1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tính WQI, đánh giá và đề xuất giải pháp bảo vệ chất lượng nước cho lưu vực sông la ngà tỉnh bình thuận

194 218 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sông La Ngà có diện tích toàn lưu vực là 3990 km2, có chiều dài gần 299 km chảy qua địa ba tỉnh là Lâm Đồng, Bình Thuận và Đồng Nai, sự hợp thành của nhiều sông suối ở tả ngạn sông Đồng

Trang 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

TÍNH WQI, ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ CHẤT LƯỢNG NƯỚC CHO LƯU VỰC

SÔNG LA NGÀ TỈNH BÌNH THUẬN

Chuyên ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

TP Hồ Chí Minh, 2015

Trang 2

dung nhưng hoàn toàn chỉ mang tính chất tham khảo và không sao chép bất cứ nội dung của một bài đồ án khác Các số liệu trong bài đều có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực chưa từng được ai công bố trước đây

Tp, HCM, ngày 21 tháng 8 năm 2015

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 3

quê lên thành phố đi học, em còn rất nhiều bỡ ngỡ và lo lắng khi phải xa gia đình đến một môi trường mới hoàn toàn xa lạ đối với em Thế nhưng sau bốn năm, nững ngày tháng dưới mái trường Đại Học Công Nghệ , em đã được quen rất nhiều bạn

bè, thầy cô yêu mến, cùng tham gia những giờ lên lớp, cùng tham gia các hoạt động đoàn thể bổ ích để em được phát huy hết khả năng của bản thân Không biết từ khi nào em đã coi đây như một ngôi nhà thứ hai của mình vậy

Xuất phát từ những suy nghĩ đó, bản thân em xin được bày tỏ long biết ơn sâu sắc đến:

- Cha mẹ, người đã nuôi dưỡng và không ngừng tạo điều kiện cho em được thể hiện bản thân, làm điều có ích cho bản thân , gia đình và xã hội; đã luôn ở bên động viên, giúp em vượt qua khó khăn, hoàn thiện hơn trong cuộc sống

- Ban Giám hiệu trường Đại học Công Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo môi trường thuận lợi để chúng em được học tập và trao đổi kinh nghiệm sống

- Cảm ơn sự tận tình của các giảng viên nhà trường đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu giúp em vững bước trên con đường tương lai của mình

- Cảm ơn đặc biệt là thầy Huỳnh Phú ngưỡi đã trực tiếp chi dẫn và giúp

đỡ em tận tình để em hoàn thành đề tài tốt nghiệp trong suốt thời gian qua

“Nước xuôi dòng ngàn năm không đổi

Ơn trồng người mãi mãi không quên!

Thầy cô…! Con lấy gì báo đáp?!

Ân tình này khắc cốt ghi tâm…”

Và một lần nữa em xin chúc thầy cô thật nhiều sức khỏe đê tiếp tục sự nghiệp trồng người và là người lái đò đưa đàn em thân yêu qua sông đến bến bờ tri thức

Em xin chân thành cảm ơn

Sinh viên: NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Nội dung nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Đối tượng nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Kết cấu của đồ án 4

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG LA NGÀ TỈNH BÌNH THUẬN 5

1.1 Giới thiệu về lưu vực sông La Ngà tỉnh Bình Thuận 5

1.1.1 Vị trí địa lý 5

1.1.2 Đặc điểm khí hậu – khí tượng 7

1.1.3 Đặc điểm thủy văn nguồn nước 8

1.1.4 Đặc điểm địa hình - địa mạo 11

1.1.5 Hình thái lưu vực 12

1.2 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Đức Linh 13

1.2.1 Điều kiện tự nhiên 13

1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 16

1.2.3 Dân số , lao động, việc làm và thu nhập 20

1.2.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường 21

1.3 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Tánh Linh 23

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 23

1.3.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 28

1.3.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 33

1.4 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội Hàm Thuận Bắc 37

Trang 5

1.4.1 Điều kiện tự nhiên 37

1.4.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 40

1.4.3 Dân số, lao động , việc làm và thu nhập 45

1.4.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường 51

1.5 Những nguyên nhân chính làm thay đổi chất lượng nước trên lưu vực sông La ngà tỉnh Bình Thuận 52

1.5.1 Hoạt động của các cơ sở sản xuất kinh doanh 52

1.5.2 Nguồn gây ô nhiễm từ hoạt động của con người 55

1.5.3 Các tác động khác 56

1.6 Tải lượng một số nguồn thải chính trên lưu vực sông La Ngà tỉnh Bình Thuận 60

1.6.1 Nước thải sinh hoạt 60

1.6.2 Nước thải nông nghiệp 63

1.6.3 Nước thải y tế 64

1.6.4 Các nguồn ô nhiễm khác 64

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CHUNG VỀ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC WQI (WATER QUALITY INDEX) 65

2.1 Khái quát về chỉ số chất lượng nước 65

2.1.1 Tổng quan về chỉ số chất lượng nước 65

2.1.2 Khái niệm WQI 65

2.1.3 Lịch sử phát triển của phương pháp chỉ số chất lượng nước 66

2.1.4 Các ứng dụng chủ yếu của WQI bao gồm 68

2.1.5 Mục đích của việc áp dụng WQI 69

2.1.6 Phân tích một số dạng WQI 69

2.1.7 Quy trình xây dựng chỉ số WQI 70

2.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng chỉ số WQI của một số quốc gia trên thế giới 72

2.3 Tình hình nghiên cứu và áp dụng WQI tại Việt Nam 73

Trang 6

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN CHỈ SỐ WQI 74

3.1 Các nguyên tắc xây dựng chỉ số WQI 74

3.2 Quy trình tính toán WQI 74

CHƯƠNG 4: QUY TRÌNH THỰC HIỆN VÀ TÍNH TOÁN CHỈ SỐ WQI CHO LƯU VỰC SÔNG LA NGÀ TỈNH BÌNH THUẬN 79

4.1 Vị trí, phương pháp và thiết bị lấy mẫu 79

4.1.1 Các vị trí lấy mẫu 79

4.1.2 Các thiết bị và phương pháp lấy mẫu 81

4.2 Kết quả thực hiện 82

4.2.1 Quy chuẩn áp dụng cho lưu vực sông La Ngà tỉnh Bình Thuận 82

4.2.2 Kết quả quan trắc và phân tích chất lượng nước lưu vực sông La Ngà qua các năm 83

4.2.3 Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt 85

4.3 Áp dụng chỉ sô WQI vào kết quả phân tích mẫu nước tại các vị trí quan trắc 88

4.3.1 WQI tại các vị trí quan trắc năm 2011 88

4.3.2 WQI tại các vị trí quan trắc năm 2012 105

4.3.3 WQI tại các vị trí quan trắc năm 2013 122

4.4 Nhận xét 139

4.5 Giải pháp bảo vệ chất lượng nước lưu vực sông La Ngà tỉnh Bình Thuận 141 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 143

1 Kết luận 143

2 Kiến nghị 143

TÀI LIỆU THAM KHẢO 145

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BOD: nhu cầu oxy sinh học

BTNMT: Bộ tài nguyên và Môi trường

BVTV: Bảo vệ thực vật

CLN: Chất lượng nước

COD: Nhu cầu oxy hóa học

DO: Oxy hòa tan

HTXL: Hệ thống xử lý

KCN: Khu công nghiệp

KTXH: Kinh tế xã hội

QĐ-TCMT: Quyết định Tổng cục Môi trường

TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam

TSS: Tổng chất rắn lơ lửng

TTCN: Tiểu thủ công nghiệp

TCXDVN: Tiểu chuẩn xây dựng Việt Nam

UBND: Uỷ ban nhân dân

WHO: Tổ chức Y tế thế giới

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Các đơn vị hành chính trên lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận 7 Bảng 1.2: Các chi lưu, chiều dài và diện tích lưu vực của nó trên sông La Ngà thuộc

tỉnh Bình Thuận 9

Bảng 1.3: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 45

Bảng 1.4: Dân số, lao động và cơ cấu sử dụng lao động 46

Bảng 1.5: Các Khu công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên lưu vực sông La Ngà 50 Bảng 1.6: Nhu cầu sử dụng nước và khả năng khai thác nước bề mặt (106m3) 53

Bảng 1.7: Nhu cầu sử dụng nước và lượng nước thải sinh hoạt năm 2012 57 Bảng 1.8: Lượng nước tự thấm và chảy vào sông 58

Bảng 1.9: Trung bình tải lượng nước thải sinh hoạt trên lưu vực La Ngà tỉnh Bình Thuận năm 2012 59 Bảng 1.10: Nồng độ trung bình các chất ô nhiễm trong nước thải y tế 61 Bảng 1.11: Tải lượng nước thải y tế trên lưu vực sông La Ngà Bình Thuận 2012 61 Bảng 2.1 : So sánh ưu điểm và hạn chế của phương pháp chỉ số WQI và phương pháp truyền thống 63 Bảng 3.1 : Bảng quy định các giá trị 𝑞𝑖, 𝐵𝑃𝑖 72

Bảng 3.2: Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với DO% bão hòa 73

Bảng 3.3: Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với thông số pH 73

Bảng 4.1: Thông tin về các điểm lấy mẫu 76

Bảng 4.2: Kết quả quan trắc phân tích chất lượng nước lưu vực sông La Ngà năm 2011 79

Bảng 4.3: Kết quả quan trắc phân tích chất lượng nước lưu vực sông La Ngà năm 2012 80

Bảng 4.4: Kết quả quan trắc phân tích chất lượng nước lưu vực sông La Ngà năm 2013 81

Bảng 4.5: Bảng kết qủa WQI qua các năm 130

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Đồng Nai 5

Hình 1.2: Bản đồ lưu vực sông La Ngà 7

Hình 1.3: Sơ đồ cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiêp sông La Ngà 51

Hình 4.1: Đồ thị biểu thị chỉ số WQI năm 2011-2013 133

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Với xu thế đổi mới và hội nhập kinh tế trên toàn cầu, trong những năm qua đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế, xã hội quan trọng, cụ thể tỉ lệ tăng trưởng kinh tế hằng năm cao bình quân 7,2 % Tuy nhiên bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, nước ta phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có vấn đề suy thoái môi trường là vấn đề quan trọng đang được cả cộng đồng quan tâm Hiện nay, môi trường nước ở các đoạn sông đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề do rác thải sinh hoạt, rác thải làng nghề, rác thải nông nghiệp và rác thải từ các khu công nghiệp vẫn đang từng ngày từng giờ đổ xuống, điển hình như

hệ thống sông La Ngà chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai Kết quả quan trắc chất lượng nước bị suy giảm qua các năm, các thông số ô nhiễm đều không đạt Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước

Sông La Ngà có diện tích toàn lưu vực là 3990 km2, có chiều dài gần 299 km chảy qua địa ba tỉnh là Lâm Đồng, Bình Thuận và Đồng Nai, sự hợp thành của nhiều sông suối ở tả ngạn sông Đồng Nai đã tạo cho sông La Ngà một dòng chảy quanh co uốn khúc với lưu lượng nước khá lớn, trở thành phụ lưu cấp một cho hệ thống sông Đồng Nai Sông La Ngà bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh (Bảo Lộc – Lâm Đồng), Sông La Ngà là một trong những phụ lưu quan trọng của sông Đồng Nai Đây là con sông dồi dào về nguồn nước, phong phú về cảnh đẹp, lưu vực của

nó là vùng kinh tế nông lâm nghiệp phát triển, có nhiều cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có nhiều loại cây công nghiệp ngắn… Qua quá trình phát triển kinh

tế, xã hội trên phạm vi lưu vực đã xuất hiện nhiều điểm ô nhiễm dọc lưu vực sông

La Ngà, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, nhiều loài sinh vật mất nơi cư trú đang bị đe dọa nghiêm trọng Nạn ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước do chất thải công nghiệp, làng nghề, sinh hoạt và do hoạt động sản xuất nông nghiệp,… là những nguồn gây ô nhiễm đang bắt đầu đáng báo động

Vì vậy cần tiến hành việc điều tra đánh giá để từ đó đề xuất các biện pháp bảo

vệ chất lượng nước trên lưu vực sông La Ngà phục vụ cho công tác quản lý, trong

Trang 11

khuôn khổ phạm vi của dự án ta thực hiện ở ba huyện của tỉnh Bình Thuận có dòng sông La Ngà chảy qua đó là huyện Hàm Thuận Bắc, huyện Tánh Linh và huyện Đức Linh

Trước đây, ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới để đánh giá chất lượng nước, mức độ ô nhiễm các nguồn nước người ta thường dựa vào việc phân tích các thông số chất lượng nước riêng biệt, sau đó so sánh gía trị từng thông số đó với giá trị giới hạn được qui định trong các tiêu chuẩn/qui chuẩn trong nước hoặc quốc tế Tuy nhiên cách làm này có rất nhiều hạn chế: không nói lên diễn biến chất lượng tổng quát của con sông (đoạn sông); khi đánh giá chất lượng nước qua các thông số riêng biệt , khi đó có thể có thông số đạt, thông số vượt, điều đó chỉ nói lên chất lượng nước đối với từng thông số riêng Để khắc phục khó khăn trên, cần phải có một hoặc hệ thống chỉ số cho phép lượng hóa được chất lượng nước, có khả năng

mô tả tác động của nhiều thành phần hóa - lý - sinh trong nguồn nước Một trong chỉ số đó là chỉ số chất lượng nước WQI

Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “ Tính toán WQI, đánh giá và đề xuất giải pháp bảo vệ chất lượng nước cho lưu vực sông La Ngà tỉnh Bình Thuận” đã được thực hiện

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá chất lượng nước mặt tại lưu vực sông La Ngà tỉnh Bình Thuận thông qua các thông số chất lượng nước và chỉ số đánh giá chất lượng nước WQI

(Water Quality Index)

- Đưa tới cộng đồng những thông tin dễ hiểu, đồng thời đề xuất ra những biện

pháp khắc phục và bảo vệ môi trường

3 Mục đích nghiên cứu

- Phản ánh được hiện trạng ô nhiễm nguồn nước mặt tại địa bàn các vùng lân

cận nằm trên lưu vực sông

- Thông tin cho cộng đồng về chất lượng nguồn nước, nâng cao nhận thức bảo

vệ môi trường cho cộng đồng Qua đó đề xuất biện pháp quản lý, bảo vệ môi trường

nước mặt trên các địa bàn nằm trên lưu vực sông

Trang 12

- Có thể sử dụng như một nguồn dữ liệu, để xây dựng bản đồ phân vùng chất

lượng nước

- Cung cấp thông tin môi trường cho cộng đồng một cách đơn giản, dễ hiều,

trực quan

4 Nội dung nghiên cứu

Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên của lưu vực sông La Ngà

 Thu thập tài kiệu về dân sinh kinh tế, xã hội và môi trường của lưu vực sông

La Ngà

 Thu thập, tập hợp số liệu quan trắc từ trạm quan trắc môi trường nước mặt lục địa áp dụng tính toán chỉ số WQI, từ đó tổng hợp đánh giá diễn biến chất lượng nước, đồng thời tìm hiểu các nguyên nhân suy giảm chất lượng nước mặt trên lưu vực sông La Ngà đoạn chảy qua Bình Thuận

 Thông qua việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp bảo vệ tài nguyên nước phù hợp cho lưu vực sông La Ngà tỉnh Bình Thuận

5 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong lưu vực sông La Ngà thuộc địa bàn tỉnh Bình Thuận

6 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng nước lưu vực sông (các thông số, quá trình lan truyền trong nước)

7 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập tài liệu

Điều tra, khảo sát, thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên, khí tượng, dân số, điều kiện kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu

Thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan đến chất lượng nước

 Phương pháp tiếp cận: Tổng hợp tài liệu có sẵn có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài

 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu

Trang 13

Phương pháp thống kê nhằm thu thập, xử lý các số liệu về khí tượng, kinh tế, xã hội trong vùng nghiên cứu

Dùng phần mềm excel để xử lý và phân tích số liệu, tính toán chỉ số chất lượng nước phục vụ cho việc đánh giá chất lượng nước của lưu vức sông

 Chuyên gia : Tham khảo các kết quả nghiên cứu trước đây của các cơ quan , các nhà khoa học, các đoàn thể về lưu vức sông La Ngà

8 Kết cấu của đồ án

Ngoài phần mở đầu và kết luận - kiến nghị Đồ án gồm 4 chương

Chương 1:Tổng quan về lưu vực sông La Ngà tỉnh Bình Thuận

Chương 2: Tổng quan chung về chỉ số đánh giá chất lượng nước WQI

Chương 3: Phương pháp tính toán chỉ số WQI

Chương 4: Quy trình thực hiện và tính toán chỉ số WQI cho lưu vực sông La Ngà tỉnh Bình Thuận

Trang 14

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG LA NGÀ TỈNH

BÌNH THUẬN 1.1 Giới thiệu về lưu vực sông La Ngà tỉnh Bình Thuận

1.1.1 Vị trí địa lý

Sông La ngà là tên một con sông ở miền Đông Nam Bộ - Việt Nam, có phạm

vi lưu vực trải dài trong khoảng tọa độ địa lý 107°9’ đến 108°10’ kinh độ Đông và 10°55’ vĩ độ Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 180km (tại Bảo Lộc) Là một phụ lưu của lưu vực sông Đồng Nai, bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh ven khu vực thuộc thành phố Bảo Lộc - Lâm Đồng chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai với chiều dài trên 299 km, diện tích 3990 km2 và đổ ra hồ Trị An Ở địa bàn tỉnh Bình Thuận, sông La Ngà với chiều dài 143 km, có lưu vực 1.759 km2

Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Đồng Nai

Ở thượng nguồn sông La Ngà là hợp lưu của hệ thống nhiều sông suối nhỏ, nhưng về tổng thể có thể coi là ba sông nhánh bắt nguồn từ phía tây, đông bắc và đông thị xã Bảo Lộc Chúng hợp lưu ở phía nam thị xã Bảo Lộc, theo đường chim bay khoảng 7 km Từ đây sông La Ngà chảy ngoằn ngoèo theo hướng Bắc Tây Bắc

Trang 15

- Đông Đông Nam trên chiều dài khoảng 30 km tới hồ chứa nước cho nhà máy thủy điện Hàm Thuận công suất 300 MW của cụm nhà máy thủy điện Hàm Thuận - Đa

Mi nằm trên địa phận hai tỉnh Lâm Đồng và Bình Thuận Từ hồ chứa nước này sông La Ngà tách làm hai nhánh, một nhánh chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam

để dẫn nước tới hồ chứa nước cho nhà máy thủy điện Đa Mi công suất 175 MW (ở phía Tây Tây Nam hồ chứa nước của nhà máy thủy điện Hàm Thuận) Nhánh phía đông chảy vòng thúng rồi hợp lưu với nhánh thoát nước của nhà máy thủy điện Đa

Mi trong địa phận huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận Sau đó sông La Ngà đổi hướng thành Đông Nam - Tây Bắc tới ranh giới với tỉnh Đồng Nai Từ đây nó đổi hướng thành Đông Bắc - Tây Nam, tạo thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Đồng Nai và Bình Thuận rồi sau đó chảy theo hướng Đông Nam - Tây bắc trong địa phận tỉnh Đồng Nai tới hồ Trị An

Sông La Ngà là một trong những phụ lưu quan trọng của sông Đồng Nai Đây

là con sông dồi dào về nguồn nước, phong phú về cảnh đẹp, lưu vực của nó là vùng kinh tế nông lâm nghiệp phát triển, có nhiều loại cây công nghiệp ngắn ngày như: mía, thuốc lá,…và các loại cây lương thực như: bắp, đậu các loại,…

Trang 16

Nguồn: Niên giám thống kê 2012

1.1.2 Đặc điểm khí hậu – khí tượng

Vùng lưu vực sông La Ngà gồm toàn bộ phần lưu vực sông nằm trong ranh giới tỉnh gần như trọn vẹn 2 huyện Đức Linh và Tánh Linh Đây là vùng ảnh hưởng chủ yếu của khí hậu Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên, có nền nhiệt độ thấp hơn, lượng mưa cao, đất đai khá tốt, thực vật tự nhiên với thảm rừng xanh lá nhiệt đới

Trang 17

lạnh ẩm và các hệ thống cây trồng nông nghiệp phát triển phong phú Huyện Hàm Thuận Bắc thuộc lưu vực sông La Ngà về đặc điểm khí hậu có đôi chút khác biệt so với 2 huyện còn lại của lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận

1.1.3 Đặc điểm thủy văn nguồn nước

Tỉnh Bình Thuận có 7 lưu vực sông chính và các sông suối nhỏ khác nhau với tổng lượng dòng chảy sông ngòi bình quân hàng năm khoảng 5,63 tỉ m3, trong đó lượng dòng chảy sông La Ngà đã lên tới 3,09 tỉ m3

Do ảnh hưởng của chế độ mưa theo mùa nên lượng dòng chảy mùa lũ chiếm 75-80% tổng lượng dòng chảy cả năm, modun dòng chảy lũ biến động từ 40-70 l/s/km2 Mùa cạn, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau nhưng chỉ chiếm 20-24

% tổng lượng mưa, đa số sông suối phía Bắc tỉnh hầu như khô cạn Tổng lượng dòng chảy 3 tháng mùa kiệt (tháng 2, 3 và 4) chỉ chiếm 2,75 -3,50% tổng lượng dòng chảy cả năm

Khu vực phía Tây tỉnh thuộc lưu vực sông La Ngà, do nằm trong khu vực mưa nhiều nên có dòng chảy dồi dào hơn Tuy vậy, vào mùa khô dòng chảy cũng rất nhỏ như tại Tà Pao có khi lưu lượng cũng chỉ đạt 3,5 - 4 m3/s Tại hai huyện Tánh Linh

và Đức Linh hiện đang thi công đập dâng Tà Pao, đây là công trình thủy lợi với quy

mô lớn, tổng vốn đầu tư khoảng 2.700 tỷ đồng gồm các công trình đầu mối là đập tràn dài 370 mét, 2 cống lấy nước với lưu lượng từ 15 đến 17 m3/s và hệ thống kênh chính dài 67 km, phục vụ tưới tiêu trên 20.300 ha đất nông nghiệp của 2 huyện Tánh Linh, Đức Linh và cấp nước sinh hoạt cho 150.000 dân trong vùng Do vậy nguồn nước ở lòng sông ở hạ lưu sẽ bị cạn kiệt về mùa khô trong thời gian thi công đập dâng Tà Pao Vì tính chất khô hạn, nguồn nước chỉ tập trung vào mùa mưa, đồng thời lượng nước dự trữ từ ao hồ tự nhiên không đáng kể nên giải pháp cơ bản

để giải quyết nhu cầu nước cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư là tập trung xây dựng các hồ, đập chứa nước, các hệ thống thủy lợi liên hoàn để có khả năng điều tiết lại dòng chảy trong vùng

Trang 18

Bảng 1.2: Các chi lưu, chiều dài và diện tích lưu vực của nó trên sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận

D.tích lưu vực (km 2 )

Địa điểm (nơi bắt nguồn, chảy qua các xã, huyện)

Ghi chú

Sông

La Ngà

Sông Đồng Nai

143 1759 Bắt nguồn từ cao nguyên

Di Linh, Bảo Lộc (Lâm Đồng), trên địa bàn tỉnh Bình Thuận chảy qua 03 huyện: Hàm Thuận Bắc, Tánh Linh, Đức Linh

sông chính

xã La Ngâu thuộc huyện Tánh Linh

Trang 19

xã La Ngâu thuộc huyện Tánh Linh

Đa Mi thuộc huyện Hàm Thuận Bắc và qua xã La Ngâu thuộc huyện Tánh Linh

10 28

Bắt nguồn từ Núi chảy qua xã Đa Mi thuộc huyện Hàm Thuận Bắc và

xã La Ngâu thuộc huyện Tánh Linh

Trang 20

Quăng huyện Tánh Linh và xã

Vũ Hoà thuộc huyện Đức Linh

12 Suối

Suối Lăng Quăng

12 58

Bắt nguồn từ xã Gia Huynh chảy qua xã Gia Huynh, xã Gia An thuộc huyện Tánh Linh

Suối Ba Thê

1.1.4 Đặc điểm địa hình - địa mạo

Thung lũng sông La Ngà về địa hình, địa mạo thuộc vùng trũng phân bố ở hạ lưu sông La Ngà Đây là vùng đồng bằng trũng, độ cao từ 100m đến 120m với những nón lũ tích rộng vây bọc diện tích rộng lớn chủ yếu là các trầm tích sông - hồ (hoặc hồ - sông) và bên trong có những đầm lầy ngập úng, có nhiều khúc sông chết dạng "hố sừng trâu" bị lầy hoá

Ở phía Bắc, phía Nam và phía Đông vùng là các đồi núi thấp được cấu thành bởi granitoit, đá trầm tích bị bóc mòn (ở phía Bắc: núi BRGno - 496m, BNom Bang

Trang 21

Hya - 1478m, .); phía Đông (núi Lốp - 730m); phía Nam (núi Ông - 1307m); ở phía Tây là "bán bình nguyên bazan" độ cao trên 120m

1.1.5 Hình thái lưu vực

Có thể phân Toàn bộ sông La Ngà làm 3 vùng:

- Vùng thượng lưu sông có tên gọi là Đargna, lòng sông cắt sâu vào lòng đất Nằm ở tâm mưa Nam Tây Nguyên (Bảo Lộc), dòng chảy lớn, mật độ lưới sông dày tới 1,2km/km2 Sau khi tiếp nhận các sông nhánh Đartol, Da Binh ở hữu ngạn và sông Đariam ở tả ngạn, sông chảy vào địa phận tỉnh Bình Thuận men theo các chân núi và thung lũng hẹp Từ đó tới trạm thủy văn Tà Pao có tới 9 thác nước lớn, nhỏ, cho thấy độ dốc ở đây lớn và nền địa chất không đồng nhất

- Vùng đồng bằng sông La Ngà: nằm ở khoảng giữa lưu vực chiếm từ 10 - 15% tổng diện tích lưu vực Có thể coi trạm thủy văn Tà Pao là điểm bắt đầu đoạn này Địa hình lưu vực bằng phẳng xen lẫn một vài đỉnh núi thấp dưới 300m Về xuôi sông chảy quanh co uốn khúc trên vùng trũng huyện Tánh Linh, Đức Linh

- Vùng đồi núi thấp hạ lưu chiếm khoảng 30% diện tích lưu vực Địa hình chủ yếu là dạng đồi bát úp không liên tục, xen lẫn một vài đỉnh núi cao độc lập Do địa hình thay đổi, ở đoạn này lòng sông thu hẹp, chảy giữa các sườn đồi núi thấp và hình thành hai thác nước trên sông, càng làm trở ngại cho việc thoát lũ các vùng trũng bên trên

Sông La Ngà ở vùng này vào mùa mưa được các hệ thống sông suối nhánh chủ yếu ở phía đông cung cấp thêm làm mực nước lên cao đến vài mét Lũ trên sông La Ngà mỗi năm có thể xuất hiện 7 trận lũ, lũ tập trung chủ yếu vào các tháng 8-10 Đặc biệt, trong những năm gần đây do nạn phá rừng và khai thác rừng bừa bãi nên các cơn lũ càng gây ra những hậu quả nghiêm trọng Sông chính có tổng chiều dài là 299km Mật độ lưới sông trung bình của toàn bộ hệ thống sông này là 0,207km/km2, lớn nhất là 0,91 và nhỏ nhất là 0,12km/km2 Hệ số uốn khúc của sông

La Ngà đạt tới 3,02

Sông La Ngà liên tục thay đổi dạng sông do chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên nên việc sử dụng nước ở lưu vực này rất khó khăn - nơi địa hình bằng phẳng

Trang 22

thuận lợi cho canh tác nông nghiệp trong mùa lũ thường xuyên bị úng ngập còn phần địa hình núi dốc thung lũng sông hẹp ít có khả năng canh tác

Sông La Ngà có nhiều chi lưu, tính riêng trên đất Đồng Nai đã có gần 20 suối lớn nhỏ, không kể một số suối cạn về mùa khô Tính từ thượng lưu, phía bờ phải có

8 suối, các suối này đều có nguồn gốc từ cao nguyên Bình Lộc, An Lộc, nơi có độ cao trung bình 200m, trong đó đáng kể nhất là suối Tam Bung có chiều dài 23km Các chi lưu của sông La Ngà đều ngắn, độ dốc lớn, thời gian tập trung nước vào mùa lũ nhanh, thường hay xảy ra lũ quét gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương

Đặc điểm nổi bật của sông La Ngà là các dạng sông địa hình núi xen kẽ với các dạng sông địa hình bằng phẳng

Phải nói rằng việc phát triển kinh tế xã hội trong vùng nhất là Đức Linh, Tánh Linh và Hàm Thuận Bắc dựa rất nhiều vào khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên ở lưu vực sông La Ngà nhất là tài nguyên nước và cát xây dựng

1.2 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Đức Linh

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Đức Linh là một huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Bình Thuận, trung tâm huyện cách thành phố Phan Thiết 140 km về phía Đông Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km về phía Nam Huyện có đường ranh tiếp giáp với tỉnh Đồng Nai thuộc vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và tỉnh Lâm Đồng thuộc vùng Tây Nguyên Toàn huyện có 13 đơn vị hành chính, gồm 02 thị trấn và 11 xã

Tọa độ địa lý nằm trong khoảng từ: 107o23'35,166'' đến 107o39'38,917'' Kinh

độ Đông; và từ 11o00'26,672'' đến 11o23'01,391'' Vĩ độ Bắc

- Phía Bắc giáp huyện Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồng,

- Phía Nam giáp huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai,

- Phía Đông giáp huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận,

- Phía Tây giáp huyện Định Quán và huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai

Trang 23

Nằm ở vị trí chuyển tiếp của các vùng Nam Trung bộ, Tây nguyên và Đông Nam bộ, Đức Linh có vị trí thuận lợi trong giao lưu kinh tế - văn hóa với vùng Tây nguyên, Đông Nam bộ và Nam Trung bộ - qua quốc lộ 1A, qua Đồng Nai đi thành phố Hồ Chi Minh và Đà Lạt

1.2.1.2 Địa hình địa mạo

Đức Linh là một huyện miền núi nên địa hình phức tạp, nhìn toàn thể địa hình của huyện có dạng hình lòng chảo phía Bắc và phía Nam cao còn vùng đồng bằng trung tâm thấp

Nhìn chung địa hình của huyện đa dạng phức tạp gây khó khăn cho sản xuất

và đời sống nhất là trong việc phát triển hệ thống giao thông, thủy lợi giữa các vùng trong huyện nhưng địa hình cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các vùng sản xuất chuyên canh sản xuất hàng hóa khác nhau tập trung như vùng chuyên lúa, cao su, điều, cây ăn quả,

Đức Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình phân ra hai mùa khô và mưa rõ rệt Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, hàng năm không có mùa đông khắc nghiệt

Nhiệt độ bình quân cả năm là 26,080C nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 24,65oC (tháng 1), cao nhất là 28,42 0C Sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất

và tháng thấp nhất từ 3 0C - 40C

Lượng mưa trung bình hàng năm giao động khoảng từ 1800 mm đến 2800 mm nhưng phân bố không đều trong năm Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng l0 chiếm tới 90% tổng lượng mưa trong năm, những tháng còn lại mưa rất ít và có tới 2 - 3 tháng là không có mưa (tháng 1,2)

Số giờ nắng trung bình trong năm của huyện là 2643,91 giờ, trung bình mỗi ngày có 7,2 giờ nắng Tháng có số giờ nắng nhiều nhất là tháng 3 (293,56 giờ) và tháng có số giờ nắng ít nhất là tháng 8 (140,43 giờ)

Trang 24

Hàng năm có 2 mùa gió chính là gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, gió mùa Tây Nam thịnh hành từ tháng 5 đến tháng 11 vận tốc gió lớn nhất

từ 18 - 27m/s, gió mang theo hơi nước thường gây mưa rào

Độ ẩm không khí trung bình trong năm của huyện là 81,83% thấp nhất là tháng 2 (71%) và cao nhất là tháng 8,9 (91%)

Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình cả năm là 1255 mm, cao nhất là

tháng 3 (130 mm) và thấp nhất là tháng 8 (88 mm)

Vào các tháng mùa mưa thường có giông kèm theo sấm sét, bão ít xuất hiện,

mùa mưa thường có mưa lớn kéo dài gây ngập úng cho vùng đồng bằng trung tâm huyện làm thiệt hại cho sản xuất và đời sống Các tháng mùa khô ít có sương muối, sương mù nhưng không có mưa, bị khô hạn nghiêm trọng cũng gây ảnh hưởng rất nhiều đến sản xuất nông nghiệp

Tóm lại: Khí hậu của huyện diễn biến theo mùa rõ rệt đặc biệt ở yếu tố lượng mưa Biên độ nhiệt độ và số giờ nắng giữa các tháng trong năm chênh lệch nhỏ, ít gây sự biến đổi đột ngột về thời tiết khí hậu Lượng mưa lớn và tập trung theo mùa làm hạn chế khả năng sản xuất nông nghiệp

1.2.1.4 Thủy văn và nguồn nước

 Tài nguyên nước mặt

Huyện Đức Linh nằm trong vùng có lượng mưa cao nhất so với các huyện khác trong tỉnh Bình Thuận Do địa hình phức tạp nên đã hình thành nhiều sông suối tự nhiên, thuận lợi cho việc khai thác sử dụng nguồn nước phục vụ sản xuất

và sinh hoạt Sông La Ngà bắt nguồn từ miền cao nguyên Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng, có chiều dài 272km, đoạn chảy qua huyện Đức Linh dài 70km, là một trong những con sông có nguồn nước dồi dào nhất trong tỉnh Bình Thuận (lưu lượng trung bình về mùa mưa là 65,2 - 190m3/s, lưu lượng mùa kiệt là 7,37m3/s

Đồng thời còn có các suối phân bố trên nhiều địa bàn, bao gồm: suối Gia Huynh, suối Lăng Quăng, suối Ráp Răng, suối Lạnh, suối MêPuKlong Du, suối Cầu

đỏ, suối Nách (ở Đức Tín), suối Cầu Cháy… Phần lớn các suối trên địa bàn Huyện

Trang 25

đều ngắn và dốc nên thoát nước nhanh, gây ra lũ lụt trong mùa mưa và hạn hán trong mùa khô Trên địa bàn Huyện còn có hồ Trà Tân, diện tích 240 ha và khá nhiều ao bàu nhỏ có vai trò quan trọng trong việc tích trữ nước phục vụ cho sản xuất

Nhìn chung, nguồn nước mặt trên địa bàn huyện Đức Linh khá dồi dào, cơ bản đáp ứng được nhu cầu nước cho sản xuất và sinh hoạt Tuy nhiên, do địa hình phức tạp cộng với lượng mưa tập trung theo mùa nên việc xây dựng các công trình thủy lợi để tích trữ nước và phân phối sử dụng nước đòi hỏi nhu cầu vốn đầu tư rất lớn cho cả giai đoạn trước mắt và lâu dài

 Tài nguyên nước ngầm

Nguồn nước ngầm trên địa bàn Huyện có trữ lượng khá, chất lượng nước tương đối tốt, đáp ứng yêu cầu khai thác và xử lý phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp

Việc đầu tư xây dựng các trạm cấp nước qui mô nhỏ, khai thác và xử lý nguồn nước ngầm phục vụ cho các khu dân dư ở xa nguồn nước mặt là rất cần thiết

1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

1.2.2.1 Khu vực kinh tế nông nghiệp

 Sản xuất nông nghiệp

Giá trị gia tăng ngành sản xuất nông nghiệp huyện Đức Linh có mức tăng trưởng khá Giai đoạn 2005 - 2011 tăng bình quân 10,5%/năm (từ 191,6 tỷ đồng năm 2005 lên 315,3 tỷ đồng năm 2011)

Cơ cấu nội bộ ngành giữa trồng trọt và căn nuôi chuyển dịch đúng hướng (tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm khoảng 28%) Việc chuyển giao, ứng dụng những tiến

bộ của khoa học, kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp được triển khai khá đồng bộ; công tác khuyến nông thực hiện tốt đã chỉ đạo sản xuất đúng lịch thời vụ và chương trình xã hội hóa giống cây trồng, vật nuôi được quan tâm thường xuyên, từng bước tạo ý thức sử dụng giống mới cho nông dân, đã đưa giống lúa xác nhận vào sản xuất đạt 60%-70% Cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp đạt trên 80% ở tất cả các

Trang 26

khâu từ làm đất đến thu hoạch Phát triển một số giống cây trồng mới bước đầu có hiệu quả Thu nhập bình quân của 01 ha đạt khoảng 25 triệu đồng/ năm đã trừ các khoản chi phí

Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm 2010 đạt 25.147,00 ha, trong đó chủ yếu là cây lượng thực chiếm 80,05 % Tổng sản lượng lương thực đạt 95.000 tấn Hệ thống giao thông nội đồng, giao thông nông thôn được đầu tư nâng cấp, tạo điều kiện lưu thông và vận chuyển thuận lợi; các công trình thủy lợi tiếp tục được đầu tư và phát triển hiệu quả, đưa diện tích tưới 3 vụ tăng 38% so với năm

2008

Cùng với sự gia tăng về diện tích, năng suất và sản lượng, bước đầu đã có sự hình thành các vùng sản xuất lương thực tập trung Vùng trồng lúa tập trung ở vùng thung lũng sông La Ngà Cây mì tập trung ở các xã Đức Hạnh, Đức Tín, Đông Hà, Tân Hà và Trà Tân Ngoài ra, đối với các loại cây công nghiệp ngắn ngày như đậu phộng, đậu nành, bông vải, mía đường, do thị trường tiêu thụ và đầu ra cho sản phẩm còn khá bấp bênh nên nhìn chung phát triển không ổn định

Các loại cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả cũng phát triển khá với diện tích 28.878,66 ha , trong đó khoảng 80% diện tích là trồng cao su và điều trên cơ sở từng bước hình thành các vùng chuyên canh điều, cây cao su ở các xã Trà Tân, Tân Hà, Đông Hà, Vũ Hoà, Đức Tín, Đức Tài,Võ Xu

- Chăn nuôi: Ngành chăn nuôi huyện Đức Linh đã có bước phát triển cao hơn so với các huyện khác trong tỉnh Bình Thuận Đến năm 2011, đã có 4 trang trại chăn nuôi heo công nghiệp và hàng chục trang trại chăn nuôi heo bán công nghiệp Chất lượng giống heo được nâng cao rõ rệt, tỷ lệ nạc hóa đạt trên 80% Giống bò Lai sind chiếm tỷ lệ trên 85% Số lượng đàn gia súc như sau: đàn trâu 1.391 con; đàn bò13.708 con; đàn heo 66.767 con Cơ cấu giá trị chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp năm 2010 chiếm khoảng 28% (theo giá hiện hành)

Trang 27

 Lâm nghiệp

Rừng Đức Linh ngoài chức năng cung cấp nguyên liệu cho các ngành sản xuất, chế biến lâm sản còn có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ tài nguyên sinh vật vùng nhiệt đới Hiện tại quỹ đất lâm nghiệp của Huyện có diện tích 5.459,81 ha, chiếm 10,21% diện tích tự nhiên, trong

đó chủ yếu là rừng tự nhiên sản xuất Hiện đã hoàn thành công tác lập quy hoạch đưa vào quản lý 03 loại rừng Công tác phòng chống phá rừng, quản lý tài nguyên rừng ngày càng được tăng cường, công tác trồng cây gây rừng hiệu quả Nhìn chung hoạt động lâm nghiệp của Huyện đã và đang phát triển theo hướng lâm nghiệp xã hội hóa, gắn kinh tế rừng với kinh tế xã hội miền núi, góp phần giải quyết việc làm cho hộ nông dân ở 3 xã Bắc sông

 Thủy sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản tiếp tục được phát triển có diện tích 915,52 ha Diện tích mặt nước chuyên dùng (hồ Tân Hà) sử dụng vào nuôi thuỷ sản là 240 ha Sản lượng thủy sản tăng từ 1.143 tấn năm 2005 lên 3.244 tấn năm 2011 Trong đó sản lượng nuôi trồng tăng từ 758 tấn năm 2005 lên 3.109 tấn năm 2011, sản lượng khai

thác tự nhiên giảm từ 385 tấn năm 2005 xuống 135 tấn năm 2010

1.2.2.2 Khu vực kinh tế công nghiêp và xây dựng

Đến năm 2011, huyện đã hình thành được 06 cụm công nghiệp với tổng diện tích cụ thể: cụm công nghiệp Mê Pu, cụm công nghiệp Vũ Hòa, cụm công nghiệp Sùng Nhơn, cụm công nghiệp Võ Xu, cụm công nghiệp Đức Chính, cụm công nghiệp Đức Hạnh Tổng mức vốn đầu tư kết cấu hạ tầng các cụm công nghiệp đến năm 2011 đạt 12 tỷ đồng (trong đó 70% là vốn ngân sách nhà nước)

Các ngành sản xuất chủ yếu trên địa bàn huyện là: khai thác đá, cát sỏi xây dựng, gạch nung, chế biến mủ cao su, tinh bột khoai mỳ, hạt điều nhân, xay xát gạo, ngô, nước đá cây, may mặc, công cụ lao động, phân vi sinh Hoạt động sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong 5 năm qua có sự chuyển biến khá với ngành mũi nhọn là công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Các sản phẩm chủ yếu như chế biến mủ cao su, tinh bột mì, hạt điều và xay sát lương thực(lúa gạo), đá xây dựng, gạch nung,

Trang 28

nước khoáng, thủ công mỹ nghệ đều tăng khá Năng lực sản xuất được đẩy mạnh, nhiều sản phẩm tăng nhanh về mặt sản lượng như hạt điều, mủ cao su, nước khoáng, Bước đầu tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

Giá trị gia tăng ngành sản xuất công nghiệp xây dựng đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm 13,2% trong giai đoạn 2005-2011 Năm 2005 tổng giá trị gia tăng ngành công nghiệp-xây dựng đạt 77,3 tỷ đồng đến năm 2011 đạt 143,5 tỷ đồng

Đến năm 2011, tổng số cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

có 1.170 cơ sở, trong đó đã thu hút 107 cơ sở sản xuất công nghiệp vào các cụm công nghiệp, hầu hết các cơ sở sản xuất trong cụm công nghiệp đã chú trọng đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm Tổng số lao động ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có 5.860 người, chiếm 8,5% so tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế - xã hội Phần lớn lao động trong ngành công nghiệp của Huyện chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, năng suất lao động công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn thấp, có nhiều lao động làm nông nghiệp kiêm sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

Huyện Đức Linh nằm ở vị trí rất thuận lợi trong giao lưu, phát triển kinh doanh, thương mại - dịch vụ với các trung tâm kinh tế trong vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam Mạng lưới kinh doanh thương mại - dịch vụ mở rộng khắp đến các địa bàn nông thôn, đáp ứng được nhu cầu cung ứng vật tư, thiết bị phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nông sản Ngành thương mại đã góp phần quan trọng làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ trong tổng giá trị gia tăng của huyện và nâng cao đời sống nhân dân

Tổng giá trị gia tăng ngành dịch vụ tăng từ 96,2 tỷ đồng năm 2005 lên 192,8 tỷ đồng năm 2010 (theo giá so sánh), tăng bình quân hàng năm giai đoạn

2006 - 2010 là 14,9%

Tổng số cơ sở kinh doanh thương mại- dịch vụ đã tăng từ 2.115 cơ sở năm

2005 lên 5.290 cơ sở năm 2010 Trong đó, số doanh nghiệp tăng từ 15 cơ sở năm

Trang 29

2005 lên 39 cơ sở năm 2010 Hộ kinh doanh cá thể tăng từ 2.100 hộ năm 2005 lên 5.251 hộ năm 2010

Về mạng lưới chợ, hiện nay tổng số chợ trên địa bàn huyện có 14 chợ, bao gồm: Chợ Đức Tài, chợ Võ Xu, chợ Mê Pu 1, chợ Mê Pu 2, chợ Vũ Hòa, chợ Trà Tân, chợ Đông Hà, chợ Sùng Nhơn thôn 2, chợ Sùng Nhơn thôn 4, chợ Nam Chính, chợ Đức Chính, chợ Đa Kai, chợ Đức Hạnh, chợ Tân Hà

Bằng nguồn vốn ngân sách và các nguồn vốn khác, huyện đã quan tâm đầu

tư xây dựng mới và nâng cấp các chợ Đức Tài, MêPu, Sùng Nhơn, đáp ứng yêu cầu tăng thêm số hộ kinh doanh và tăng nguồn thu mới cho ngân sách Theo phân hạng, chợ Đức Tài đã đạt tiêu chuẩn chợ hạng II, đáp ứng yêu cầu cho khoảng 200 hộ kinh doanh cố định

Về du lịch: Huyện Đức Linh có cảnh quan thiên nhiên đa dạng, thuận lợi cho phát triển các khu, điểm du lịch sinh thái vùng đồi núi và du lịch miệt vườn Trong thời gian tới cần đẩy mạnh thực hiện đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu du lịch, trước hết là khu du lịch Thác Reo (xã Đức Tín) và khu du lịch hồ Trà Tân (xã Tân Hà) Đồng thời phát triển một số điểm du lịch kết hợp với xây dựng các khu văn hóa thể thao vui chơi giải trí tại khu trung tâm huyện và các xã

1.2.3 Dân số , lao động, việc làm và thu nhập

Dân số huyện Đức Linh năm 2011 là 127.756 người, mật độ dân số đạt 239 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số năm 2011 là 0,72 % Trong những năm qua, dân số trên địa bàn huyện Đức Linh có mức giảm cơ học khá lớn, bình quân hàng năm giảm khoảng 0,46%

Dân số thành thị tại 02 thị trấn Võ Xu và Đức Tài là 34.870 người, chiếm 27,29% dân số toàn huyện Dân số nông thôn (của 11 xã) là 92.886 người, chiếm 72,71% dân số toàn huyện Quy mô dân số và mật độ dân số có sự chênh lệch lớn giữa các xã, thị trấn, cụ thể: thị trấn Đức Tài 589 người/km2, xã Vũ Hòa 394 người/km2,xã Tân Hà 90 người/km2

Trang 30

Lao động làm việc trong các ngành kinh tế - xã hội năm 2010 của huyện có khoảng 66,93 nghìn người Cơ cấu sử dụng nguồn lao động đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ nhưng sự chuyển dịch còn chậm, lao động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao, cụ thể:

Lao động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 81,8% năm 2005 xuống còn 68,9% năm 2010

Lao động trong ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng tăng

từ 5,7% năm 2005 lên còn 12,6% năm 2011

Lao động trong ngành dịch vụ tăng 12,5% năm 2005 lên còn 18,5% năm

2011

1.2.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi

trường

- Huyện nằm ở vị trí giáp ranh với Vùng Kinh tế trong điểm phía Nam,

sẽ tác động mạnh đến phát triển kinh tế, xã hội của huyện, nhất là lĩnh vực chế biến, tiêu thụ hàng hóa nông sản và phân công lại lao động giữa huyện với Vùng Kinh tế trọng điểm

- Đường tỉnh lộ ĐT766 đi qua huyện đang được đầu tư nâng cấp, đây là tuyến giao thông đối ngoại rất quan trọng, nối huyện với Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, sẽ là động lực thúc đẩy phát triển toàn diện các ngành kinh tế, xã hội

- Trên địa bàn huyện được quy hoạch phát triển nhiều cụm công nghiệp, quỹ đất và giá đất là lợi thế cạnh tranh, là điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu

tư vào các cụm công nghiệp, tạo ra bước chuyển dịch mạnh về cơ cấu kinh tế

- Tài nguyên đất đai thích hợp cho phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh, nhất là vùng trồng cây cao su, điều tăng nhanh khối lượng hàng hóa nông sản, nâng cao mức thu nhập trên một đơn vị diện tích sản xuất hơn hẳn nhiều vùng khác

Trang 31

- Khí hậu phân hoá theo mùa, gây nên tình trạng thiếu nước về mùa khô, ngập úng về mùa mưa, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống

- Địa hình phức tạp và chia cắt, gây khó khăn trong việc cải tạo đồng ruộng và bố trí cơ sở hạ tầng Chất lượng đất nhiều khu vực xấu do hiện tượng xói mòn rửa trôi

- Tài nguyên rừng suy giảm, hệ thống thủy văn dốc, hạn chế đến khả năng điều tiết nguồn nước và bảo vệ môi trường

- Vấn đề ô nhiễm môi trường không lớn, song cũng đã ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sức khoẻ của nhân dân

Trong những năm trước mắt, nền kinh tế của huyện chủ yếu vẫn là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển, khả năng huy động các nguồn nội lực còn hạn chế, nguồn vốn cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vẫn phải dựa nhiều vào ngân sách cấp trên

- Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, nhất là hệ thống đường huyện đang có nhu cầu đầu tư rất lớn; môi trường thu hút đầu tư chưa thuận lợi; các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ quy mô nhỏ, năng suất lao động thấp

- Nguồn nhân lực của huyện tuy có số lượng khá nhưng chất lượng còn nhiều hạn chế, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp

Tóm lại, từ thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện, đặc biệt

là những năm gần đây cho thấy nền kinh tế của Đức Linh tuy chuyển dịch chậm nhưng đã có nhiều khởi sắc, đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nhân dân

đã được cải thiện đáng kể; các chương trình hỗ trợ của Đảng và Nhà nước đã thực

sự đi vào cuộc sống làm thay đổi bộ mặt của cư dân nông thôn Vấn đề đặt ra là trong quá trình phát triển kinh tế xã hội việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhất

là đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp ngày càng nhiều và sẽ gia tăng trong những năm tới Từ nay đến năm 2020 việc khai thác sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, theo hướng khoa học, mang lại hiệu quả kinh tế cao là một yêu cầu bức thiết cần được xem xét nghiêm túc

Trang 32

1.3 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Tánh Linh

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

- Phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng

- Phía Nam giáp với huyện Hàm Tân và huyện Hàm Thuận Nam

- Phía Đông giáp huyện Hàm Thuận Bắc và Hàm Thuận Nam

- Phía Tây với huyện Đức Linh và tỉnh Đồng Nai

Tánh Linh là huyện miền núi vùng cực Nam Trung Bộ và giáp với Tây Nguyên, là cửa ngõ giao thông đường bộ khu vực phía Tây Nam tỉnh Bình Thuận Ngoài khả năng giao lưu thuận lợi với các huyện lân cận, Tánh Linh còn có khả năng quan hệ rộng rãi với các trung tâm kinh tế trọng điểm phía Nam như Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Tây Nguyên Với vị trí địa lý như vậy đã tạo cho Tánh Linh có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương

1.3.1.2 Địa hình, địa mạo

Có 4 dạng địa hình chủ yếu:

- Dạng địa hình núi cao và trung bình: có độ cao từ 1.000 - 1.600m phân

bố chủ yếu ở phía Bắc huyện, giáp với tỉnh Lâm Đồng, bao gồm các núi BNOMPANGHYA cao 1.478m và núi Ông cao khoảng 1.302m tập trung tại các xã như Măng Tố, Nghị Đức, Bắc Ruộng

- Dạng địa hình núi thấp: Có độ cao dao động từ 200 - 800m, tập trung phía nam huyện, gồm các núi DANGDAO cao 851m, núi DANGRUIN cao trên 706m (Bắc Ruộng), CATONG cao 452m (Lạc Tánh), Đức Bình…

Trang 33

- Dạng địa hình đồi lượn sóng: Độ cao 20 - 150m bao gồm những đồi đất xám, đất đỏ vàng, chạy theo hướng Bắc - Nam hoặc xen kẽ ở nhứng vùng núi thấp

- Dạng địa hình đồng bằng: Có thể chia địa hình đồng bằng thành 2 dạng sau:

+ Địa hình bậc thềm sông: Có độ cao từ 5 - 10m, có nơi chiều cao 2 - 5m dọc theo sông La Ngà tập trung chủ yếu ở các xã như Đức Phú, Nghị Đức, Đức Tân, Đồng Kho, Huy Khiêm, Măng Tố, Bắc Ruộng

+ Địa hình trũng: Ven sông La Ngà và các nhánh suối nhỏ, ven hồ Biển Lạc, tập trung ở các xã như Gia An, Huy Kiêm đây là vùng trọng điểm lương thực của huyện Tánh Linh

Địa tầng Tánh Linh gồm các đá trầm tích có tuổi Jura đệ tứ, có điệp La Ngà

lộ ra dạng cát kết, bội kết và sét kết màu sẩm Có nơi Pyrit cùng với đá phiến sét, Silic màu xám phân bố ở phía Nam của huyện Trên địa tầng La Ngà có lớp phủ Bazan Xuân Lộc, tuổi Pleitocene giữa (QII) Đá Bazan có cấu tạo lỗ hổng, xốp, xỉ

và dăm núi lửa, có nơi đá Bazan đặc xít

Địa tầng trẻ nhất là trầm tích bở rời tuổi Pleitocene muộn (QIII) và Holocene (QIV), trầm tích sông La Ngà có cuội và cuội sỏi, cát màu vàng bị laterite gọi là phù sa cổ Trầm tích Holocene sông hồ, đầm lầy có sét màu xám, xám đen và xám xanh, có khi là màu xám sẫm đen, nhiều xám thực vật có dạng than bùn dọc sông La Ngà và ven hồ Biển Lạc Phía Đông Bắc và phía Đông Nam của huyện còn

có đá xâm nhập Macma tuổi Kreta, phức hệ Ankroet Định Quán và Đèo Cả

Theo các tài liệu khoáng sản cho thấy Tánh Linh có các loại đá và mẫu chất sau:

- Granit: Đá Granit thường gặp ở Tánh Linh là đá granit - biotit phức

hệ Ankroet Đá thường có hạt thô màu xám nhạt hoặc xám đen, kiến trúc hạt và khá vững chắc Trong thành phần hoá học có hàm lượng SiO2 cao, từ 60-70%, Fe2O3

thấp (từ 0,2-1%), chứa nhiều K2O

Trang 34

Các loại đất phát triển trên đá granit có thành phần cơ giới nhẹ, nhiều cát thô, kết cấu rời rạc và thường có màu vàng đỏ, xám vàng, đỏ vàng, xám nhạt…và

độ phì thường thấp

- Cát kết: Cát kết ở Tánh Linh thường xen lẫn với đá phiến, hoặc bột kết Thành phần chủ yếu là Thạch Anh, có kích thước tương đối thô (từ 0,1 - 2mm), kết gắn lại với nhau bằng cement vôi, sắt hoặc keo silic Khi bị phong hoá, cát kết cho đất có tầng mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, độ phì thấp

- Đá phiến sét: Có tuổi thuộc kỷ Devon - Cacbon sớm Đá thường có màu đen, có nơi chứa Xeruxit bóng láng, phân thành phiến rắn chắc, thỉnh thoảng

có xen ít lớp cát két hạt nhỏ chứa các mảnh vụn Turmalin Đá phiến sét phong hoá cho đất thành phần cơ giới nặng, tầng dầy và độ phì tương đối khá

- Đá bazan: Có tuổi Pleitocene kỷ đệ tứ, đá Bazan ở Tánh Linh thường giàu Olivin, có màu nâu đen, kiến trúc pocphia và thuỷ tinh nhưng thường gặp hơn

là kiến trúc dolerite Thành phần hoá học của đá bazan ở Tánh Linh như sau: SiO2: 41,86%; Al2O3: 11,71%; Fe2O3: 3.92%; Fe2O3:8.36%; MnO: 0,17%; N2O: 10,73%; CaO: 10,58%; K2O: 2,07%; TiO2: 2,53%; P2O5: 0,84%; H2O: 2,17% Đá tương đối giầu Fe, Al, Ca và Mg Do đó khi các khoáng vật của chúng (Plagiocla, Olivin và Orgit) phong hoá sẽ cho nhiều sét, cacbonat, canxi, oxit sắt và clorit nên đất có màu

đỏ thẫm, thịt nặng và độ phì tương đối cao

- Mẫu chất phù sa cổ: Là bậc thềm thứ nhất nằm trung gian giữa đất bằng và miền núi Mẫu chất phù sa cổ có nhiều mầu sắc khác nhau nhưng thường là xám nhạt, vàng xám nhạt với các đốm rỉ sắt của quá trình feralit phát triển tương đối yếu và các vết màu đậm, nhất là các nơi có mực nước ngầm nông

- Phù sa sông suối: Đây là loại trầm tích trẻ nhất,có tuổi Pleitocene muộn (QIII) và Halocene (QVI) Phù sa thường có mầu nâu sẫm đến vàng nhạt, thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu kém, quá trình feralit diễn ra yếu

Khí hậu của Tánh Linh mang tính chuyển tiếp giữa chế độ mưa của vùng duyên hải Nam Trung Bộ hay nói cách khác đây là vùng đệm giữa trung tâm mưa lớn của

Trang 35

miền Nam (cao nguyên Di Linh) và vùng đồng bằng ven Biển Vì vậy Tánh Linh là một vùng ẩm nhất tỉnh Bình Thuận, chỉ số ẩm ướt trong năm đều trên 2,0

Hàng năm, trong vùng còn chịu ảnh hưởng tương đối ổn định của gió mùa Tây Nam (từ tháng 5 đến tháng 10) và gió mùa Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau)

Lượng mưa trung bình trong năm tương đối cao, từ 2.000 - 2.500 mm, ít gió bão và không có mùa đông lạnh Mùa mưa bắt đầu từ trung tuần tháng 5 và kết thúc vào tháng 10 Năm mưa nhiều nhất lượng mưa đạt khoảng từ 2.300 - 3.000 mm Năm mưa ít nhất lượng mưa chỉ đạt khoảng 1.500 - 2.000 mm Số ngày mưa trong năm vào khoảng 170 - 190 ngày Chỉ số ẩm ướt có ngày lên đến 5,2

Có 2 mùa mưa và khô: mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10

Do có mưa lớn và tập trung theo mùa nên Tánh Linh thường xảy ra úng lụt ở vùng đồng bằng sông La Ngà

Số giờ nắng trong năm cao, trung bình mỗi ngày có trên 8 giờ Tổng lượng bức xạ năm vào khoảng 140kcl/cm2/năm

Nhiệt độ không khí cao đều trong năm và tương đối ổn định

- Nhiệt độ trung bình trong năm: 22 - 260C

- Nhiệt độ tối cao trung bình trong năm: 26 - 300C

- Nhiệt độ tối thấp trung bình trong năm: 18 - 220C

- Biên độ nhiệt trong năm: 8 - 100C

- Tổng nhiệt độ trong năm: 8.400 - 9.2000C

- Tổng nhiệt độ mùa vụ: 4.000 - 4.5000C

- Tổng nhiệt độ vụ Đông Xuân: 4.000 - 4.5000C

Độ ẩm không khí trung bình trong năm từ 70 - 85%, độ ẩm không khí cao từ tháng 6 đến tháng 11 đạt khoảng 84,3 - 86,9%

Trang 36

Mùa khô vào các tháng 1, 2, 3 trong các tháng này độ ẩm không khí trung bình từ 75,6 - 76,9%

Hàng năm độ ẩm trung bình tối cao vào khoảng 91,8% và tối thấp trung bình

và khoảng 61,3% Độ ẩm thấp nhất tuyệt đối có khi xuống tới 15% và xuất hiện vào mùa khô

Tóm lại khí hậu Tánh Linh diễn biến theo 2 mùa rõ rệt Lượng mưa phân hoá theo mùa đã chi phối mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp Mùa mưa (vụ hè thu và

vụ mùa), cây cối phát triển tốt và là mùa sản xuất chính, ngược lại mùa khô cây cối phát triển rất kém Vì vậy ngoại trừ những diện tích đất được tưới, còn lại hầu hết chỉ sản xuất được trong mùa mưa

- Các tầng chứa của đá phun trào Bazan có lỗ hổng và nứt nẻ lớn, có khả năng thấm nước tốt nhưng bề dày không lớn nên chứa nước không nhiều lắm Năng suất khai thác an toàn từ 1 - 2 m3/h cho mỗi giếng Nước thuộc loại nhạt (độ khoáng

M = 0,1 - 0,5 mg/l) và siêu nhạt (độ khoáng M < 0,1 mg/l)

Về trữ lượng nước, nhờ ảnh hưởng thâm nhập của sông La Ngà nên nhìn chung nguồn nước dưới đất ở huyện Tánh Linh khá dồi dào, có thể đáp ứng tốt cho nhu cầu đời sống và sản xuất

 Nước mặt

Sông La Ngà là con sông chính, lớn nhất của huyện (chiều dài khoảng 50

Km, diện tích lưu vực khoảng 417,4 km2) và cũng là nguồn cung cấp nước chủ yếu

Trang 37

cho sản xuất nông nghiệp trong vùng, là phụ lưu cấp 1 của hệ thống sông Đồng Nai, bắt nguồn từ dãy núi của cao nguyên Di Linh (Lâm Đồng) cao trên 1.300m chảy từ thượng nguồn xuống đến huyện Tánh Linh theo hướng Bắc - Nam, sau đó bị chắn bởi núi Ông và núi Dangruin và đổi hướng Đông - Tây

Do sông được bắt nguồn từ vùng có lượng nước lớn và tập trung, địa hình chuyển đột ngột từ miền núi xuống đồng bằng, không có đê chắn nước nên trong mùa mưa lũ thường gây nên úng lụt

Ngoài sông La Ngà chảy qua địa bàn huyện còn có sông Lay Quang (30km), sông Phan, sông Cát, sông Dinh, hồ Biển Lạc…và 45 con suối Phần lớn những con sông ở Tánh Linh đều có nước chảy quanh năm Đặc biệt là hồ Biển Lạc với diện tích ngập bình quân là 300 ha, có nước quanh năm Đây là một trong những nguồn nước quan trọng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản của vùng

Nhìn chung, Tánh Linh có nguồn nước dồi dào, đảm bảo được phần nào việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác Tuy nhiên do lượng mưa tập trung theo mùa nên hiện tượng hạn hán cục bộ vào mùa khô hoặc lũ quét vào mùa mưa vẫn xảy ra tại một số nơi trên địa bàn huyện

1.3.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

1.3.2.1 Khu vực kinh tế nông nghiệp

 Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

+ Diện tích gieo trồng rau, đậu các loại là 3.000 ha

Trang 38

Diện tích cây lâu năm tăng từ 27.271 ha năm 2005 lên 27.945 ha năm 2009, chiếm 67,7% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp đến năm 2011 là 25.650 ha Trong đó, cây công nghiệp lâu năm tăng từ 16.801 ha năm 2005 lên 19.492 ha năm

2009 Cây ăn quả lâu năm giảm từ 1.125 ha năm 2005 xuống 1000 ha năm 2009

- Chăn nuôi

Liên tục trong những năm qua, nghành chăn nuôi chịu tác động của nhiều loại dịch bệnh Do đó có sự chuyển dịch cơ cấu đàn gia súc gia cầm theo hướng tăng nhanh

số lượng các loài vật nuôi ít chịu tác động của bệnh dịch, cụ thể như sau:

+ Đàn bò tăng từ 5.624 con năm 2005 lên 6.000 con năm 2009 đến năm

2011 là 7.500 con, tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2006 - 2010 là 5,93%

+ Đàn dê tăng từ 5.855 con năm 2005 lên 6000 con năm 2009 đến năm

2011 là 6200 con, tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2006 - 2011 là 1,15%

+ Đàn heo, tăng ổn định từ 41.530 con năm 2005 lên 64.000 con năm 2009 nhưng đến năm 2010 do ảnh hưởng của dịch heo tai xanh chỉ còn khoảng 40.000 con

+ Đàn gia cầm: Trong từng thời điểm bị sụt giảm từ 380.000 con năm

2005 lên 310.000 con năm 2009 đến năm 2010 là 300.000 con, tốc độ giảm bình quân hàng năm giai đoạn 2006 - 2011 là 4,62%

Cơ cấu giá trị chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông - lâm -ngư nghiệp năm 2009 chiếm khoảng 25% (theo giá hiện hành)

Nhìn chung, nghành chăn nuôi trong những năm qua đã có bước phát triển khá, xong chưa tương xứng với tiềm năng của huyện Cơ sở vật chất của nghành chăn nuôi còn nhỏ bé, chưa có các trang trại chăn nuôi quy mô lớn Diện tích trồng

cỏ chăn nuôi chưa được mở rộng, nguồn thức ăn, nước uống cho chăn nuôi còn khó khăn Công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ mới trong chăn nuôi còn nhiều hạn chế Cần đẩy mạnh xây dựng các mô hình chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo các điều kiện vệ sinh môi trường và phòng trừ dịch bệnh Ngăn ngừa có hiệu quả các loại dịch bệnh nguy hiểm mới phát sinh

 Nuôi trông thủy sản

Trang 39

Nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn huyện phát triển theo hướng nuôi trồng và

tự nhiên trong các hồ, đập, sông và suối Nhiều thành phần kinh tế và hộ gia đình đã

mở rộng diện tích nuôi cá đạt hiệu quả kinh tế cao Diện tích nuôi trồng và sản lượng thủy sản liên tục tăng nhanh trong những năm qua

Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản tăng từ 108,7 ha năm 2005 lên 129 ha năm 2009 đến năm 2011 đạt 120 ha

Sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2005 là 330 tấn đến năm 2010 đạt

436 tấn Sản lượng khai thác đánh bắt tự nhiên năm 2005 là 150 tấn đến năm

2011 là 250 tấn

Mô hình nuôi cá theo hướng chuyên canh trong các hồ, đập bước đầu đã phát huy hiệu quả Tuy nhiên cần quan tâm đến giá cả đầu vào và đầu ra của các loại hàng thủy sản trên thị trường tiêu thụ để ổn định thu nhập Đồng thời, nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường, nguồn nước và dịch bệnh để giảm tỷ lệ rủi ro trong nuôi trồng thủy sản Và tiếp tục đẩy mạnh công tác quan trắc môi trường, công tác khuyến ngư nghiên cứu chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào lĩnh vực nuôi trồng và sản xuất giống thủy sản Xử lý kịp thời những diễn biến xấu về môi trường và dịch bệnh

 Lĩnh vực lâm nghiệp

Theo số liệu thống kê năm 2011 diện tích rừng Tánh Linh là 69.566,60 ha, chiếm 59,24% so với diện tích tự nhiên Theo phân loại rừng, trên địa bàn huyện

có 41.644,60 ha đất rừng sản xuất; 13.593 ha đất rừng phòng hộ và 14.329 ha đất rừng đặc dụng Diện tích rừng nguyên sinh chiếm tỷ lệ cao, trữ lượng rừng cao, độ che phủ rừng đạt từ 60% đến 65% Chính sách phát triển rừng theo mô hình lâm nghiệp xã hội được nhân rộng Diện tích giao khoán bảo vệ rừng được nhân dân bảo vệ khá tốt Toàn huyện đã đo đạc và cấp giấy chứng nhận cho các đơn vị chủ rừng đạt 100% diện tích đất lâm nghiệp Phát triển rừng theo mô hình nông - lâm kết hợp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp

Trang 40

Hiện Tánh Linh đã đưa vào quy hoạch 04 cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với diện tích 91ha, đến nay đã triển khai xây dựng 01 nhà máy sản xuất phân

vi sinh, 01 dự án sản xuất thép đang triển khai đầu tư vào cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Lạc Tánh Đến năm 2009, tổng số cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có 670 cơ sở Tổng lao động trong lĩnh vực công nghiệp là 1.513 người, chiếm 3,22% so với tổng số lao động làm việc trong các nghành Nhưng lao động phần lớn chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao

Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng từ 110 tỷ đồng năm

2005 lên 185 tỷ đồng năm 2009 đến năm 2011 là 302 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân hàng năm (2006-2010) là 22,387 % Cơ cấu tổng giá trị gia tăng của huyện năm 2009 đạt 12,8% (tính chung cả công nghiệp và xây dựng là 29,4%) Do đi lên

từ điểm xuất phát thấp nên nghành công nghiệp tuy đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao, nhưng khối lượng sản phẩm không nhiều, trình độ sản xuất công nghệ còn thấp, chưa sản xuất được những sản phẩm công nghệ cao

Huyện đã và đang chỉ đạo thực hiện quy hoạch xây dựng 04 cụm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, bao gồm: cụm xã Gia Huynh với diện tích 19 ha; cụm xã Gia An với diện tích 20 ha, cụm xã Nghị Đức với diện tích 10 ha; và cụm xã Bắc Ruộng với diện tích 10 ha

Nhìn chung sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện đang trong quá trình từng bước phát triển chiếm tỷ trọng đáng kể trong GDP, giải quyết thêm việc làm cho người lao động, nâng cao số người lao động làm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

Tánh Linh nằm ở vị trí cách xa trung tâm của tỉnh Bình Thuận và các tỉnh Đông Nam Bộ Nhưng do hệ thống giao thông thuận lợi trong giao lưu phát triển mạng lưới kinh doanh- dịch vụ thương mại- dịch vụ dã đạt tốc độ tăng trưởng khá, góp phần quan trọng tăng trưởng kinh tế Tỷ trọng các nghành dịch vụ trong tổng

Ngày đăng: 01/11/2018, 23:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w