LA không chỉ giúp cho GV có thể tự đánh giá các HĐHT của mình, hiểu được các HĐHT đó đang ở mức độ nào mà còn cung cấp những định hướng quan trọng để thúc đẩy GV suy nghĩ, tìm tòi, sáng
Trang 1Vận dụng LA để đánh giá và cải tiến hoạt động học tập
trong dạy học sinh học
Trần Khánh Ngọc
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 136 Xuân Thủy, Hà Nội, Việt Nam
Email: ngoctunga1@gmail.com
Tóm tắt LA (Learning Activity) là bộ công cụ cho phép đánh giá các hoạt động học tập
được xây dựng và phát triển từ các nghiên cứu về Dạy và Học sáng tạo (ITL Research)
LA xem xét các phương diện khác nhau của một HĐHT, đó là: (1) Xây dựng kiến thức, (2) Hợp tác, (3) Ứng dụng CNTT, (4) Tự điều chỉnh và (5) Giải quyết vấn đề thực tế LA không chỉ giúp cho GV có thể tự đánh giá các HĐHT của mình, hiểu được các HĐHT đó đang ở mức độ nào mà còn cung cấp những định hướng quan trọng để thúc đẩy GV suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo thêm các cách thức tổ chức hoạt động khác nhằm tích cực hóa hoạt động của
HS, đem đến cho HS nhiều cơ hội hơn trong việc lĩnh hội kiến thức cũng như rèn luyện các kĩ năng liên môn - một yêu cầu quan trọng của giáo dục trong thế kỉ 21.
Từ khóa: Hoạt động học tập, đánh giá, cải tiến, dạy học, tích cực hóa người học
1 Đặt vấn đề
Hoạt động học tập (HĐHT) là các nhiệm vụ mà học sinh (HS) phải thực hiện trong quá trình học tập một nội dung nào đó Các HĐHT thường được giáo viên (GV) chỉ định, hoặc cũng có thể do HS tự tổ chức HĐHT có thể được tiến hành trên lớp, hoặc dưới dạng bài tập về nhà, hoặc như một phần của một dự án học tập
Trong dạy học, việc đánh giá một HĐHT có hiệu quả hay không là một việc làm rất quan trọng vì nó không chỉ cung cấp thông tin phản hồi cho GV để có thể tự điều chỉnh việc giảng dạy của mình sao cho phù hợp với nhu cầu và sự phát triển hiện tại của HS,
mà còn có vai trò định hướng cho GV nhằm tổ chức các HĐHT tốt hơn, giúp tích cực hóa hoạt động của HS trong quá trình học tập
Bài viết này giới thiệu và bàn luận về bộ công cụ LA (Learning Activity) - được xây dựng và phát triển từ các nghiên cứu về Dạy và Học sáng tạo (Innovative Teaching and Learning Research - ITL Research) - nhằm cung cấp thêm một số hiểu biết cho GV trong vấn đề đánh giá các HĐHT Bên cạnh đó, qua phân tích ví dụ cụ thể trong môn Sinh học (SH), bài viết cũng đề xuất các bước sử dụng LA để cải tiến HĐHT, hướng tới việc hình thành và phát triển cho HS những kĩ năng học tập của thế kỉ 21
2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu của chương trình Dạy và Học sáng tạo về công cụ LA và việc sử dụng LA để đánh giá các HĐHT
Nghiên cứu việc vận dụng LA để đánh giá và cải tiến HĐHT trong dạy học SH
Trang 23 Kết quả và thảo luận
3.1 Giới thiệu về bộ công cụ LA
Bộ công cụ LA được xây dựng và phát triển từ các nghiên cứu về Dạy và Học sáng
tạo (ITL Research), được tài trợ bởi chương trình Đối tác học tập (Partner in Learning)
của tập đoàn Microsoft kết hợp với các tài liệu từ đề án Teacher assignment/Student work thuộc quỹ Bill & Melinda Gates nhằm cung cấp cho GV các chỉ dẫn để đánh giá một HĐHT [3,4]
LA xem xét các phương diện khác nhau của một HĐHT, đó là: (1) Xây dựng kiến thức, (2) Hợp tác, (3) Ứng dụng CNTT, (4) Tự điều chỉnh và (5) Giải quyết vấn đề thực tế
Ở mỗi phương diện đều có thang đánh giá với các mã điểm lần lượt từ 1 đến 4 (bảng 1)
(1) Xây dựng kiến thức - trả lời cho câu hỏi: HĐHT kích thích HS xây dựng kiến
thức ở mức độ nào, và đó có phải là kiến thức liên môn không?
Quá trình xây dựng kiến thức diễn ra khi HS gắn kết thông tin mới với kiến thức có sẵn của họ để sản sinh ra các ý tưởng và hiểu biết còn mới lạ đối với họ bằng cách sử dụng ít nhất một trong các thao tác tư duy như giải thích, phân tích, tổng hợp, hoặc thẩm định/đánh giá Nếu HS chỉ đơn thuần được yêu cầu mô phỏng lại thông tin mà họ đã đọc hoặc nghe từ các bài giảng, sách giáo khoa (SGK), hay thông qua việc tiếp xúc với mạng internet hoặc truyền thông thì đó không được coi là xây dựng kiến thức
(2) Hợp tác - trả lời cho câu hỏi: HĐHT yêu cầu HS phải hợp tác với người khác ở
mức độ nào?
Phương diện này xem xét liệu HS có làm việc với những người khác trong HĐHT hay không và chất lượng của sự hợp tác đó như thế nào? (chỉ đơn thuần là giúp đỡ nhau hay cần phải chia sẻ trách nhiệm với nhau khi thực hiện công việc, hay phải cùng nhau đưa ra những quyết định quan trọng đối với sản phẩm chung của cả nhóm )
(3) Sử dụng CNTT - trả lời cho câu hỏi: Việc sử dụng CNTT có hỗ trợ HS xây
dựng kiến thức không? Liệu HS có thể đạt được những kiến thức tương tự mà không cần
sử dụng CNTT?
Phương diện này tập trung vào việc HS sử dụng CNTT để hỗ trợ cho hoạt động xây
dựng kiến thức của mình chứ không xem xét việc GV sử dụng CNTT như thế nào trong bài giảng đó Mức độ sử dụng CNTT trong HĐHT của HS có thể được sắp xếp từ thấp đến cao gồm: không có cơ hội sử dụng CNTT; sử dụng CNTT để mô phỏng lại kiến thức; sử dụng CNTT để hỗ trợ xây dựng kiến thức và sử dụng CNTT như một công cụ bắt buộc để xây dựng kiến thức
(4) Tự điều chỉnh - trả lời cho câu hỏi: HĐHT diễn ra trong bao lâu? HS có được
tự lên kế hoạch cũng như tự đánh giá công việc của mình hay không?
Phương diện này xem xét liệu HĐHT có mang lại cho HS cơ hội để rèn luyện các
kĩ năng tự điều chỉnh, như kĩ năng lập kế hoạch, kiểm soát và tự đánh giá công việc cũng như sự tiến bộ của mình hay không Các HĐHT đáp ứng được điều đó thường là các hoạt động dài hơi, kéo dài khoảng một tuần hoặc hơn GV có thể tăng cường việc rèn luyện cho HS các kĩ năng này bằng cách giao nhiệm vụ và để HS tự quyết định vai trò của các thành viên trong nhóm, tự lên kế hoạch hành động Bên cạnh đó, GV cũng
Trang 3nên cung cấp trước các tiêu chí đánh giá sản phẩm nhằm giúp HS định hướng tốt hơn cũng như có thể tự đánh giá về công việc của mình
(5) Giải quyết vấn đề (GQVĐ) thực tế - trả lời cho câu hỏi: HĐHT có đòi hỏi các
vấn đề thực tế không? Các giải pháp của HS có được thực hiện trong thực tế hay không?
Trong dạy học truyền thống, các kiến thức mà HS được học thường tách biệt và xa rời thực tế Phương diện này xem xét liệu HĐHT đó có đòi hỏi HS GQVĐ, sử dụng các
dữ liệu hoặc các bối cảnh thực tế không Việc GQVĐ có thể bao gồm việc HS đưa ra các giải pháp cho một vấn đề mới đối với họ, hoặc thực hiện một nhiệm vụ mà họ chưa được dạy cách làm, hoặc thiết kế một sản phẩm phức tạp đòi hỏi nhiều nguồn lực và cần trải qua các công đoạn khác nhau
3.2 Sử dụng LA để đánh giá và cải tiến HĐHT trong dạy học SH
Với các tiêu chí rõ ràng ứng với mỗi mã điểm, LA cho phép GV có thể tự đánh giá xem HĐHT mà mình tổ chức cho HS hiện đang được tổng điểm bao nhiêu, trong đó điểm thành phần của từng phương diện như thế nào Trên cơ sở đó, GV có thể thay đổi, cải tiến cách thức tổ chức hoạt động cho HS, hướng tới các tiêu chí ở cấp độ cao hơn trong từng phương diện của HĐHT
Bảng 1 Thang đánh giá các phương diện (Pd) của HĐHT [3]
Xây
dựng
kiến
thức
trình xây dựng kiến thức, nhưng không phải là yêu cầu chính của hoạt động
HS thu nhận kiến thức chủ yếu do lắng nghe GV giảng, đôi lúc tham gia trả lời một số câu hỏi mở rộng kiến thức
Kiến thức được xây dựng trong nội tại một môn học
HS thu nhận kiến thức thông qua việc phân tích, tổng hợp thông tin để hoàn thiện một nhiệm vụ mà GV giao
Kiến thức được xây dựng liên quan đến hai hoặc nhiều môn khác nhau
HS viết một lá thư bằng tiếng Anh giới thiệu một thắng cảnh của Việt Nam cho bạn là người nước ngoài
Hợp
tác
hoặc theo nhóm
HS làm việc cá nhân hoặc cả lớp cùng thảo luận một chủ đề
hoặc nhóm, nhưng họ không chia sẻ trách nhiệm với nhau
Theo cặp, HS góp ý cho nhau về sản phẩm của mỗi cá nhân
họ không cần phải cùng nhau đưa ra những quyết định quan trọng
Mỗi HS trong nhóm thực hiện một bước trong quy trình được GV hướng dẫn để tạo ra một sản phẩm nào đó
nhau đưa ra các quyết định quan trọng
về nội dung, quá trình, hoặc sản phẩm của công việc
HS làm việc nhóm để tạo bài trình bày
về một chủ đề nào đó Các em phải cùng nhau quyết định nên chọn những nội dung gì, cấu trúc, hình thức của bài trình bày như thế nào
trong HĐHT này
HS tìm ra kiến thức mới bằng cách làm bài tập trong phiếu học tập
Trang 4Sử
dụng
CNTT
hành các kỹ năng cơ bản hoặc mô phỏng lại thông tin Họ không thực hiện quá trình xây dựng kiến thức
HS đánh máy bài văn để nộp cho GV
HS tìm kiếm thêm các thông tin bổ sung sau khi đã học về kiến thức đó
dựng kiến thức nhưng họ cũng có thể xây dựng kiến thức tương tự mà không cần đến CNTT
HS lĩnh hội được kiến thức về cấu trúc
tế bào thông qua việc sử dụng một mô phỏng cho phép kéo thả các thành phần của tế bào vào đúng vị trí
dựng kiến thức và nếu không có sự ứng dụng CNTT thì hoạt động xây dựng kiến thức sẽ không khả thi
HS sử dụng phần mềm thiết kế, thay đổi các chỉ số của mô hình ADN, xem trước các mô hình ứng với mỗi thay đổi; từ đó chọn được mô hình phù hợp
Tự
điều
chỉnh
không được biết trước các tiêu chí đánh giá sản phẩm
HS phải tạo một bài trình bày về một chủ
đề nào đó nhưng GV không cung cấp trước các tiêu chí cho điểm bài trình đó
biết trước các tiêu chí đánh giá sản phẩm nhưng không có cơ hội lên kế hoạch cho công việc của mình
GV cho biết các tiêu chí cho điểm bài trình bày và chỉ dẫn các bước để tạo bài đó như thế nào
biết trước các tiêu chí đánh giá sản phẩm và có thể tự lên kế hoạch cho công việc của mình
HS tự lên kế hoạch về việc tìm kiếm thông tin, lựa chọn hình thức bài trình bày cho phù hợp với các tiêu chí đánh giá sản phẩm mà GV đã cung cấp
GQVĐ
thực tế
là GQVĐ HS sử dụng những điều đã học để hoàn thành nhiệm vụ
HS nghiên cứu SGK, tóm tắt các giai đoạn sinh trưởng của quần thể vi sinh vật và thời điểm nên thu sinh khối
nhưng vấn đề không có tính thực tế
HS nghiên cứu đồ thị mô tả sự sinh trưởng của quần thể vi sinh vật, từ đó tìm được các đặc điểm cho từng pha và
đề xuất thời điểm nên thu sinh khối
các vấn đề thực tế nhưng các giải pháp
mà HS đưa ra mang tính giả định
HS thiết kế thí nghiệm chứng minh tính hướng sáng của thực vật để nộp cho GV, đề xuất phương pháp trồng
để cây luôn mọc thẳng
các vấn đề thực tế và HS cần thực hiện các giải pháp đó trong bối cảnh thật
HS thiết kế và thực hiện thí nghiệm chứng minh tính hướng sáng của thực vật với đối tượng là đậu xanh
3.2.1 Sử dụng LA để đánh giá HĐHT
Khi tiến hành đánh giá HĐHT ở mỗi phương diện, GV cần lần lượt trả lời cho 3 câu hỏi theo thứ tự từ 1 đến 3 (bảng 2) Ở mỗi câu, nếu trả lời là KHÔNG thì được gán
mã điểm của câu đó, nếu trả lời là CÓ thì lại tiếp tục trả lời câu tiếp theo (với câu 3 nếu trả lời CÓ thì được gán mã điểm 4)
Trang 5Bảng 2 Các câu hỏi cần trả lời để gán điểm cho mỗi phương diện của HĐHT [2,3]
Xây dựng
kiến thức
1 HĐHT đó có yêu cầu HS tham gia xây dựng kiến thức không?
2 Việc xây dựng kiến thức có phải là hoạt động chủ yếu trong HĐHT này không?
3 Kiến thức được xây dựng trong HĐHT này có tính liên môn không?
Hợp tác
1 Trong HĐHT này, HS có được yêu cầu hoạt động cùng nhau theo cặp hoặc theo nhóm không?
2 HS có chia sẻ trách nhiệm với nhau khi thực hiện công việc không?
3 HS có cùng nhau đưa ra những quyết định quan trọng đối với sản phẩm chung của cả nhóm không?
Sử dụng
CNTT
1 Trong HĐHT này, HS có cơ hội sử dụng CNTT không?
2 CNTT có hỗ trợ HS trong việc xây dựng kiến thức không?
3 CNTT có thực sự là yếu tố bắt buộc phải có để xây dựng kiến thức này không?
Tự điều chỉnh
1 HĐHT đó có kéo dài khoảng một tuần hoặc hơn không?
2 HS có được cung cấp trước các tiêu chí đánh giá sản phẩm không?
3 HS có tự lên kế hoạch hoạt động không?
GQVĐ
thực tế
1 Yêu cầu chính của HĐHT có phải là GQVĐ không?
2 Vấn đề có mang tính thực tế không?
3 Có đòi hỏi HS thực hiện các giải pháp trong thực tế không?
Bên cạnh đó, khi sử dụng LA để đánh giá HĐHT, GV cũng cần dựa vào các nguyên tắc:
(1) Nguyên tắc về độ tuổi HS: hoạt động đó có phù hợp với độ tuổi của HS không? (2) Nguyên tắc về yêu cầu chính: đánh giá dựa trên yêu cầu chính của HĐHT - là
phần được HS dành thời gian và nỗ lực nhất
(3) Nguyên tắc chứng cứ: Cho điểm dựa trên chứng cứ (các tiêu chí cụ thể mà HS
đạt được khi thực hiện HĐHT), không dựa trên suy đoán về ý định của GV
(4) Nguyên tắc chặt chẽ: Khi thấy khó quyết định giữa hai mã điểm đối với một
HĐHT (ví dụ, giữa mã điểm 2 và mã điểm 3), hãy chọn mã điểm thấp hơn Chỉ chọn mã điểm cao hơn khi tìm được đầy đủ các chứng cứ rằng HS đạt được các tiêu chí của mã điểm đó
Có thể thấy, nếu HĐHT có tổng điểm càng cao thì vai trò và sự hợp tác của HS trong việc thực hiện hoạt động đó càng lớn Tuy nhiên, không phải lúc nào HĐHT có tổng điểm cao cũng là tốt vì nó còn phụ thuộc vào nội dung kiến thức và các bối cảnh học tập cụ thể
* Ví dụ về việc sử dụng LA để đánh giá HĐHT trong dạy học SH
Khi dạy nội dung I.1 Sự phân chia nhân - Bài 29 Nguyên phân (SGK Sinh học 10 nâng cao trang 95), một GV đã tổ chức hoạt động học tập như sau:
Tên hoạt động: Tìm hiểu diễn biến của quá trình phân chia nhân [1]
GV tổ chức hoạt động theo hệ thống câu hỏi sau:
1 Hỏi: Quá trình nguyên phân được chia thành mấy giai
đoạn chính? Đó là những giai đoạn nào?
2 Chiếu hình 29.1 SGK, yêu cầu HS quan sát hình, phát
hiện những thay đổi của hình B so với hình A, từ đó cho biết
những sự kiện xảy ra ở kì đầu
1 Suy nghĩ để trả lời
2 Quan sát hình, phát hiện thông tin để trả lời
Trang 63 Yêu cầu HS quan sát, phát hiện những thay đổi của hình C
so với hình B, từ đó cho biết những sự kiện xảy ra ở kì giữa
4 Yêu cầu HS quan sát, phát hiện những thay đổi của hình D
so với hình C, từ đó cho biết những sự kiện xảy ra ở kì sau
5 Yêu cầu HS quan sát, phát hiện những thay đổi của hình E
so với hình D, từ đó cho biết những sự kiện xảy ra ở kì cuối
3 Quan sát hình, phát hiện thông tin để trả lời
4 Quan sát hình, phát hiện thông tin để trả lời
5 Quan sát hình, phát hiện thông tin để trả lời
Sử dụng LA để đánh giá hoạt động trên, điểm thu được như sau:
Xây dựng
kiến thức
Việc xây dựng kiến thức là hoạt động chủ yếu
Kiến thức được xây dựng trong nội tại một môn học
3
Hợp tác HS làm việc cá nhân (vì GV không nói rõ là có hoạt động
nhóm hay không)
1
Tự điều chỉnh HĐHT diễn ra trong thời gian của một tiết học 1
3.2.2 Sử dụng LA để cải tiến HĐHT
Bên cạnh việc cung cấp các tiêu chí rõ ràng để GV có thể tự cho điểm về mỗi phương diện của HĐHT, LA còn mang tính chất định hướng cho GV trong việc cải tiến các HĐHT đó Xuất phát từ việc xác định được HĐHT mà mình tổ chức hiện đang ở mức độ nào trong mỗi phương diện, GV có thể thay đổi, cải tiến cách thức tổ chức hoạt động cho
HS để nâng cao mức điểm trong từng phương diện, từ đó nâng cao tổng điểm của HĐHT
Cụ thể, khi sử dụng LA để cải tiến các HĐHT đã có, GV cần trải qua các bước sau đây:
Bước 1: Sử dụng LA để đánh giá mức độ hiện tại của HĐHT đó (lần lượt trả lời 3 câu
hỏi cho mỗi phương diện, từ đó xác định điểm thành phần và tổng điểm của HĐHT)
Bước 2: Ở mỗi phương diện, tiếp tục trả lời câu hỏi: Liệu có thể làm tăng điểm cho
mỗi phương diện của HĐHT này không? Nếu được thì nên thay đổi như thế nào?
Bước 3: Thiết kế lại HĐHT, kiểm tra sự phù hợp giữa hoạt động của HS với nội
dung kiến thức và hoàn cảnh học tập hiện có
Bước 4: Sử dụng LA để đánh giá hoạt động vừa cải tiến
* Ví dụ về việc sử dụng LA để cải tiến HĐHT trong dạy học SH
Sử dụng các tiêu chí của thang đánh giá LA làm định hướng, có thể cải tiến HĐHT trong ví dụ ở phần 2.2 theo một số cách sau:
Cách 1: Cải tiến ở mức độ trung bình
1 Chia HS thành các nhóm nhỏ từ 3 - 5 em/nhóm
2 Nêu tình huống: Một bạn HS muốn xác định số lượng nhiễm sắc thể (NST) trong
tế bào lưỡng bội của một loài Theo em, để làm được việc đó thì bạn ấy nên quan sát và đếm số lượng NST ở kì nào trong quá trình nguyên phân, tại sao?
3 Phát cho mỗi nhóm một phiếu học tập có nội dung như sau:
Trang 7Các kì của
nguyên phân Diễn biến cơ bản
Đề xuất của em về thời điểm đếm
số lượng NST trong tế bào, tại sao?
Kì đầu
Kì giữa
Kì sau
Kì cuối
Yêu cầu HS nghiên cứu mục I.1 và hình 29.1 SGK sinh học 10 nâng cao (trang 96), thảo luận nhóm để hoàn thành phiếu học tập trên trong thời gian 7 phút
4 Bốc thăm để chọn đại diện các nhóm lên báo cáo kết quả, các nhóm khác nhận xét, bổ sung để hoàn thiện kiến thức
5 Yêu cầu HS về nhà tìm thêm các hình ảnh, video trên Internet về quá trình nguyên phân và một số ứng dụng của quá trình nguyên phân trong đời sống sản xuất, nộp sản phẩm cho GV vào buổi học sau
Sử dụng LA để đánh giá hoạt động trên, điểm thu được như sau:
Xây dựng
kiến thức
Việc xây dựng kiến thức là hoạt động chủ yếu
Kiến thức được xây dựng trong nội tại một môn học
3
Hợp tác HS làm việc nhóm, chia sẻ trách nhiệm để hoàn thành phiếu
học tập được giao
3
Sử dụng CNTT HS sử dụng CNTT để mô phỏng, củng cố kiến thức đã học 2
Tự điều chỉnh HĐHT diễn ra trong thời gian của một tiết học 1
GQVĐ thực tế Yêu cầu chính của HĐHT là GQVĐ nhưng vấn đề không có
tính thực tế
2
Cách 2: Cải tiến ở mức độ cao
1 Hai tuần trước khi học bài 29 Nguyên phân, GV chia HS thành các nhóm và nêu tình huống như sau: Tổ Sinh học của trường đang có nhu cầu mua một số mô hình về quá trình nguyên phân để phục vụ cho việc giảng dạy Mỗi nhóm HS đóng vai trò là một công ty thiết kế và chế tạo đồ dùng dạy học, nhiệm vụ của các em là nghiên cứu, tìm hiểu thông tin về quá trình nguyên phân trên internet hoặc các nguồn khác, sau đó chế tạo một bộ mô hình mô tả diễn biến của quá trình nguyên phân ở tế bào động vật hoặc thực vật Sản phẩm của các nhóm sẽ được trưng bày trong tiết Sinh học (hai tuần tới) để tham gia "đấu thầu" Nhóm "trúng thầu" sẽ được kí hợp đồng với tổ Sinh học để sản xuất 5 bộ mô hình mà nhóm đó đề xuất
2 GV cung cấp cho các nhóm thang tiêu chí chấm điểm của buổi đấu thầu, gồm:
Trang 83 Sau hai tuần, tổ chức "đấu thầu" mô hình (có đại diện tổ Sinh tham dự) và để các nhóm đánh giá chéo dựa trên phiếu đánh giá Kết quả được tổng hợp từ phiếu đánh giá của các nhóm, phiếu đánh giá của GV và đại diện tổ Sinh để quyết định nhóm chiến thắng
Sử dụng LA để đánh giá hoạt động trên, điểm thu được như sau:
Xây dựng
kiến thức
Việc xây dựng kiến thức là hoạt động chủ yếu Khi thực hiện nhiệm vụ, các em không chỉ học được kiến thức trong môn SH
mà còn học được nhiều kiến thức và kĩ năng khác
4
Hợp tác HS làm việc nhóm, chia sẻ trách nhiệm và cùng nhau đưa ra các
quyết định quan trọng đối với sản phẩm chung của cả nhóm
4
Sử dụng CNTT HS sử dụng CNTT (ví dụ tìm kiếm thông tin trên Internet) để
hỗ trợ cho việc xây dựng kiến thức, nhưng CNTT không phải
là yếu tố bắt buộc (HS vẫn có thể tìm kiếm qua sách báo trên thư viện )
3
Tự điều chỉnh HĐHT kéo dài hơn một tuần, HS được biết trước các tiêu chí đánh
GQVĐ
thực tế
Yêu cầu chính của HĐHT là giải quyết các vấn đề thực tế và HS cần thực hiện các giải pháp đó trong bối cảnh thật
4
Có thể thấy, sau khi được cải tiến, tính tích cực, chủ động và sự tương tác giữa các
HS trong HĐHT được tăng lên đáng kể Ngoài các cách cải tiến trên, GV cũng có thể sáng tạo thêm các cách tổ chức khác phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương
Kết luận
LA là một bộ công cụ cho phép đánh giá 5 phương diện khác nhau của một HĐHT
LA không chỉ giúp cho GV có thể tự đánh giá các HĐHT của mình, hiểu được các HĐHT đó đang ở mức độ nào mà còn cung cấp những định hướng quan trọng để thúc đẩy GV suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo thêm các cách thức tổ chức hoạt động khác nhằm tích cực hóa hoạt động của HS, đem đến cho HS nhiều cơ hội hơn trong việc lĩnh hội kiến thức cũng như rèn luyện các kĩ năng liên môn - một yêu cầu quan trọng của giáo dục trong thế kỉ 21
Tài liệu tham khảo
[1] Bùi Văn Sâm, Phạm Thị My, Thiết kế bài giảng Sinh học 10 nâng cao theo hướng
đổi mới phương pháp dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006
[2] Linda Shear, Barbara Means, Larry Gallagher, Ann Hoause, Maria Langworthy,
ITL Research Design, 9/2009, www.itlresearch.com
[3] Innovative Teaching and Learning Research, ITL LEAP21 Learning activity rubrics,
2012, www.itlresearch.com
[4] Microsoft's Partner and learning, Innovative Teaching and Learning Research: The
Pilot year full report, 10/2010, www.itlresearch.com
Trang 9
Applying LA to evaluate and improve learning activities
in teaching Biology
Tran Khanh Ngoc
Hanoi National University of Education
Learning Activity (LA) is the lastest report based on Innovative Teaching and Learning (ITL) researches, sponsored by Microsoft’s Partners in Learning This tool helps teachers determining the extent to which each learning activity requires students
dimensions are (1) Knowledge building, (2) Collaboration, (3) Use of ICT for learning, (4) Self-regulation and (5) Real-world problem-solving Using LA to code learning activities in classroom, teacher not only could self-assess and regulate their teaching activities but also find out more ways to develop students's innovative learning activities
Keywords: Learning Activity, assessment, improve, teaching, learning