữ ngoại hối lớn Song nếu tình hình thiếu hụt của các cân thanh toánquốc tế của một nước kéo dài thì khó có thể có nguồn dự trữ ngoại hối lớn đểthực hiện chính sách này

Chính sách chiết khấu và chính sách ngoại hối đều dẫn đến mâu thuẫngiữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước bắt nguồn chủ yếu từ lợi ích kinh tếcủa nhau Nhà xuất khẩu muốn nâng cao TGHĐ trong khi nhà nhập khẩu muốn

hạ thấp TGHĐ xuống, nhà xuất khẩu vốn muốn hạ thấp TGHĐ còn nhà nhậpkhẩu vốn muốn năng cao TGHĐ và mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩavới nhau, vì tỷ giá của một nước nâng lên thì hạn chế nhập khẩu hàng của nướckhác nhưng lại khuyến khích xuất khẩu vốn của nước khác, do đó làm cho cáncân thương mại và cán cân thanh toán của nước ngoài đó với nước thực hiện haichính sách này bị thiệt hại

2.5.3 Lập quỹ bình ổn tỷ giá.

Mục đích của quỹ này là nhằm tạo ra một cách chủ động một lượng dựtrữ ngoại hối để ứng phó với sự biến động của tỷ giá hối đoái thông quachính sách hoạt động công khai tr ên thị trường

Phương pháp lập quỹ: Quỹ này được hình thành bằng những cách dưới đây:

 Phát hành trái phiếu kho bạc bằng đồng tiền quốc gia Khi ngoại tệ nhiều

Trang 23

thì sử dụng quỹ này để mua ngoại tệ nhằm hạn chế mức độ mất giá củangoại tệ Ngược lại, trong trường hợp vốn chạy ra nước ngoài, quỹ bình ổntung ngoại tệ ra bán nhằm ngăn chặn sự tăng giá ngoại tệ

 Sử dụng vàng để lập quỹ Khi cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt, quỹ

dự trữ hối đoái sẽ đưa vàng ra bán thu ngoại tệ về để cân bằng cán cânthanh toán

2.5.4 Phá giá tiền tệ

Phá giá tiền tệ là sự đánh tụt sức mua của đồng nội tệ so với ngoại tệ hay

là nâng cao tỷ giá hối đoái của một đơn vị ngoại tệ

Ví dụ: tháng 12/1971, USD phá giá 7.89%, tức là giá của 1 GBP tăng lên

từ 2.40USD lên 2.605USD, hay là sức mua của USD giảm từ 0.416GBP xuốngcòn 0.383GBP

Tác dụng của phá giá tiền tệ có thể là:

 Khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu hàng hóa, do đó có tácdụng khôi phục lại sự cân bằng của cán cân ngoại thương, nhờ vậy góp phầncải thiện cán cân thanh toán quốc tế

 Khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối và hạn chế xuất khẩu vốn haychuyển tiền ra nước ngoài, làm cho cung ngoại hối tăng và giảm nhu cầu vềngoại hối, nhờ đó tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống

 Khuyến khích du lịch vào trong nước, hạn chế du lịch ra nước ngoài, vìvậy quan hệ cung cầu ngoại hối bớt căng thẳng

 Cướp không một phần giá trị thực tế của những ai nắm đồng tiền phágiá trong tay

Tác dụng chủ yếu của phá giá tiền tệ là nhằm cải thiện cán cân thươngmại Tuy nhiên có thực hiện được điều này hay không còn phụ thuộc vào khảnăng đẩy mạnh xuất khẩu của nước tiến hành phá giá tiền tệ và khả năngcạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của nước đó

2.5.5 Nâng giá tiền tệ

Nâng giá tiền tệ là việc nâng cao sức mua của đồng nội tệ so với ngoại

tệ làm cho tỷ giá hối đoái giảm

Ảnh hưởng của nâng giá tiền tệ đối với ngoại thương của một nướchoàn toàn ngược lại với phá giá tiền tệ Nâng giá tiền tệ thường xảy ra dưới

áp lực của nước khác mà nước này mong muốn tăng khả năng cạnh tranhhàng hóa của mình vào nước có cán cân thanh toán và cán cân thương mại dưthừa

Trang 24

Ví dụ Đức là nước có cán cân thanh toán và cán cân thương mại dưthừa đối với Mỹ, Anh và Pháp Để hạn chế xuất khẩu hàng hóa của Đứcvào các nước này, 3 nước này ép Đức phải nâng giá đồng tiền của mình.Dưới áp lực của các nước bạn hàng Đức đã phải nhiều lần tăng giá DEM.Đối với đồng JYP của Nhật cũng tương tự như vậy.

Ngoài ra, không ngoại trừ khả năng để tránh phải tiếp nhận đồng USDmất giá chạy vào nước mình và giữ vững lưu thông tiền tệ và tín dụng, duytrì sự ổn định của tỷ giá hối đoái, chính phủ Đức và Nhật coi biện phápnâng giá đồng tiền của mình như là một biện pháp hữu hiệu Việc nâng giáđồng JYP của Nhật cũng tạo điều kiện để Nhật chuyển vốn ra nước ngoàinhằm xây dựng một nước Nhật “kinh tế” trong lòng các nước khác, nhờ đó

mà Nhật giữ vững được thị trường bên ngoài

Trang 25

CHƯƠNG 3 THANH TOÁN TRONG NỀN KINH TẾ

THỊ TRƯỜNG

Mục tiêu

Nhằm trang bị cho người học một số kiến thức cơ bản về thanh toán trong nền kinh tế thị trường, thanh toán tiền mặt và không dùng tiền mặt, các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt

3.1 Thanh toán tiền mặt trong nền kinh tế thị trường.

3.1.1 Khái niệm

Tiền mặt là tiền đang có giá trị lưu hành, chúng có hình dáng, kích thước và

tiêu chuẩn giá cả nhất định được luật pháp Nhà nước thừa nhận

Thanh toán bằng tiền mặt là quan hệ thanh toán trực tiếp giữa người mua

và người bán bằng cách sử dụng tiền mặt.

Ở Việt Nam thanh toán bằng tiền mặt được thực hiện chủ yếu bởi đồng tiền

do Nhà nước Việt Nam phát hành và bắt buộc lưu thông đó là đồng Việt Nam(VND)

3.1.2 Ưu và nhược điểm của thanh toán tiền mặt.

Ưu điểm:

Đảm bảo thoả mãn các giao dịch thường xuyên hàng ngày có giá trị nhỏcủa doanh nghiệp, cá nhân Nếu dùng phương thức thanh toán không dùng tiềnmặt sẽ mất nhiều thời gian, thủ tục nên kém hiệu quả Tuy nhiên, thanh toánbằng tiền mặt có những nhược điểm sau

 Thiếu an toàn, dễ bị mất cắp, thừa, thiếu, tiền giả…

Ngày nay trong nền kinh tế thị trường hiện đại, việc thanh toán bằng tiềnmặt chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong chu chuyển hàng hoá, bởi vì phương thức thanhtoán không dùng tiền mặt nhanh chóng, an toàn và hiệu quả hơn

3.2 Thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị trường.

3.2.1 Khái niệm.

Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là chỉ các nghiệp vụ chi trảtiền hàng hóa, dịch vụ được thực hiện bằng cách trích chuyển một số tiền từ tài

Ngày đăng: 25/01/2022, 13:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w