1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Một số giải pháp đảm bảo an ninh con người thông qua hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại Sở xây dựng

83 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng việc đảm bảo an ninh con người cho tổ chức thông qua hoạt động quản trị nguồn nhân lực là vấn đề bức thiết đặt ra nhằm hạn chế – ngăn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

*** *** ***

HOÀNG MẠNH HÙNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI THÔNG QUA

HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI SỞ XÂY DỰNG TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

*** *** ***

HOÀNG MẠNH HÙNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI THÔNG QUA

HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI SỞ XÂY DỰNG TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống

Mã số: 8900201.05QTD

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN NGỌC THẮNG

Hà Nội - 2020

Trang 3

CAM KẾT

Tác giả cam kết rằng những kết quả của luận văn là của chính tác giả thu được trong thời gian học, nghiên cứu và chưa được công bố cũng như trong bất cứ một chương trình nghiên cứu nào của người khác

Những kết quản nghiên cứu và tài liệu của người khác (trích dẫn, bảng, biểu, công thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) được sử dụng trong luận văn này đã

được các tác giả đồng ý và trích dẫn cụ thể

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, Khoa Quản trị và Kinh doanh và pháp luật về những cam kết nói trên

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2020

Tác giả luận văn

Hoàng Mạnh Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học cao học và làm luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn giúp đỡ quý báu của các Thầy Cô trong Khoa Quản trị và Kinh doanh (HSB) - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Khoa, các Thầy Cô đã tận tình dạy bảo trong quá trình theo học Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hoàng Đình Phi đã giúp tôi lĩnh hội những kiến thức quý báu về môn học Quản trị

an ninh phi truyền thống

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc Thắng đã rất tận tình, quan tâm, hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo Khoa Quản trị và Kinh doanh (HSB)

- Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ nhân viên Sở Xây dựng Tuyên Quang đã giúp đỡ, cung cấp thông tin và tạo điều kiện để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu của mình

Cùng với sự giúp đỡ từ nhiều phía, học viên cũng đã rất nỗ lực để hoàn thành luận văn một cách tốt nhất nhưng do những hạn chế nhất định về kiến thức, thời gian, thông tin nên sản phẩm chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự cảm thông, đóng góp và bổ sung của các Thầy Cô và bạn đọc

để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC HÌNH VẼ iii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 9

4 Đối tượng nghiên cứu 10

5 Phạm vi nghiên cứu 10

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Cấu trúc luận văn 12

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ AN NINH CON NGƯỜI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG 13

1.1 Lý luận cơ bản về an ninh con người 13

1.1.1 Khái niệm về an ninh 13

1.1.2 Khái niệm về an ninh con người 15

1.2 Lý luận cơ bản về đảm bảo an ninh con người tại các tổ chức xây dựng 20

1.2.1 Tổng quan về lĩnh vực xây dựng 20

1.2.2 Công tác đảm bảo an ninh con người cho các đối tượng liên quan tới đơn vị hành chính sự nghiệp 21

1.3 Công tác đảm bảo an ninh con người thông qua hoạt động quản trị nguồn nhân lực trong CQQLNN 23

1.3.1 Khái niệm về nguồn nhân lực 23

1.3.2 Quản trị nguồn nhân lực 24

1.3.3 Quy trình quản trị nguồn nhân lực 26

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI SỞ XÂY DỰNG TỈNH

TUYÊN QUANG 34

2.1 Giới thiệu về Sở Xây dựng tỉnh Tuyên Quang 34

2.1.1 Thông tin về Sở Xây dựng tỉnh Tuyên Quang 34

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Sở Xây dựng tỉnh Tuyên Quang 35

2.2 Thực trạng hoạt động quản trị nguồn nhân lực Sở Xây dựng tỉnh Tuyên Quang 35

2.2.1 Hoạt động thu hút nguồn nhân lực 35

2.2.2 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 40

2.2.3 Duy trì nguồn nhân lực 43

2.3 Thực trạng công tác quản trị nguồn nhân lực để đảm bảo an ninh con người tại sở Xây dựng tỉnh Tuyên Quang 46

2.3.1 Hiệu quả hoạt động thu hút nguồn nhân lực gắn với an ninh con người 47

2.3.2 Hiệu quả đào tạo gắn với đảm bảo an ninh con người 48

2.3.3 Hiệu quả hoạt động duy trì nguồn nhân lực gắn với đảm bảo an ninh con người 51 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 52

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI SỞ XÂY DỰNG TỈNH TUYÊN QUANG 53

3.1 Quan điểm, định hướng phát triển chung của sở xây dựng giai đoạn 2017-2020 định hướng năm 2025 53

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực gắn với đảm bảo an ninh con người tại sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang 54

3.2.1 Hoàn thiện công tác thu hút nguồn nhân lực theo định hướng đảm bảo an ninh con người 54

3.2.2 Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo định hướng đảm bảo an ninh con người 57

3.2.3 Giải pháp duy trì nguồn nhân lực theo định hướng đảm bảo an ninh con người 60

3.3 Một số kiến nghị với tỉnh Tuyên Quang 61

Trang 7

KẾT LUẬN 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC 01: PHIẾU KHẢO SÁT ĐIỀU TRA CÔNG TÁC DUY TRÌ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI SỞ XÂY DỰNG TỈNH TUYÊN QUANG 66 PHỤ LỤC 02: PHIẾU KHẢO SÁT HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC GẮN VỚI AN NINH CON NGƯỜI TẠI SỞ XÂY DỰNG TUYÊN QUANG 68 PHỤ LỤC 03: HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO GẮN VỚI ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI 69 PHỤ LỤC 04: PHIẾU KHẢO SÁT HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DUY TRÌ NGUỒN NHÂN LỰC GẮN VỚI AN NINH CON NGƯỜI 72 PHỤ LỤC 05: KỊCH BẢN PHỎNG VẤN CHUYÊN SÂU CÁN BỘ QUẢN LÝ TẠI SỞ XÂY DỰNG TUYÊN QUANG 73

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Sở Xây dựng tỉnh Tuyên Quang

CHXHCNVN SXD

Cán bộ nhân viên

Cơ quan quản lý nhà nước

CBNV CQQLNN

Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc

Phó giáo sư – Tiến sỹ

Tiến sỹ

UNDP PGS TS

TS

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 So sánh an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống 14

Bảng 1.2 Một số lĩnh vực an ninh doanh nghiệp trong ANPTT 18

Bảng 1.3 Vai trò của hoạt động đào tạo trong việc đảm bảo ANCN 30

Bảng 2.1: Số người được thu hút của Sở từ năm 2016-2019 39

Bảng 2.2 Nội dung đào tạo hội nhập 42

Bảng 2.3 Mức độ hài lòng của người lao động về tiền lương 43

Bảng 2.4 Mức độ hài lòng của người lao động về tiền thưởng 44

Bảng 2.5 Mức độ hài lòng của người lao động với các yếu tố tinh thần 45

Bảng 2.6 Sự hài lòng của người lao động về các yếu tố khác 46

Bảng 2.7 chính sách thu hút và cơ chế, chính sách khác với người được thu hút 47

Bảng 2.8 Mức độ hiệu quả các khóa đào tạo gắn với đảm bảo ANCN tại Sở Xây dựng tỉnh Tuyên Quang 49

Bảng 2.9 chế độ đào đãi ngộ và thu nhập gắn với đảm bảo ANCN tại Sở Xây dựng tỉnh Tuyên Quang 51

Bảng 3.1 Đề xuất các khóa đào tạo gắn với đảm bảo an ninh con người 57

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

Biểu đồ 2.1: số lƣợng lao động chất lƣợng cao của Sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang 40

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

An ninh con người, theo Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP,

năm 1994) được đánh giá qua hai tiêu chí: Một là, an toàn không bị đe dọa bởi đói nghèo, bệnh tật và sự áp bức; hai là, được bảo vệ khi gặp những rủi ro bất thường

trong cuộc sống Tạp chí Cộng sản điện tử - Đại hội XII của Đảng ta cũng xác định:

“Bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội” Là một thành viên của xã hội, mỗi người dân có quyền được bảo đảm bảo an ninh để thực hiện và bảo đảm các quyền không thể thiếu về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự, và

cả an ninh lãnh thổ

An ninh con người không tách rời mà gắn liền với phát triển con người Hai khái niệm này có cùng cách tiếp cận đều lấy con người làm trung tâm, cá nhân con người làm đối tượng quy chiếu, cùng lấy con người làm mục tiêu (chứ không phải phương tiện), có tính chất đa chiều cạnh, bổ sung cho nhau An ninh và phát triển đều có nhiều cấp độ tùy thuộc vào chủ thể cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc tế Tính chất đa chiều của an ninh và phát triển được quyết định bởi tính chất đa chiều, nhiều cạnh của bản thân các chủ thể xã hội đó An ninh con người là điều kiện cần, là nền móng, bộ khung cho sự phát triển con người, còn phát triển con người lại góp phần đảm bảo và củng cố nền móng an ninh con người; mất an ninh con người tất yếu sẽ hủy hoại sự phát triển con người, nếu không có sự phát triển con người tất yếu sẽ dẫn đến mất an ninh con người (Đào Thị Minh Hương và cộng sự, 2016)

Năm 2015, tổng số doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực xây dựng

là 77.500 doanh nghiệp, ngoài ra còn có các doanh nghiệp nhỏ, gia đình, tư nhân

… Các công ty khoa học và công nghệ đang bắt đầu với nhiều dự án quy mô lớn Thông qua đó, trình độ và năng lực của nguồn nhân lực đã được cải thiện rõ rệt Nhiều công ty có tay nghề cao đã ký nhiều dự án đô thị và công nghiệp Công nhân được trang bị nhiều thiết bị hiện đại phục vụ tốt cho công tác xây dựng, nhất là các

dự án lớn và phức tạp

Trang 12

Về thực trạng nguồn nhân lực nước ta hiện nay, ngành xây dựng còn chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng, tỷ lệ công nhân trực tiếp sản xuất qua đào tạo kỹ năng nghề còn rất thấp, tác phong công nghiệp chưa được cải thiện,…dẫn đến năng suất lao động không cao, chất lượng sản phẩm còn nhiều sai sót dẫn đến giảm sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế cũng như ngay tại thị trường trong nước

Theo cục thống kê, trong ngành xây dựng hiện nay có khoảng 32% cán bộ chưa qua đào tạo, 41% trình độ sơ cấp và 68.7% đào tạo ở xã, huyện Trên cả nước chỉ có 36% cán bộ có chuyên môn, được đào tạo trong lĩnh vực xây dựng Và chính

vì nguồn nhân lực quá ít đã dẫn đến nhiều ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình triển khai dự án, quản lý và quy hoạch

Có nhiều nhà quản lý trong các doanh nghiệp nhỏ không được đào tạo về kỹ thuật chuyên môn, thiếu năng lực quản lý, điều đó khiến cho tính cạnh tranh ở những dự án xây dựng là không hề lớn Ngoài kiến thức chuyên ngành, có rất ít cán

bộ được đào tạo về những kỹ năng khác như ngoại ngữ là 3.9%, tin học là 17%, gây khó khăn trong công tác quản lý và giám sát xây dựng Nhiều khu vực thiếu nhân lực về quản lý công trình, quản lý đô thị và các giám sát dự án

Nguồn lao động là yếu tố quyết định đến hiệu quả và năng suất lao động nhưng tỷ lệ lao động vẫn còn khá thấp Năm 2015, Bộ Xây dựng đặt mục tiêu đào tạo là 25.585 mục tiêu, trong đó đào tạo ở các trường nghề là 12.730 và đại học là 11.855 Trên thực tế, nhiều trường không tuyển dụng lao động và nhiều sinh viên không có việc làm, một số khác phải đào tạo lại tại các doanh nghiệp

Cơ cấu trung bình của Việt Nam giữa kỹ sư – người có trình độ – công nhân là 1: 1,3 : 0,5 trong khi trên thế giới là 1 : 4 : 10

Từ cơ cấu trên ta có thế thấy sự thiếu hụt trầm trọng về nguồn nhân lực trong ngành xây dựng, và tỉ lệ này có xu hướng ngày càng gia tăng

Khi các dự án xây dựng diễn ra nhanh và yêu cầu ngày càng cao, số lượng công nhân không kịp cung ứng gây ra tình trạng sụt giảm năng suất và chất lượng công trình, nhiều công nhân thiếu chuyên môn tạo ra sự sai sót trong công việc và khiến tính cạnh tranh trong ngành không cao

Trang 13

Thực trạng nguồn nhân lực có một vai trò rất quan trọng trong những dự án xây dựng, nó ảnh hưởng đến năng suất lao động, tiến độ và chi phí của cả dự án Hơn thế nữa, nguồn lao động còn góp phần vào quá trình phát triển kinh tế của cả nước Trong tương lai gần, vấn đề nguồn lao động đòi hỏi cao hơn về tay nghề, kỹ năng và chất lượng đào tạo

Trong ngành xây dựng, thị trường đòi hỏi trình độ về quản lý, sự chuyên nghiệp, khả năng sử dụng công nghệ để mang lại tính công bằng trong khai thác thị trường

Về mặt lý luận, theo PGS.TS Hoàng Đình Phi (2016) thì an ninh con người trong doanh nghiệp được hiểu là “sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người hay nguồn nhân lực trong doanh nghiệp” Trong đó, mục tiêu chính của việc đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp là việc phát triển, sử dụng an toàn và hiệu quả nguồn nhân lực để phát triển bền vững thông qua (I) tuyển dụng đội ngũ nhân sự ban đầu; (II) Đào tạo và phát triền nguồn nhân lực, (III) Duy trì nguồn nhân lực

Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng việc đảm bảo an ninh con người cho tổ chức thông qua hoạt động quản trị nguồn nhân lực là vấn đề bức thiết đặt ra nhằm hạn chế – ngăn ngừa - phòng tránh các rủi ro trong công việc mà đội ngũ CBNV ngành xây dựng phải đối mặt hàng ngày, chính từ những sự cấp thiết

nêu trên tác giả lựa chọn đề tài “Một số giải pháp đảm bảo an ninh con người thông qua hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại Sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang” làm công trình nghiên cứu của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Do lĩnh vực an ninh phi truyền thống nói chung và an ninh con người nói riêng

là một vấn đề tương đối mới nên các nghiên cứu trước đây chưa gắn được mối liên

hệ giữa hoàn thiện công tác QTNNL với việc đảm bảo an ninh con người Thực tế, kết quả các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nêu lên các quan điểm của tác giả về

an ninh con người, các vấn đề an ninh con người mà thế giới đang đối mặt và thực trạng đảm bảo an ninh con người tại Việt nam hiện nay Các nghiên cứu này chưa

đề cập đến vai trò của công tác QTNNL với việc đảm bảo an ninh con người trong

Trang 14

tổ chức nói chung và trong lĩnh vực xây dựng nói riêng Chính vì vậy, đề tài tôi lựa chọn sẽ giúp tìm hiểu và đưa ra những lý luận chung và những giải pháp cụ thể gắn liền với việc đảm bảo an ninh con người tại Sở xây dựng Tuyên Quang thông qua hoạt động QTNNL Các nghiên cứu về lĩnh vực an ninh con người có thể kể đến như:

a An ninh con người trong bối cảnh toàn cầu hóa (Trần Việt Hà, 2016 Hà

Nội: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam) Tác giả Trần Việt Hà cho rằng “an ninh còn được hiểu là không có sự uy hiếp, không có sự lo sợ; là trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân hoặc của toàn xã hội” Nó được xem là điều kiện quan trọng nhất cho sự tồn tại của con người và xã hội loài người Điều này xuất phát từ quyền được đảm bảo về sự an toàn của con người (John Locke, 2, trang 49) Thực tế, an ninh không chỉ phản ánh môi trường an toàn, mà còn phản ánh trạng thái tâm lý - cảm giác an toàn, nó đối lập với trạng thái tâm lý - cảm giác bất an Bất an là một trạng thái tâm lý bình thường; nó thể hiện sự nhạy cảm của con người trước những rủi ro Dựa trên phân tích về khái niệm an ninh, tác giả đã đưa ra khái niệm về an ninh con người Theo Trần Việt Hà thì: “An ninh con người được hiểu là việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người trước những nguy

cơ xâm hại, đe dọa; nhờ việc được bảo vệ như vậy, mỗi cá nhân (nói riêng) và cộng đồng (nói chung) có được đời sống yên ổn và cơ hội phát triển.” Trong đó, ở phạm

vi hẹp thì an ninh con người chính là sự bảo vệ cá nhân khỏi những mối đe dọa bạo lực Theo phạm vi rộng, an ninh con người chính là giải quyết mố số nhu cầu của con người từ đó đảm bảo hạnh phúc của mỗi cá nhân, bảo vệ cá nhân khỏi mối đe dọa Thông qua việc đảm bảo an ninh con người, nó sẽ giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có thể nắm bắt các cơ hội cho sự phát triển của mình

Bên cạnh quan điểm về an ninh nói chung và an ninh con người nói riêng, tác giả cũng nêu quan điểm của mình về vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm an ninh con người và việc bảo đảm an ninh con người trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Trong đó, theo tác giả quan điểm vai trò đảm bảo an ninh con người trước hết thuộc về nhà nước vẫn đúng đắn nhưng không đồng nghĩa với việc “ủy thác tuyệt

Trang 15

đối và hoàn toàn cho nhà nước trong việc đảm bảo an ninh con người” Thực tế cho thấy, nhiều Nhà nước khi theo đuổi mục tiêu của mình đã bỏ qua hoặc phớt lờ cái mục tiêu tối hậu là an ninh của chính những người dân, cộng đồng đã xây dựng nên Nhà nước đó Ngoài ra, trước những mối đe dọa phi truyền thống mới xuất hiện (nghèo đói, bệnh truyền nhiễm, suy thoái môi trường, tranh chấp tài nguyên thiên nhiên) thì nếu chỉ một mình đơn độc, nhà nước sẽ không có đủ năng lực bảo vệ người dân của mình trước những hiểm họa xuyên biên giới Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, tính tùy thuộc lẫn nhau đang tăng lên không ngừng và các yếu tố gây ảnh hưởng đến an ninh trở nên đa dạng và phức tạp hơn Ngay trong mỗi nhà nước hiện nay đang tiềm ẩn những yếu tố gây bất ổn, những yếu tố này đang được nuôi dưỡng hoặc sẽ bị kích hoạt bởi toàn cầu hóa Có nghĩa rằng nếu xét trên phương diện các giải pháp an ninh đơn lẻ theo từng quốc gia, thì sự an toàn cho quốc gia này có thể là mất an toàn của quốc gia khác Bởi vậy, các giải pháp an ninh cần được xét trong tổng thể và đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

b An ninh con người: Quan niệm Châu Âu- Vấn đề của Đông Nam Á (Bùi

Huy Khoát, 2009 Hà Nội: Viện nghiên cứu Châu Âu) Xuất phát từ tính bức thiết của việc nghiên cứu an ninh con người trong bối cảnh kết thúc Chiến tranh lạnh và sự gia tăng các mối đe dọa bất ổn phi truyền thống như khủng bố (sự kiện khủng bố 11/09 tại Mỹ), khủng hoảng kinh tế thế giới (sự kiện khủng hoảng tài chính- tiền tệ Châu Á năm 1997), tác giả Bùi Huy Khoát

đã có bài nghiên cứu về “An ninh con người: Quan niệm Châu Âu- Vấn đề của Đông Nam Á” Trong đó, tác giả đã đưa ra những luận điểm về an ninh con người

từ khía cạnh lý thuyết, trong đó có “học thuyết” của Liên minh Châu Âu (EU), từ đó xem xét các vấn đề đặt ra trước khu vực Đông Nam Á

Học thuyết an ninh con người của EU được công bố bao gồm 3 thành tố cơ bản:

Thành tố thứ nhất là một bộ 7 nguyên tắc cho các hoạt động trong tình huống

mất an ninh nghiêm trọng Bao gồm: (1) Quyền con người (trước hết là các quyền được sống, được có chỗ ở, được tự do bộc lộ quan điểm ) cần được tôn trọng và bảo vệ ngay cả trong khi đang diễn ra xung đột; (2) Quyền lực chính trị rõ ràng cho

Trang 16

phái đoàn quốc tế được đưa đến nơi xảy ra mất an ninh nghiêm trọng; (3) Chủ nghĩa

đa phương với 3 khía cạnh cơ bản: cam kết hoạt động với các thiết chế quốc tế, cam kết những cách thức làm việc chung và cam kết phối hợp chứ không cạnh tranh; (4) Cách tiếp cận từ dưới lên như một phương pháp nghiên cứu tại chỗ cần được thực hiện xuyên suốt vì sự bén rễ quá sâu của cách tiếp cận từ trên xuống trong các thiết chế quốc tế Đó cũng là cách làm để tăng cường an ninh cho các cá nhân con người

ở khắp mọi nơi; (5) Sự tập trung khu vực với hàm ý các cuộc chiến tranh xung đột bây giờ không có đường biên rõ ràng và phần lớn lan tỏa ở cấp khu vực vì vậy nếu chỉ tập trung chú ý vào địa bàn quốc gia sẽ dễ bỏ qua việc ngăn chặn sự lan tỏa bạo lực; (6) Sử dụng các công cụ pháp luật trong đó tiếp tục áp dụng luật địa phương nhưng không có sự pha trộn hỗn hợp với luật quốc tế; (7) Sử dụng thích hợp sức mạnh ở mức tối thiểu nằm trong sự liên kết thích hợp năng lực dân sự quân sự cho việc thực hiện các hoạt động bảo vệ an ninh con người

Thành tố thứ hai là một lực lượng ứng phó bảo vệ an ninh con người với 15

nghìn biên chế trong đó 1/3 là dân sự Về thành tố này, EU xác nhận đang phát triển nhanh năng lực quân sự, chiến lược của riêng mình với các nhóm tác chiến và các lực lượng can dự trên cơ sở kinh nghiệm đã tích lũy từ quản lý khủng hoảng ngoài

EU

Thành tố thứ ba là một khung khổ luật pháp mới điều chỉnh cả việc quyết

định can thiệp lẫn các hoạt động trên mặt đất Để thực hiện chính sách an ninh dựa trên các nguyên tắc kể trên không thể không xây dựng khung pháp lý- thể chế tạo

cơ sở cho cách tiếp cận bắt buộc theo pháp luật đối với các hoạt động can thiệp Khi nghiên cứu vấn đề an ninh con người tại khu vực Đông Nam Á, tác giả Bùi Huy Khoát cho rằng chỉ đến khi cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 1997

ở khu vực Châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng thì người ta mới đặt ra vấn

đề xem xét lại bản chất của tư duy an ninh và đối chiếu với thực tiễn để thấy tính tất yếu của việc xúc tiến an ninh con người theo cách tiếp cận khu vực Thực tế, khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 đã để lại những hậu quả to lớn Nhìn ở bề nổi, cuộc khủng hoảng đã tạo ra và làm lan tỏa ấn tượng về sự mất an ninh của các nước trong khu vực trên diện rộng: từ chính trị, kinh tế đến văn hóa xã hội với tình cảnh

Trang 17

dân chúng trở nên nghèo khổ hơn do giảm thu nhập thực tế, mất ổn định từ di cư, thiếu hụt lương thực thực phẩm, suy giảm sức khỏe, tội phạm gia tăng, giáo dục sa sút và dân chúng mất niềm tin vào các hệ thống chính trị hiện hành Ở tầm sâu hơn khủng hoảng đã làm giảm sức hấp dẫn của các giá trị châu Á truyền thống Trong bối cảnh đó, cách tiếp của Thái Lan từng được xem là mô hình có độ tin cậy nhất định Theo quan điểm của Thái Lan, an ninh con người trước hết là từ nhu cầu của con người và không hề có sự đối nghịch với các quyền của cá nhân được bảo vệ thông qua hệ thống chính trị khơi dậy được nhân quyền và dân chủ An ninh con người cần ổn định chính trị và phát triển kinh tế, tức có thể đạt được an ninh con người thông qua củng cố dân chủ và dung hòa cả khía cạnh nhu cầu của con người

và nhân quyền để có thể bổ sung cho nhau Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất với các quốc gia Asean là quan niệm nghiêm ngặt về chủ quyền quốc gia đã ăn sâu bén

rễ ở khu vực với việc nhấn mạnh nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Vì vậy, dù nội hàm của quan niệm an ninh con người có thể được tiếp cận

ở các mức độ khác nhau nhưng khó có thể tìm được sự ủng hộ và đồng thuận thông qua các công cụ như “can thiệp”, “nhân đạo” để đảm bảo an ninh con người

c Tập bài giảng quản trị an ninh phi truyền thống (Hoàng Đình Phi, 2017 Hà Nội: Khoa Quản trị & Kinh doanh- Đại học Quốc gia Hà Nội)

Trong nghiên cứu của mình, PGS.TS Hoàng Đình Phi đã chỉ ra những lý luận

cơ bản về khái niệm an ninh con người Theo tác giả “an ninh con người được hiểu

là trạng thái đảm bảo sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người trước các mối đe dọa trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu” Trong đó, 07 yếu tố cấu thành, tác động đến an ninh con người từ

nhiều góc độ, phương diện khác nhau, tùy theo hoàn cảnh không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến từng người, từng cộng đồng người nhất định, cụ thể:

- An ninh kinh tế: bảo đảm cho con người về mặt an sinh xã hội, việc làm, nhất là thu nhập của người lao động, tạo điều kiện cơ sở vật chất thực hiện, bảo đảm cuộc sống, bảo đảm quyền sống và phát triển;

Trang 18

- An ninh lương thực: bảo đảm cho con người không bị đói, cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho con người, bảo đảm mọi người đều có cơ hội và khả năng cung ứng lương thực;

- An ninh sức khỏe: bảo đảm an toàn cho con người trước mọi nguy cơ đe dọa

về mặt sức khỏe thể chất (thể lực) và sức khỏe tinh thần (trí lực);

- An ninh môi trường: bảo đảm môi trường sống cho con người;

- An ninh cá nhân: bảo đảm cho mỗi cá nhân trước nguy cơ đe dọa từ hành vi bạo lực;

- An ninh cộng đồng: bảo đảm cho từng công dân sinh sống trong một cộng đồng an toàn;

- An ninh chính trị: bảo đảm sự ổn định chính trị- xã hội, là tiền đề để bảo đảm, thực thi quyền con người, con người được an toàn, tự do, phát triển cả về thể

chất và tinh thần

Về cơ bản, khái niệm an ninh con người của tác giả đã có sự kế thừa và phát triển sáng tạo từ quan điểm về an ninh con người của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc công bố trong báo cáo phát triển con người năm 1994 và học thuyết an ninh con người của Liên minh Châu Âu (EU) Ngoài ra, trong kết quả nghiên cứu của mình tác giả cũng đã làm rõ khái niệm, nội hàm, bối cảnh ra đời, các mối đe dọa

và các công cụ chính góp phần đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp hiện

nay Theo tác giả, an ninh con người trong doanh nghiệp được hiểu là “an ninh con người trong tổ chức được hiểu là sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người hay nguồn nhân lực trong tổ chức” Đây là khái niệm hoàn toàn mới

được ra đời trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh và biến đổi toàn cầu, trong đó:

- Mục tiêu chính của việc đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp là phát triển, sử dụng an toàn và hiệu quả nguồn nhân lực để cạnh tranh bền vững;

- Phương trình cơ bản về an ninh của một chủ thể là:

An ninh con người = (1 An toàn + 2 Ổn định + 3 Phát triển bền vững) – ( 4 Chi phí quản trị rủi ro + 5 Khủng hoảng + 6 Chi phí khắc phục)

S’S = (S1 + S2 + S3 ) – ( C1 + C2 + C3 )

Trang 19

Nguồn: TT.TS Nguyễn Văn Hưởng và PGS.TS Hoàng Đình Phi (2016) Dựa theo phương trình và trong phạm vi của nghiên cứu này, tác giả lựa có được cac trụ cột chính hay các yếu tố chính để xem xét và đánh giá về công tác bảo đảm an ninh con người thông quan hoạt động quản trị nguồn nhân lực Theo đó, hoạt động thu hút nguồn nhân lực, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, quy trình quản trị nguồn nhân lực của tổ chức nhằm để con người được bảo đảm ở mức độ an toàn, ổn đinh (S1) – kết quả tốt đã đạt được, không để cho rủi ro (C1) – những khungxảy ra, gây thiệt hại về người và tài sản ở các mức độ từ thấp đến cao

- Tác giả xác định các mối đe dọa đến việc đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp: (1) Mất an toàn lao động; (2) Mâu thuẫn, xung đột, đình công và phá hoại; (3) Đối thủ câu nhân tài; (4) Nội gián;

- Các công cụ chính tác giả đề xuất đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp: (1) Chiến lược phát triển nguồn nhân lực; (2) Quy trình quản trị nguồn nhân lực; (3) Quy trình giám sát nhân lực

Đây thực sự là những điểm quan trọng, làm cơ sở lý thuyết phục vụ cho hoạt động nghiên cứu của tác giả luận văn Vì vậy, trong phạm vi của luận văn, tác giả

đã sử dụng các kết quả nghiên cứu về an ninh con người nói chung và an ninh con người trong doanh nghiệp làm cơ sở lý thuyết để giải quyết mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác đảm bảo an ninh con người tại Sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang Trong đó, đề tài tập trung vào các giải pháp thông qua hoạt động quản trị nguồn nhân lực góp phần đảm bảo an ninh con người tại Sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang

Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, tác giả thấy cần phải hoàn thiện một số điểm sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận: an ninh con người, đảm bảo an ninh con người nói chung và trong lĩnh vực xây dựng nói riêng

- Điều tra, tổng hợp các dữ liệu thu thập được nhằm mục đích phân tích và đánh giá thực trạng công tác đảm bảo an ninh con người tại Sở Phân tích các điểm

Trang 20

mạnh, hạn chế và đưa ra nguyên nhân của công tác quản trị nguồn nhân lực gắn với đảm bảo an ninh con người hiện nay tại Sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang

- Đề xuất một số nhóm giải pháp, đưa ra kiến nghị về quản trị nguồn nhân lực góp phần đảm bảo an ninh con người tại Sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là công tác đảm bảo an ninh con người thông qua hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại Sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang

- Thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, thu thập sử dụng các

dữ liệu liên quan đến các hoạt quản trị nguồn nhân lực góp phần đảm bảo an ninh con người tại Sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang trong 3 năm gần đây, từ 2017 đến

2019 giả pháp đến năm 2022 định hướng tới năm 2030

6 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để xử lý các dữ liệu thứ cấp cũng như các kết quả điều tra, phỏng vấn với nhân viên tại Sở về các hoạt động quản trị nguồn nhân lực cũng như phỏng vấn chuyên sâu các cán bộ quản lý tại Sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang Để thực hiện hoạt động nghiên cứu, tác giả dự kiến kế hoạch lấy mẫu cụ thể như sau:

- Đối tượng mẫu: Tác giả đã tiến hành phỏng vấn điều tra tất cả các nhân viên đang làm việc tại Sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang và phỏng vấn chuyên sâu các cán

bộ quản lý

a/ Bằng phiếu khảo sát

Để kiểm định các giả thuyết nêu ra từ mô hình nghiên cứu, tác giả sẽ thiết kế

và phát một phiếu khảo sát định lượng tới các đối tượng nghiên cứu Phiếu khảo sát

sẽ bao gồm các thông tin chung về nghiên cứu, các câu hỏi xoay quanh vấn đề an

Trang 21

ninh con người thông qua hoạt động quản trị nguồn nhân lực theo những căn cứ nghiên cứu đã đề xuất, và những nội dung thu thập thêm từ người trả lời

Thang đo: Thang Likert từ 1 đến 5 sẽ được sử dụng cho đa số các câu hỏi trong phiếu hỏi định lượng với 5 tương ứng với mức “cao nhất” và 1 tương ứng với mức “thấp nhất”

Đối tượng khảo sát: sẽ là ban lãnh, cán bộ nhân viên của Sở Xây dựng tỉnh

Tuyên Quang số lượng phiếu dự kiến sẽ phát ra tầm 100 phiếu và thu về từ 70-90 phiếu với tỷ lệ phiếu hợp lệ tầm 60-80 phiếu

Thiết kế phiếu điều tra: Phiếu điều tra được thiết kế cho phù hợp với các mục

tiêu của luận văn và dựa trên khung lý thuyết một các rõ ràng, dễ hiểu Qui trình thiết kế như sau:

- Dựa vào mục tiêu và khung lý thuyết nghiên cứu để xác định các thông tin cần thiết: các nhân tố, biến số và các thước đo;

- Xác định loại câu hỏi;

- Xác định nội dung của từng câu hỏi;

- Xác định từ ngữ sử dụng cho từng câu hỏi;

- Xác định tính logic cho các câu hỏi;

- Dự thảo phiếu điều tra;

- Nộp phiếu điều tra cho giảng viên hướng dẫn;

- Giảng viên hướng dẫn kiểm tra, chuẩn chỉnh lại và đồng ý cho triển khai điều tra;

Nội dung cơ bản của phiếu điều tra:

- Giới thiệu về đề tài: tên tác giả, tên đề tài, nội dung chính cần khảo sát

- Giải thích từ ngữ cần thiết cho điều tra: khái niệm an ninh, an ninh con người, nguồn nhân lực, quản trị nguồn nhân lực

- Đánh giá giá trị của từng loại rủi ro đang tồn tại trong Sở xây dựng Tuyên Quang theo 02 tiêu chí là tần suất xảy ra và mức độ ảnh hưởng

b/ Phỏng vấn trực tiếp ban lãnh đạo Tác giả sẽ trực tiếp phỏng vấn ý kiến BLĐ Sở xây dựng Tuyên Quang về các tiêu chí, công tác liên quan đến hoạt động quản trị nguồn nhân lực như: tuyển sinh,

Trang 22

đào tạo và phát triển, cũng như duy trì nguồn nhân lực

Phương pháp phân tích dữ liệu Phương pháp định lượng: Tác giả sẽ sử dụng phần mềm excel để phân tích các dữ liệu đã thu thập được Mục đích của phân tích định lượng là xác định được giá trị của từng rủi ro hiện có của Sở Từ đó, căn cứ vào mô hình lựa chọn quản trị nguồn nhân lực từ đó tác giả đưa ra giải pháp cho công tác đảm bảo an ninh con người của Sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang

- Phương pháp định tính: Cùng với phương pháp định lượng, luận văn cũng sử dụng những phương pháp định tính như so sánh, phân tích, đánh giá nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần giới thiệu nghiên cứu, lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, hình vẽ, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về an ninh con người và đảm bảo an ninh con người, nguồn nhân lực, quản trị nguồn nhân lực trong lĩnh vực xây dựng

- Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị nguồn nhân lực đảm bảo an ninh con người tại Sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang

- Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị góp phần đảm bảo an ninh con người thông qua hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại Sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang

Trang 23

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ AN NINH CON NGƯỜI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC XÂY

DỰNG 1.1 Lý luận cơ bản về an ninh con người

1.1.1 Khái niệm về an ninh

Sự ổn định và phát triển vững mạnh về mọi mặt: chế độ xã hội, dân cư, không gian sinh tồn, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khả năng phòng thủ đất nước; sự bảo đảm an toàn, trật tự tổ chức đời sống lao động, sinh hoạt xã hội của dân cư theo pháp luật của một quốc gia độc lập, có chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ

An ninh quốc gia bao gồm các nội dung an ninh trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng - văn hoá, xã hội, quốc phòng, đối ngoại và trật tự, an toàn xã hội trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội; an ninh đối với những cơ sở quan trọng nhất của sự sinh tồn và phát triển của quốc gia

Luật an ninh quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá XI, kì họp thứ sáu thông qua ngày 3.12.2004 khẳng định an ninh quốc gia chính là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc An ninh quốc gia có hai mặt cơ bản:

1) Sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ và Nhà nước;

2) Sự bất khả xâm phạm về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Hai yếu tố này có quan hệ hữu cơ với nhau, ảnh hưởng, thậm chí quy định lẫn nhau; giải quyết mặt này sẽ tăng cường củng cố mặt kia và ngược lại Bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống lại mọi hoạt động xâm hại

an ninh quốc gia; là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân, trong đó công an nhân dân và quân đội nhân dân là những lực lượng nòng cốt

Tất cả các yếu tố trên đã hình thành nên khái niệm an ninh phi truyền thống (ANPTT) Quan niệm này liệt kê 7 thành tố của ANPTT là: (i) An ninh kinh tế- trước mối đe dọa nghèo khổ; (ii) An ninh lương thực trước đe dọa đói kém; (iii) An ninh sức khỏe trước đe dọa thương tích và bệnh tật; (iv) An ninh môi trường trước

đe dọa ô nhiễm, xuống cấp môi trường và cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên

Trang 24

nhiên; (v) An ninh cá nhân, bảo vệ trước các hình thức bạo hành khác nhau; (vi) An ninh cộng đồng, bảo vệ sự toàn vẹn văn hóa; (vii) An ninh chính trị, bảo vệ trước sự

bị trấn áp chính trị Trong đó, các mối đe dọa từ an ninh phi truyền thống được hiểu

là các vấn đề an ninh mới xuất hiện và có khả năng tác động tiêu cực tới sự an toàn, tồn tại, ổn định và phát triển bền vững của cá nhân, con người, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bối cảnh biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu An ninh phi truyền thống được hiểu trên 4 cấp độ:

- An ninh phi truyền thống ở cấp độ quốc tế;

- An ninh phi truyền thống ở cấp độ Nhà nước (quốc gia, địa phương);

- An ninh phi truyền thống ở cấp độ cộng đồng (con người);

- An ninh phi truyền thống ở cấp độ doanh nghiệp (chủ DN và đông đảo người lao động);

Bảng 1.1 So sánh an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống

CHUNG

ĐIỂM MỚI

1

Khái niệm

cơ bản

Là an ninh quốc

gia Cách tiếp cận lấy nhà nước làm trung tâm

Là an ninh nhà nước, A.N con người và A.N

DN Cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm

Mối quan hệ biện chứng

Khái niệm mới ra đời

nhập toàn cầu

2

Mục tiêu chính

Ổn định và PTBV của nhà nước, chế

độ, độc lập, chủ quyền, thống nhất, lãnh thổ

Ổn định và PTBV của nhà nước, con người (cộng đồng) và doanh nghiệp

Mối quan hệ biện chứng

Phát triển theo xu thế hội nhập toàn cầu

nhận thức

Trang 25

TT ANTT ANPTT ĐIỂM

CHUNG

ĐIỂM MỚI

4

Công

cụ chính

 Sức mạnh, nguồn lực cộng đồng

 Sức mạnh & nguồn lực doanh nghiệp

Mối quan hệ biện chứng

Thay đổi nhận thức Phải chủ động

5

Tác động trực tiếp

Sự tồn tại của Đảng cầm quyền

và thể chế nhà nước do Đảng cầm quyền quyết định

 Quốc tế (* VD: An ninh mạng )

 Khu vực (*VD Đói, Dịch bệnh…)

 NN (* tùy tình huống)

 Con người/ Cộng đồng

 Doanh nghiệp

Mối quan hệ biện chứng

Tác động đa chiều, đa mức độ, đa cấp độ, đa lĩnh vực, xuyên biên giới…

Nguồn: Nguyễn Văn Hưởng, Bùi Văn Nam, Hoàng Đình Phi, 2015

1.1.2 Khái niệm về an ninh con người

Khái niệm An ninh con người do Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đưa ra đầu tiên vào năm 1994 trong Báo cáo hàng năm về sự phát triển của con người UNDP cho rằng: An ninh con người “là sự an toàn của con người trước những mối đe dọa kinh niên như nghèo đói, bệnh tật, đàn áp và những biến cố bất ngờ, bất lợi trong cuộc sống hằng ngày” Theo đó, bảo đảm an ninh con người trên bảy phương diện: an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị Như vậy, an ninh con người được đặt ra trong sự hòa quyện và tương hỗ với những nội dung an

Trang 26

ninh khác, an ninh con người có mối quan hệ với thời đại, xã hội và môi trường tự nhiên Đến lượt mình, an ninh con người trở thành một nhân tố, điều kiện quan trọng để thực hiện cũng như bảo đảm an ninh xã hội, an ninh toàn cầu, hòa bình thế giới

Vấn đề an ninh con người đã được Liên hợp quốc và nhiều nước trên thế giới tiếp nhận như một tư duy mới có sức thuyết phục và có giá trị thực tiễn cao Con người đặt ở vị trí trung tâm của thời cuộc, của xã hội là hoàn toàn đúng Xã hội suy cho cùng là xã hội của con người và vì con người Thực hiện an ninh con người sẽ

bổ sung và làm phong phú cho an ninh quốc gia và an ninh toàn cầu

Tuy nhiên, từ khái niệm chung về an ninh con người lại có cách hiểu cụ thể khác nhau, dẫn tới những chính sách và hành vi rất khác nhau Ở nhiều nước và nhiều thể chế chính trị coi trọng an ninh con người, đề cao vai trò của quần chúng nhân dân; từ đó coi nhân dân là người chủ thực sự của xã hội; thể chế xã hội và ngay cả bộ máy nhà nước cũng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Từ đó, các chính sách và an ninh xã hội, công bằng xã hội, bình đẳng xã hội, xóa đói giảm nghèo… được coi trọng và thực hiện đầy trách nhiệm Chính việc bảo đảm được an ninh con người sẽ làm cho an ninh quốc gia được bảo đảm, đất nước phát triển bền vững, hài hòa

Khác với cách hiểu và cách làm như trên, một số nước phương Tây lại đặt cá nhân con người vào vị trí tối thượng, coi an ninh con người quan trọng hơn an ninh quốc gia, xóa bỏ thực tế an ninh quốc gia đang là yếu tố cơ bản quyết định hệ thống quốc tế và là chủ thể của an ninh quốc tế Vì thế, trong nhiều trường hợp, lấy cớ là

vì con người, người ta có thể tiến hành can dự quốc tế vào các quốc gia nào “có vấn đề” đối với con người Đó chính là lợi dụng quan niệm về an ninh con người để tô điểm cho quan điểm phi lý “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, coi chủ quyền quốc gia không phải là thiêng liêng, không phải là bất khả xâm phạm

Như vậy, cần phân biệt thấu đáo những quan điểm đúng đắn và quan điểm phản diện về an ninh con người Bảo đảm an ninh con người phải là bảo đảm chủ quyền quốc gia của cả cộng đồng sinh sống, đó là chủ quyền thiêng liêng nhất, bao hàm an ninh con người và phục vụ cao nhất cho an ninh con người

Trang 27

Kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm về an ninh nói chung và an ninh con

người nói riêng, Theo PGS.TS Hoàng Đình Phi (2015) thì an ninh con người được hiểu là trạng thái đảm bảo sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người trước các mối đe dọa trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu

và biến đổi khí hậu Trong đó, 07 yếu tố cấu thành, tác động đến an ninh con người

từ nhiều góc độ, phương diện khác nhau, tùy theo hoàn cảnh không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến từng người, từng cộng đồng người nhất định, cụ thể:

- An ninh kinh tế: bảo đảm cho con người về mặt an sinh xã hội, việc làm, nhất là thu nhập của người lao động, tạo điều kiện cơ sở vật chất thực hiện, bảo đảm cuộc sống, bảo đảm quyền sống và phát triển;

- An ninh lương thực: bảo đảm cho con người không bị đói, cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho con người, bảo đảm mọi người đều có cơ hội và khả năng cung ứng lương thực;

- An ninh sức khỏe: bảo đảm an toàn cho con người trước mọi nguy cơ đe dọa

về mặt sức khỏe thể chất (thể lực) và sức khỏe tinh thần (trí lực);

- An ninh môi trường: bảo đảm môi trường sống cho con người;

- An ninh cá nhân: bảo đảm cho mỗi cá nhân trước nguy cơ đe dọa từ hành vi bạo lực;

- An ninh cộng đồng: bảo đảm cho từng công dân sinh sống trong một cộng đồng an toàn;

- An ninh chính trị: bảo đảm sự ổn định chính trị- xã hội, là tiền đề để bảo đảm, thực thi quyền con người, con người được an toàn, tự do, phát triển cả về thể chất và tinh thần

Về cơ bản, nội hàm khái niệm an ninh con người của PGS.TS Hoàng Đình Phi đã có sự kế thừa từ quan điểm về an ninh con người của UNDP công bố trong báo cáo phát triển con người năm 1994 và học thuyết an ninh con người của Liên minh Châu Âu Ngoài ra, trong kết quả nghiên cứu của mình tác giả cũng đã có những phát triển sáng tạo trong việc làm rõ khái niệm, nội hàm, bối cảnh ra đời, các mối đe dọa và các công cụ chính góp phần đảm bảo an ninh con người trong doanh

Trang 28

nghiệp hiện nay Đây thực sự là những luận điểm quan trọng, làm cơ sở lý thuyết phục vụ cho hoạt động nghiên cứu của tác giả luận văn Vì vậy, trong phạm vi của luận văn, tác giả đã sử dụng các kết quả nghiên cứu về an ninh con người nói chung

và an ninh con người trong doanh nghiệp làm cơ sở lý thuyết để giải quyết mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn

Bảng 1.2 Một số lĩnh vực an ninh doanh nghiệp trong ANPTT

DN

AN công nghệ của DN

AN con người của DN

AN thương hiệu của DN

1

Khái niệm

cơ bản

Khái niệm mới trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, biến đổi toàn cầu

Khái niệm mới trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, biến đổi toàn cầu

Khái niệm mới trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, biến đổi toàn cầu

Khái niệm mới trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, biến đổi toàn cầu

2

Mục tiêu chính

Phòng tránh được các rủi ro tài chính, đảm bảo nguồn lực tài chính để cạnh tranh bền vững

Phát triển, bảo vệ

và sử dụng hiệu quả các năng lực công nghệ để cạnh tranh bền vững

Phát triển, sử dụng an toàn và hiệu quả nguồn nhân lực để cạnh tranh bền vững

Xây dựng, sử dụng, bảo vệ, phát triển, thương hiệu để cạnh tranh bền vững

3

Chủ thể chính

Các chủ doanh nghiệp

Các chủ doanh nghiệp

Các chủ doanh nghiệp

Các chủ doanh nghiệp

4

Công

cụ chính

Điều lệ công ty;

Chiến lược tài chính của DN;

Quy chế kiểm soát thu chi và Quy trình quản trị rủi

Chiến lược kinh doanh và chiến lược công nghệ;

Quy trình quản trị công nghệ và Quy chế bảo mật công

Chiến lược phát triển nguồn nhân lực; Quy trình quản trị nguồn nhân lực

và Quy trình

Chiến lược kinh doanh và chiến lược thương hiệu; Đăng ký bảo hộ và Quy chế quản trị

Trang 29

TT AN tài chính của

DN

AN công nghệ của DN

AN con người của DN

AN thương hiệu của DN

lực

thương hiệu

5

Mối đe dọa chính

Mất cân đối thu chi; Khủng hoảng KT-TC lớn nhỏ;

Tham nhũng nội bộ; Lừa đảo tài chính, kinh doanh

Năng lực công nghệ yếu kém; Bí mật công nghệ bị trộm cắp; Thiếu tiền và nhân lực cho R&D; Công nghệ mới thay thế

(1) Mất an toàn lao động;

(2) Xung đột, mâu thuẫn, đình công, phá hoại;

(3) Đối thủ câu nhân tài;

(4) Nội gián

Hàng nhái, hàng giả; Không có

sự lành mạnh

tranh; Thương hiệu không có sức mạnh như một tài sản trí tuệ; Uy tín lãnh đạo DN giảm

Nguồn: Nguyễn Văn Hưởng, Bùi Văn Nam, Hoàng Đình Phi, 2015 Theo PGS.TS Hoàng Đinh Phi (2015) thì an ninh con người trong doanh nghiệp được hiểu là sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người hay nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Đây là khái niệm hoàn toàn mới được ra đời

trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh và biến đổi toàn cầu Trong đó, mục tiêu chính của việc đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp là việc phát triển, sử dụng

an toàn và hiệu quả nguồn nhân lực để cạnh tranh bền vững Điều này sẽ góp phần đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp trước các mối đe dọa như: (1) Mất

an toàn lao động; (2) Mâu thuẫn, xung đột, đình công, phá hoại; (3) Đối thủ câu nhân tài; (4) Nội gián Để thực hiện mục tiêu này, các chủ thể chính là chủ doanh nghiệp và nhà quản lý doanh nghiệp cần phải sử dụng các công cụ chính thông qua Quy trình quản trị nguồn nhân lực: Nó được hiểu là trình tự các hoạt động trong công tác quản trị nguồn nhân lực của một tổ chức thực hiện chức năng thu hút nguồn nhân lực; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; duy trì nguồn nhân lực góp phần nâng cao sự đóng góp có hiệu suất của người lao động đối với tổ chức, đáp ứng các yêu cầu công việc trước mắt và trong tương lai

Trang 30

1.2 Lý luận cơ bản về đảm bảo an ninh con người tại các tổ chức xây dựng

1.2.1 Tổng quan về lĩnh vực xây dựng

Đi cùng sự phát triển của kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện đại Không thể không nói đến vai trò của ngành kỹ thuật xây dựng Đặc biệt, khi những bước tiến của kinh tế xã hội luôn gắn liền với sự tăng trưởng của ngành xây dựng Vậy thực

tế, ngành xây dựng là gì? Đặc thù của ngành kỹ thuật này? Và nó có vai trò gì với

sự phát triển chung của kinh tế xã hội? Vậy ngành xây dựng là gì?

Mặc dù không phải là khái niệm xa lạ Tuy nhiên, để định nghĩa chính xác thì

có rất nhiều quan điểm được đưa ra Trong đó, tổng hợp nhất có thể nhận định rằng xây dựng là một quy trình thiết kế và thi công tạo nên các cơ sở hạ tầng hoặc các công trình dân dụng, công trình công nghiệp

Ngành xây dựng là lĩnh vực bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến kỹ thuật thiết kế và thi công hạ tầng Không giống các lĩnh vực sản xuất khác Ngành xây dựng thường nhắm đến những sản phẩm tại những địa điểm dành cho từng đối tượng khách hàng riêng biệt Đó có thể là cá nhân, hộ gia đình, tổ chức hoặc cả cộng đồng

Theo mục đích sử dụng và đối tượng khách hàng Khi phân tích ngành xây dựng là gì Chúng ta có thể phân loại ra thành các nhóm sau:

+ Xây dựng nhà các loại Bao gồm nhóm nhà ở: nhà ở độc lập, nhà chung cư, nhà cao tầng,… Và nhóm nhà không dùng để ở: bệnh viện, trường học, văn phòng, nhà hàng, gara, kho bãi, công xưởng,…

+ Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng Bao gồm các hoạt động thi công đường giao thông: đường cao tốc, đường nhựa, đường sắt, đường băng,… Và các hoạt động công trình công ích: mạng viễn thông, đường ống, hệ thống ống dẫn nước, mương máng, hệ thống thủy lợi, trạm bơm, nhà máy năng lượng,…

+ Hoạt động xây dựng chuyên dụng

Là nhóm các công trình đáp ứng mục đích sử dụng riêng biệt Ví dụ các hoạt động thi công, lắp đặt lưới điện, đèn điện, ốp lát, trang trí, đóng cọc, san nền,…

Trang 31

1.2.2 Công tác đảm bảo an ninh con người cho các đối tượng liên quan tới đơn

vị hành chính sự nghiệp

Mục tiêu chính của các hoạt động đảm bảo an ninh con người là phát triển, sử dụng an toàn và hiệu quả nguồn nhân lực để cạnh tranh bền vững Sở Xây dựng là một cơ quan hành chính sự nghiệp Nhà nước cũng không nằm ngoài mục tiêu đó

Từ đó Sở Xây dựng phải có các hoạt động, cụ thể:

Các hoạt động đảm bảo sự an toàn cho đội ngũ nhân lực tại CQQLNN: Tăng

cường nguồn nhân lực, cơ sở vật chất mà công tác bảo vệ đặt ra Nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe và các chương trình quốc gia về y tế Đẩy mạnh công tác y tế học đường, xã hội hóa y tế Liên tục đào tạo, bổ sung cán bộ y tế đủ chất lượng và số lượng Coi trọng chất lượng dân số; thực hiện tốt các chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe Đáp ứng yêu cầu tối thiểu cần có của công, người lao động được tạo môi trường thuận lợi về tâm sinh lý

Các đơn vị sử dụng lao động cần tăng cường đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc theo từng loại công việc cụ thể; tạo điều kiện cho người lao động được tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật mới và hiện đại, cải thiện điều kiện lao động nhằm nâng cao hiệu suất, hiệu quả công tác

Việc kiểm tra sức khỏe định kỳ cho nhân viên trong tổ chức cần được có kế hoạch triển khai và duy trì hàng năm; Có thể đưa việc đánh giá sức khỏe vào tiêu chí khen thưởng cuối năm Từ đó người lao động sẽ chú trọng tới sức khỏe của mình hơn nữa, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Thông qua công tác kiểm tra sức khỏe định kỳ, đưa đánh giá vào cuối năm sẽ tạo cho người lao động thêm gắn

bó và có được sức khỏe tốt, an tâm làm việc

- Các hoạt động đảm bảo sự ổn định đội ngũ nhân lực tại CQQLNN: Mỗi một

đơn vị cần có cơ chế phát huy vai trò của người quản lý và sử dụng lao động; Thực hiện tốt chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao Tạo điều kiện, môi trường, chính sách làm việc thuận lợi (nhất là đối với các cơ quan Nhà nước); đặc biệt bộ phận nhân lực chất lượng cao cần được chú ý; cần quan tâm hơn các điều kiện sinh hoạt, sinh sống và nhà ở của người lao động

Trang 32

- Các hoạt động đào tạo và phát triển đội ngũ nhân lực tại CQQLNN:

Đồng bộ hóa đội ngũ cán bộ đủ bản lĩnh, nhân cách và năng lực tương ứng Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và trên hết, đòi hỏi phải có sự tâm huyết

và tinh thần trách nhiệm cao Mặt khác, cần chú trọng đổi mới phương pháp tiếp cận, tăng cường đối thoại, trao đổi, tranh luận, đây là một trong những đặc trưng quan trọng nhất, nhằm khắc phục tình trạng truyền thống …

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và các phương pháp hiện đại; chủ động chọn lọc, xử lý thông tin, bảo đảm nguồn thông tin chính thống, thông tin có định hướng, tránh rơi vào “cái bẫy” của các thế lực thù địch, phản động

Theo PGS- TS Hoàng Đình Phi (2015), các mối đe dọa chính đến việc gây mất

an ninh con người tại các CQQLNN nói chung bao gồm: (1) Mất an toàn lao động; (2) Mâu thuẫn, xung đột, đình công, phá hoại; (3) Đối thủ câu nhân tài; (4) Nội gián Là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh các dịch vụ tài chính thì các CQQLNN cũng phải đối phó với các mối đe dọa chính như trên Để hạn chế các rủi

ro gây mất an ninh con người đòi hỏi các CQQLNN phải thực hiện tốt các hoạt động, cụ thể:

- Các hoạt động đối phó với rủi ro mất an toàn lao động: Đó là các hoạt động

ngăn ngừa sự cố tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, gây thương tích đối với cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động như: Các hoạt động phòng ngừa, tổ chức

và phục vụ tốt nơi làm việc; Các hoạt động thanh tra và kiểm soát quy trình, tiêu chuẩn trong lao động; Các hoạt động đào tạo, huấn luyện và khuyến khích người lao động tuân thủ…

- Các hoạt động đối phó với rủi ro mâu thuẫn, xung đột, đình công, phá hoại:

Đó là các hoạt động ngăn ngừa các sự cố mâu thuẫn, xung đột, đình công, phá hoại xuất phát từ sự bất bình của người lao động trong công việc, môi trường làm việc như: đào tạo và phát triển; tạo động lực; phát triển và đánh giá; kỷ luật lao động…

- Các hoạt động đối phó với rủi ro đối thủ câu nhân tài: Đó là các hoạt động

ngăn ngừa rủi ro các đối thủ cạnh tranh thu hút nhân tài của các CQQLNN, như: quản trị tiền công tiền lương; đào tạo và phát triển nhân viên; tạo động lực…

Trang 33

- Các hoạt động đối phó với rủi ro nội gián: Đó là các hoạt động ngăn ngừa

rủi ro các sự cố liên quan đến nội gián của CQQLNN, như: quy trình bảo mật thông tin nội bộ, quy trình tuyển dụng và đào tạo nhân viên; Bố trí nhân lực và thôi việc… Nói tóm lại, việc đảm bảo an ninh con người trước các mối đe dọa đang là vấn

đề bức thiết đặt ra đối với các CQQLNN tại Việt Nam Đặc biệt, với lĩnh vực xây dựng, rủi ro luôn tiềm ẩn hàng ngày, nên việc đảm bảo an ninh con người là vô cùng cấp bách và cần thiết Để đảm bảo an ninh con người trước các mối đe dọa, hương tới mục tiêu phát triển, sử dụng an toàn và hiệu quả nguồn nhân lực để cạnh tranh bền vững đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ của nhiều giải pháp khác nhau Trong

đó, Quản trị nguồn nhân lực được coi là một giải pháp quan trọng

1.3 Công tác đảm bảo an ninh con người thông qua hoạt động quản trị nguồn nhân lực trong CQQLNN

1.3.1 Khái niệm về nguồn nhân lực

Về khái niệm “Nguồn nhân lực” có tương đối nhiều quan điểm khác nhau: Trong chương trình KX-07, các nhà khoa học đánh giá: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là chất lượng con người và số dân, bao gồm cả tinh thần và thể chất, năng lực, sức khỏe và trí tuệ, đạo đức và phẩm chất của người lao động”

Theo giáo trình Nhân lực do Nhà xuất bản Lao động xã hội xuất bản: “Nguồn nhân lực bao gồm tất cả người dân còn năng lực lao động, không phân biệt những người đó đang được phân bố vào lĩnh vực, ngành nghề, khu vực nào Có thể coi đây

là nguồn nhân lực xã hội”

Nguồn nhân lực với chức năng cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm tất

cả người dân có thể phát triển bình thường (không bị dị tật bẩm sinh, sức khỏe đảm bảo để lao động)

Nguồn nhân lực đóng vai trò là một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội, hiểu đơn giản hơn đó là khả năng lao động của xã hội, bao gồm nhóm dân cư có khả năng lao động và còn trong độ tuổi lao động

Sự tổng hợp cá nhân những con người cụ thể, họ tham gia vào quá trình lao động còn được hiểu là nguồn nhân lực, là tổng thể các yếu tố tinh thần và thể chất được huy động vào quá trình lao động Với cách hiểu này những người trong độ

Trang 34

tuổi lao động tham gia và quá trình sản xuất chính là nguồn nhân lực

Các khái niệm trên chỉ khác nhau trong việc xác định quy mô nguồn nhân lực, nhưng đều có chung một ý nghĩa thể hiện khả năng lao động của xã hội

Nguồn nhân lực được đánh giá về phương diện chất lượng và số lượng Số lượng được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô, tốc độ tăng dân số Tốc độ tăng dân số, quy mô dân số tỉ lệ thuận với quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực

Về chất lượng, nguồn nhân lực được đánh giá về phương diện: trình độ văn hóa, tình trạng sức khỏe, năng lực phẩm chất và trình độ chuyên môn…

Trong quá trình phát triển xã hội và tạo ra của cải vật chất, văn hóa thì số lượng và đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò cực kỳ quan trọng

Từ những khái niệm đã nêu trên, có thể thấy nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa:

- Nghĩa hẹp, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội, là khả năng lao động của xã hội, bao gồm các nhóm người dân trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào sản xuất xã hội, lao động, tức là bao gồm toàn bộ người dân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng hợp các yếu tố về trí tuệ, thể lực, kỹ năng chuyên môn của họ được sử dụng vào quá trình lao động

- Nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển, cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ người dân có thể phát triển bình thường

1.3.2 Quản trị nguồn nhân lực

Khái niệm quản trị nguồn nhân lực được thể hiện theo nhiều khía cạnh khác nhau:

Theo khía cạnh tổ chức quá trình lao động: “Quản lý nguồn nhân lực là lĩnh vực theo dõi, hướng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất (năng lượng, thần kinh, bắp thịt) giữa con người với các yếu tố vật chất của tự nhiên (công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lượng ) trong quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần để thoả mãn nhu cầu của con người và xã hội nhằm duy trì, bảo vệ và phát triển tiềm năng của con người”

Theo Nguyễn Ngọc Thắng, tập bài giảng về quản trị nhân lực gồm những nội

Trang 35

dung về quy trình thực hiện kế hoạch nhân lực; rà soát cho kế hoạch nhân sự; dự báo nhu cầu nhân sự; thách thức hiện nay với kế hoạch nhân sự; quyết định với kế hoạch nhân sự

Với vai trò là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản trị: Quản trị nguồn nhân lực bao gồm các việc từ hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát các hoạt động liên quan đến việc thu hút, sử dụng và phát triển người lao động trong các tổ chức

Đi sâu vào chính nội dung hoạt động của quản trị nhân lực thì “Quản lý nhân lực là việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng như cung cấp các tiện nghi cho người lao động trong các tổ chức”

Chung quy, quản trị nhân lực được hiểu trên hai khía cạnh: nghĩa hẹp và nghĩa rộng

Nghĩa hẹp của quản trị nguồn nhân lực là đơn vị quản lý thực hiện một số công việc như: tuyển dụng, bình xét, giao việc, giải quyết tiền lương, đào tạo, đánh giá năng lực của cán bộ, nhân viên nhằm hoàn thành tốt mục tiêu, kế hoạch mà đơn

vị đề ra

Xét trên góc độ quản lý, việc khai thác và quản lý nguồn nhân lực lấy giá trị con người làm trọng tâm, vận dụng hoạt động khai thác và quản lý nhằm giải quyết những tác động lẫn nhau giữa con người với công việc, giữa con người với con người và giữa con người với tổ chức

Từ đó, khái niệm chung nhất cho quản trị nguồn nhân lực là “Những hoạt động nhằm đẩy mạnh các đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ chức đồng thời đạt được mục tiêu cá nhân và xã hội”

Quan điểm trên dựa trên 4 tiếp cận hiện đại sau đây:

Tiếp cận về con người: Quản trị nguồn nhân lực chính là quản trị con người của tổ chức đó, do đó trong quá trình quản trị phải biết chú ý đến lợi ý của cá nhân trong quá trình thực hiện mục tiêu của tổ chức

Tiếp cận về quản lý: là tổng hợp các hoạt động có ý thức nhằm thực hiện các mục tiêu và mục đích của tổ chức thông qua các nỗ lực của mỗi cá nhân Quản lý

Trang 36

gồm các hoạt động: lập kế hoạch, tổ chức, điều phối, chỉ huy, và kiểm tra Quản lý nguồn nhân lực là trách nhiệm của những người thuộc cấp quản lý trong tổ chức Trong đó, phòng tổ chức phải gợi ý, cố vấn và phục vụ cho mọi cán bộ quản lý trong tổ chức để họ có thể quản lý ngày càng tốt hơn những người lao động trong bộ phận của mình

Tiếp cận về hệ thống: CQQLNN là một hệ thống phức tạp và mở ra môi trường bên ngoài, mà trong đó mỗi cá nhân, bộ phận là các phân hệ và các phần tử

có quan hệ mật thiết và chặt chẽ với nhau để thực hiện những mục tiêu và mục đích chung của nó Đơn vị đó sẽ bị ảnh hưởng ngay cả khi chỉ một phần tử nào đó không bình thường

Do đó, ngoài việc biết phân công lao động một cách hợp lý, cân đối cho từng

bộ phận và mỗi cá nhân, các nhà quản lý còn phải biết tạo lập điều kiện và tổ chức lao động tốt nhất cho họ tiến hành sản xuất kinh doanh, cũng như phải biết quan tâm một cách hài hoà và hợp lý nhất đến các lợi ích của họ trong quá trình tồn tại, như phát triển của đơn vị

Tiếp cận về mặt chủ động tích cực: ngoài việc tạo lập, duy trì một cách tích cực các cố gắng của mỗi cá nhân, bộ phận trong một tổ chức, quản lý nguồn nhân lực còn phải biết nhìn thấy trước được các thách thức cũng như các vấn đề có ảnh hưởng đến kết quả lao động và con người của họ, để từ đó có sự đề phòng, chuẩn bị trước nhằm làm tăng sự đóng góp một cách tích cực và chủ động hơn nữa của tất cả người lao động trước khi các thách thức đó xuất hiện

Nhìn chung, CQQLNN nào cũng đều có bộ phận quản trị nguồn nhân lực Bộ phận này chủ yếu xây dựng các chế độ, đưa ra các tài liệu tư vấn và những quy định

cụ thể có liên quan đến quản trị nguồn nhân lực Phụ trách nguồn nhân lực của đơn

vị là một trong những bộ phận chính của Lãnh đạo, có nhiệm vụ phục vụ các ngành trực thuộc bên dưới, tuy nhiên, không có quyền ra lệnh cho nhân viên cấp dưới phải tiếp nhận phần phục vụ ấy

1.3.3 Quy trình quản trị nguồn nhân lực

Để đảm bảo an ninh con người thông qua hoạt động quản trị nhân lực cần phải xác định rõ các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình quản trị nguồn nhân lực:

Trang 37

Trong đó thu hút nhân lực: Thu hút NNL là một trong các các khâu quan trọng

của quản trị NNL nhằm tuyển dụng những người có trình độ đáp ứng các yêu cầu đặt ra từ lực lượng lao động xã hội vào làm việc trong một cơ quan, tổ chức Do nhiều yếu tố ảnh hưởng như điều kiện kinh tế, xã hội; nhu cầu thu nhập; trình độ học vấn; điều kiện cư trú; địa vị xã hội; môi trường làm việc mà NNL có thể thay đổi nơi làm việc, di chuyển từ tổ chức này sang tổ chức khác, địa phương này sang địa phương khác hay từ quốc gia này sang quốc gia khác - người ta gọi là cơ động

xã hội Xã hội càng phát triển thì tính cơ động xã hội càng cao Đối với các cơ quan,

tổ chức thì việc tuyển dụng, thu hút NNL có thể từ nhiều nguồn: từ các trường đào tạo, từ các cơ quan, tổ chức, địa phương khác Việc thu hút, bổ sung mới NNL góp phần quan trọng kích thích, phát huy hiệu quả cạnh tranh với NNL tại chổ, là một nghệ thuật trong quản trị NNL

Trang 38

Bao gồm các hoạt động đảm bảo cho tổ chức có đủ nhân viên về số lượng cũng như chất lượng Muốn vậy tổ chức phải tiến hành: kế hoạch hóa nhân lực; phân tích, thiết

kế công việc; biên chế nhân lực: tuyển mộ, tuyển chọn, bố trí nhân lực

Kế hoạch hóa nhân lực: là quá trình đánh giá nhu cầu của tổ chức về nguồn nhân lực phù hợp với mục tiêu chiến lược và các kế hoạch của tổ chức và xây dựng các giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu đó

Phân tích, thiết kế công việc: là quá trình xác định, xem xét, khảo sát những nhiệm vụ và những hành vi liên quan đến một công việc cụ thể Phân tích, thiết kế công việc thường được sử dụng để xây dựng chức năng nhiệm vụ và yêu cầu về trình độ kỹ thuật của công việc làm cơ sở cho công tác tuyển mộ, tuyển chọn, đào tạo, thù lao

Biên chế nhân lực: là quá trình thu hút người có trình độ vào tổ chức, lựa chọn người đáp ứng yêu cầu công việc trong những ứng cử viên xin việc rồi sắp xếp hợp

lý (đúng việc, đúng thời điểm) nhân viên vào các vị trí khác nhau trong tổ chức

Nhóm chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Nhóm chức năng

này chú trọng các hoạt động nhằm nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong tổ chức có các kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên phát triển được tối đa các năng lực cá nhân Bên cạnh việc đào tạo mới còn có các hoạt động đào tạo lại nhân viên mỗi khi có sự thay đổi về nhu cầu sản xuất kinh doanh hay quy trình kỹ thuật, công nghệ đổi mới

Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực: nhóm này chú trọng đến việc duy

trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong tổ chức Nhóm chức năng này bao gồm 3 hoạt động: đánh giá thực hiện công việc và thù lao lao động cho nhân viên, duy trì và phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong tổ chức

Thông qua hệ thống thù lao lao động và phúc lợi một mặt thúc đẩy nhân viên làm việc hăng say, tận tình, có ý thức trách nhiệm Mặt khác, đây là những biện pháp hữu hiệu để thu hút và duy trì được đội ngũ lao động lành nghề cho tổ chức Những công việc chủ yếu của hoạt động này là:

Trang 39

- Đánh giá sự thực hiện công việc của nhân viên Xây dựng và quản lý hệ thống thù lao lao động

- Thiết lập và áp dụng các chính sách, phúc lợi, phụ cấp, bảo hiểm xã hội

- Duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp vừa tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tập thể lành mạnh vừa giúp cho nhân viên thỏa mãn với công việc của mình

Hoạt động này bao gồm các công việc:

- Ký kết hợp đồng lao động, thỏa ƣớc lao động tập thể

- Giải quyết các tranh chấp, bất bình trong lao động, giải quyết kỷ luật lao động Cải thiện điều kiện làm việc

- Chăm sóc y tế, bảo hiểm và an toàn lao động

Trang 40

Bảng 1.3 Nội dung của hoạt động quản trị nguồn nhân lực trong việc đảm bảo ANCN

Hoạt động quản trị nguồn nhân lực gắn với đảm bảo an ninh con người Nội dung ANCN Thu hút nhân lực Đào tạo và phát triển nhân lục Duy trì nguồn nhân lực

- Giúp người lao động được quan tâm hơn đến điều kiện nhà ở và các điều kiện sinh sống, sinh hoạt của người lao động cũng như chính sách vào viên chức, chức biên chế

- Giúp người lao động có kiến thức trong việc nhận biết, phòng tránh các rủi ro gây mất an toàn lao động

- Phòng tránh và nhận diện các nguy cơ tiềm ẩn gây thất thoát kinh tế trong công việc

- Giúp người lao động có kiến thức trong việc chăm sóc sức khỏe bản thân

- Tạo cho người lao động có sức khoẻ tốt để họ tận tình với công việc và cảm thấy cơ quan, tổ chức quan tâm nhiều đến mình

- Hoàn thiện công tác tổ chức phục vụ nơi làm việc theo yêu cầu của công việc, tạo môi trường thuận lợi về tâm sinh lý cho người lao động

- Giúp người lao động có kiến thức

về tạo động lực, làm việc nhóm và cách thức làm việc hiệu quả

- Giúp người lao động có môi trường làm việc thuận lợi (nhất là đối với các cơ quan nhà nước)

- Giúp người lao động được quan tâm hơn đến

Ngày đăng: 15/01/2022, 23:23

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w