Việc đảm bảo an ninh con người được thể hiện qua các khíacạnh như: 1 Các hoạt động đảm bảo sự an toàn cho đội ngũ nhân lực; 2 Các hoạt độngđảm bảo sự ổn định đội ngũ nhân lực; 3 Các hoạt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH
DOANH *** *** ***
NGUYỄN ĐẮC LINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU, PHÕNG GIAO DỊCH TRẦN QUỐC TOẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***
NGUYỄN ĐẮC LINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU, PHÕNG GIAO DỊCH TRẦN QUỐC TOẢN
Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống
Mã số: Chương trình thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN HUY PHƯƠNG
Hà Nội - 2017
Trang 3CAM KẾT
Tác giả cam kết rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động củachính tác giả thu được chủ yếu trong thời gian học và nghiên cứu và chưa được công bốtrong bất cứ một chương trình nghiên cứu nào của người khác
Những kết quản nghiên cứu và tài liệu của người khác (trích dẫn, bảng, biểu, công
thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) được sử dụng trong luận văn này đã được các tác
giả đồng ý và trích dẫn cụ thể.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, Khoa Quản trị vàKinh doanh và pháp luật về những cam kết nói trên
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Đắc Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học cao học và làm luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sựhướng dẫn giúp đỡ quý báu của các Thầy Cô trong Khoa Quản trị và Kinh doanh (HSB) -Đại học Quốc gia Hà Nội
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Khoa, các Thầy Cô đã tận tìnhdạy bảo trong quá trình theo học Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hoàng ĐìnhPhi đã giúp tôi lĩnh hội những kiến thức quý báu về môn học Quản trị an ninh phi truyềnthống
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Huy Phương đã rất tận tình, quan tâm, hướngdẫn và chỉ bảo cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo Khoa Quản trị và Kinh doanh (HSB) - Đạihọc Quốc gia Hà Nội
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ nhân viên Ngân hàng thương mại cổphần Á Châu (ACB) – PGD Trần Quốc Toản và ACB Chi nhánh Thăng Long đã giúp đỡ,cung cấp thông tin và tạo điều kiện để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu của mình
Cùng với sự giúp đỡ từ nhiều phía, học viên cũng đã rất nỗ lực để hoàn thành luận vănmột cách tốt nhất nhưng do những hạn chế nhất định về kiến thức, thời gian, thông tin nên sảnphẩm chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự cảm thông,đóng góp và bổ sung của các Thầy Cô và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Đắc Linh
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 12
4 Đối tượng nghiên cứu 13
5 Phạm vi nghiên cứu 13
6 Phương pháp nghiên cứu 13
7 Cấu trúc luận văn 14
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ AN NINH CON NGƯỜI VÀ ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 15
1.1 Lý luận cơ bản về an ninh con người 15
1.1.1 Khái niệm về an ninh 15
1.1.2 Khái niệm về an ninh con người 18
1.2 Lý luận cơ bản về đảm bảo an ninh con người tại các NHTM 22
1.2.1 Tổng quan về NHTM 22
1.2.2 Công tác đảm bảo an ninh con người tại các NHTM 23
1.3 Công tác đảm bảo an ninh con người thông qua hoạt động đào tạo của NHTM 24
1.3.1 Khái niệm về đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 24
1.3.2 Vai trò của đào tạo trong việc đảm bảo an ninh con người trong các NHTM 25
1.3.3 Các yếu tố môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến công tác đào tạo trong các NHTM 28 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI TẠI ACB VÀ TRẦN QUỐC TOẢN HIỆN NAY 29
2.1 Khái quát hoạt động kinh doanh của ACB và ACB Trần Quốc Toản 29
2.1.1 Quá trình thành lập, phát triển và kinh doanh của ACB 29
2.1.2 Quá trình thành lập và phát triển của ACB Trần Quốc Toản 33
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của ACB Trần Quốc Toản 34
2.2 Thực trạng công tác đào tạo đảm bảo an ninh con người tại ACB Trần Quốc Toản và các PGD thuộc ACB Chi nhánh Thăng Long 37
2.2.1 Phân tích các yếu tố môi trường kinh doanh tác động đến công tác đào tạo đảm bảo an ninh con người 37
2.2.2 Tổng quan công tác đào tạo tại ACB Trần Quốc Toản và các PGD thuộc ACB Chi nhánh Thăng Long 38
Trang 62.2.3 Thực trạng công tác đào tạo đảm bảo an ninh con người tại ACB Trần Quốc Toản và
các PGD thuộc ACB Chi nhánh Thăng Long 40
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TẠI ACB TRẦN QUỐC TOẢNVÀ CÁC PGD THUỘC ACB CHI NHÁNH THĂNG LONG 48
3.1 Quan điểm, định hướng phát triển chung của ACB giai đoạn 2016-2020 48
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo gắn với đảm bảo an ninh con người tại ACB Trần Quốc Toản và các PGD thuộc ACB Chi nhánh Thăng Long 52
3.2.1 Hoàn thiện các nội dung đào tạo còn thiếu gắn với đảm bảo an ninh con người tại ACB Trần Quốc Toản và các PGD thuộc ACB Chi nhánh Thăng Long 52
3.2.2 Nâng cao chất lượng triển khai công tác đào tạo tại ACB Trần Quốc Toản và các PGD thuộc ACB Chi nhánh Thăng Long 54
3.3 Một số kiến nghị với ACB Hội sở 56
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 01: PHIẾU KHẢO SÁT ĐIỀU TRA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI ACB TRẦN QUỐC TOẢN 60
PHỤ LỤC 02: KỊCH BẢN PHỎNG VẤN CHUYÊN SÂU CÁN BỘ QUẢN LÝ TẠI CÁC PHÕNG GIAO DỊCH TRỰC THUỘC ACB CHI NHÁNH THĂNG LONG 63
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
An ninh truyền thống
An ninh phi truyền thống
An ninh con người
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
NH TMCP Á Châu Chi nhánh Thăng Long
NH TMCP Á Châu PGD Trần Quốc Toản
Liên minh Châu Âu
Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc
Phó giáo sư – Tiến sỹ
Tiến sỹ
ANTTANPTTANCNACBCHXHCNVNDN
NNLNHNNNHTMACB
ACB Chi nhánh Thăng Long
ACB Trần Quốc ToảnPGD
QTNLTQTHĐQTXHCNEUUNDPPGS TSTS
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Mô hình quản trị, tổ chức kinh doanh và bộ máy quản lý 30
Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức ACB Phòng giao dịch Trần Quốc Toản 33
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 So sánh an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống 18
Bảng 1.2 Một số lĩnh vực an ninh doanh nghiệp trong ANPTT 21
Bảng 1.3 Vai trò của hoạt động đào tạo trong việc đảm bảo ANCN tại NHTM 25
Bảng 2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh và huy động vốn của ACB Trần Quốc Toản giai đoạn 2014-2016 35
Bảng 2.4 Kế hoạch kinh doanh và huy động vốn của ACB Trần Quốc Toản năm 2017 .36
Bảng 2.5 Nội dung đào tạo hội nhập 40
Bảng 2.6 Mức độ hiệu quả các khóa đào tạo gắn với đảm bảo ANCN tại ACB TQT 41
Bảng 2.7 Đánh giá chất lượng triển khai các đào tạo tại ACB Chi nhánh Thăng Long 43
Bảng 3.1 Định hướng trung và dài hạn qua các năm của ACB 49
Bảng 3.2 Đề xuất các khóa đào tạo gắn với đảm bảo an ninh con người 52
Trang 10CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài của đề tài luận văn
Về mặt thực tiễn, áp lực và rủi ro trong công việc được coi là hai trong số những mốinguy cơ quan trọng gây ảnh hưởng đến việc đảm bảo sự an toàn của nguồn lực con người tạicác ngân hàng Theo cuộc khảo sát của tổ chức UNI Finance tại 26 quốc gia trên thế giới năm
2015 thì nhân viên đang làm việc trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đang chịu nhiều áp lực vàcăng thẳng nhất so với các lĩnh vực khác Những áp lực về chỉ tiêu công việc, về rủi ro nghềnghiệp và môi trường làm việc đã và đang gây ra tình trạng mất an toàn và sự phát triển củađội ngũ nhân sự trong các Ngân hàng Trên thực tế, trong giai đoạn 2013-2015, công luận đãphải chứng kiến sự gia tăng những vụ tự tử của nhân viên trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.Ngày 16 tháng 08 năm 2015, Sarvshreshth Gupta, một chuyên viên về công nghệ và truyềnthông của Goldman Sachs - Ngân hàng đầu tư đa quốc gia có trụ sở ở Mỹ, đã qua đời khi trênđường về nhà sau hơn 2 ngày làm việc liên tục tại văn phòng Nguyên nhân được cho những
áp lực và căng thẳng trong công việc cùng thời gian làm việc cường độ cao liên tục đã khiếnSarvshreshth Gupta tìm đến cái chết Cái chết của Sarvshreshth Gupta cho thấy bức tranh đầy
áp lực trong cuộc sống của những nhân viên ngành tài chính ngân hàng Tuy nhiên,Sarvshreshth Gupta không phải là trường hợp duy nhất Trước đó, ít nhất có 3 vụ việc nhânviên của các ngân hàng hàng đầu cũng đột tử vì làm việc quá sức được báo cáo từ tháng 8 năm
2013 đến nay Ngày 20/08/2013, Moritz Erhardt, một sinh viên 21 tuổi người Đức đang đi vàogiai đoạn cuối của chương trình thực tập tại Bank of America, đã được các bạn cùng phòngphát hiện tình trạng chết bất tỉnh tại buồng tắm Theo báo chí, Erhardt có thể đã chết vì làmviệc gần như 24 giờ mỗi ngày trong ba ngày liền Theo Thời báo ngân hàng, chỉ chưa đầy 3tuần, từ ngày 28/1 - 18/2/2014, đã có 3 vụ quyên sinh bí ẩn xảy ra tại Ngân hàng JPMorganChase (JPM) Vụ đầu tiên diễn ra lúc 8 giờ sáng ngày 28/1/2014, Gabriel Magee, 39 tuổi, Chủtịch công nghệ đầu tư của JPM chi nhánh Anh đã nhảy từ tầng thứ 9 của tòa nhà cao 33 tầng,trụ sở của chi nhánh ngân hàng này đúng vào giờ cao điểm Ngày 3/2/2014, một giám đốc điềuhành của JPM tại chi nhánh New York (Mỹ) tên là Ryan Henry Crane, 37 tuổi đã được tìmthấy chết tại gia ở Stamford, Connecticut mà nguyên nhân được xác định là do áp lực côngviệc Vụ ra đi đầy bí ẩn mới nhất diễn ra tại JPM là trường hợp của Li Junjie, một giám đốc chinhánh Hông Kông của JPM đã nhảy từ tầng 30 xuống đất Theo các đồng nghiệp, Li có thể đãphải chịu quá nhiều sức ép của công việc Nguyên nhân chủ yếu được chỉ ra dẫn đến các vụ tự
tử đáng tiếc của nhân viên trong giới ngân hàng trên thế giới là do áp lực công việc gây ra, đặcbiệt là những nguyên tắc thực hành phi đạo đức, kéo dài hàng thập kỷ làm cho
Trang 11cuộc sống của nhân viên trở nên ngột ngạt Ngoài ra, áp lực mất việc trong giai đoạn nền kinh
tế toàn cầu rơi vào suy thoái, càng khiến nhiều người đã phải tìm đến với cái chết để giải thoát.Thật vậy, các nhân viên ngân hàng có trách nhiệm nắm giữ, quản lý tài chính của các tổ chức,
cá nhân, một quyết định xấu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới rất nhiều người và cả bản thânnhân viên ngân hàng Bên cạnh đó khi làm việc trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư, thời gian của
họ sẽ luôn bị bó buộc cùng công việc, khối lượng công việc nặng nề Tại Việt Nam, áp lực vàrủi ro trong công việc được biểu hiện qua mức chỉ tiêu doanh số cao cũng nhưng rủi ro nghiệp
vụ đi kèm với trách nhiệm hình sự Theo một khảo sát mới đây của trang mạng quảng cáo việclàm tại Đông Nam Á (Jobstreet) cho thấy, một trong những nỗi lo với mọi nhân viên ngân hàng
là áp lực về chỉ tiêu và doanh số Từ giao dịch viên, chuyên viên dịch vụ khách hàng đến cán
bộ tín dụng hay kể cả cán bộ kỹ thuật cũng bị áp chỉ tiêu về huy động, thẻ Với nhân viên tíndụng, bên cạnh áp lực doanh số luôn đè nặng thì nỗi lo vướng vòng lao lý do sai phạm trongtác nghiệp, trong quản trị rủi ro, do nợ xấu trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế mới là nhữngđiều khiến tâm lý của nhân viên các ngân hàng cảm thấy bất an Gần đây nhất là các vụ việcbắt giam nguyên Tổng giám đốc Ngân hàng Đông Á Trần Phương Bình (2016), nguyên Tổnggiám đốc ngân hàng Đại Dương Hà Văn Thắm (2015) hay vụ đại án tại Ngân hàng Vietinbankcủa Nguyễn Thị Huyền Như (2015) cùng hàng loạt các nhân viên cấp dưới càng làm gia tăngnhững áp lực công việc, áp lực vướng vào vòng lao lý… của giới nhân viên ngành ngân hàng
Bên cạnh áp lực và rủi ro trong công việc thì yếu tố thu nhập cũng được coi là nguyênnhân quan trọng gây mất sự ổn định và sự phát triển bền vững nguồn lực con người tại cácngân hàng thương mại Theo báo cáo thống kê về lương của một số vị trí tại nhiều ngành nghề
ở Việt Nam do Adecco thực hiện năm 2016 cho thấy vị trí lãnh đạo của ngành ngân hàng cómức lương cao nhất trong 7 nhóm ngành Tuy nhiên chênh lệch khoảng cách thu nhập giữa vịtrí lãnh đạo và nhân viên luôn ở mức từ 12 đến 30 lần Cụ thể, theo khảo sát năm 2016 củaAdecco nếu như mức lương cho vị trí giám đốc khối khách hàng cá nhân dao động trong mức
từ 220 triệu đồng đến 360 triệu đồng một tháng thì mức lương cho vị trí nhân viên quan hệkhách hàng cá nhân dao động trong mức từ 12 triệu đồng đến 18 triệu đồng Về mặt tích cực,mức thu nhập cao hơn so với vị trí cùng thâm niên, cùng trình độ góp phần đảm bảo cho ngườilao động có thái độ làm việc tích cực, gắn bó lâu dài cùng tổ chức Về mặt tiêu cực, chênh lệchquá cao giữa các vị trí trong ngân hàng có thể gây ảnh hưởng đến tính ổn định và phát triểnbền vững nguồn lực con người trong ngân hàng
Về mặt lý luận, theo PGS.TS Hoàng Đình Phi (2016) thì an ninh con người trongdoanh nghiệp được hiểu là “sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người hay
Trang 12nguồn nhân lực trong doanh nghiệp” Trong đó, mục tiêu chính của việc đảm bảo an ninhcon người trong doanh nghiệp là việc phát triển, sử dụng an toàn và hiệu quả nguồn nhânlực để cạnh tranh bền vững Việc đảm bảo an ninh con người được thể hiện qua các khíacạnh như: (1) Các hoạt động đảm bảo sự an toàn cho đội ngũ nhân lực; (2) Các hoạt độngđảm bảo sự ổn định đội ngũ nhân lực; (3) Các hoạt động đào tạo nhằm phát triển đội ngũnhân lực trong tổ chức Như vậy, để đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp, tứcđảm bảo sự an toàn, ổn định, phát triển bền vững của con người hay nguồn nhân lực trongdoanh nghiệp, đòi hỏi công tác quản trị nhân sự cần được quan tâm, trong đó vai trò củahoạt động đào tạo phát triển nguồn nhân lực là một trong những nhiệm vụ trọng tâm củacác doanh nghiệp trong việc ứng phó với những rủi ro gây mất an ninh con người Thôngqua công tác đào tạo, nó không chỉ giúp duy trì ổn định và phát triển đội ngũ nguồn nhânlực của tổ chức mà còn hạn chế những rủi ro gây mất an toàn cho người lao động thôngqua hoạt động đào tạo nâng cao chuyên môn nghiệp vụ Đối với lĩnh vực ngân hàng, là mộtlĩnh vực kinh doanh dịch vụ đặc thù, trong đó người lao động đóng vai trò quan trọng đónggóp lớn cho hoạt động kinh doanh và sự phát triển bền vững của ngân hàng, thì công tácđảm bảo an ninh con người thông qua công tác đào tạo lại càng cần được coi trọng.
Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng việc đảm bảo an ninh con ngườithông qua hoạt động đào tạo tại các Ngân hàng thương mại cổ phần là vấn đế bức thiết đặt
ra nhằm hạn chế - phòng tránh – ngăn ngừa các rủi ro trong công việc mà đội ngũ CBNVngành tài chính ngân hàng phải đối mặt hàng ngày Chính vì vậy, trong quá trình công táctại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu, Phòng giao dịch Trần Quốc Toản, bằng kinhnghiệm thực tế và kiến thức đã được học, tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp đảmbảo an ninh con người thông qua hoạt động đào tạo tại Ngân hàng thương mại cổ phần ÁChâu, phòng giao dịch Trần Quốc Toản” làm công trình nghiên cứu của mình
Từ khóa: đào tạo, an ninh con người.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Do lĩnh vực an ninh phi truyền thống nói chung và an ninh con người nói riêng là mộtvấn đề còn khá mới mẻ nên các nghiên cứu trước đây chưa gắn được mối liên hệ giữa hoànthiện công tác đào tạo với việc đảm bảo an ninh con người Thực tế, kết quả các nghiên cứumới chỉ dừng lại ở việc nêu lên các quan điểm của tác giả về an ninh con người, các vấn đề anninh con người mà thế giới đang đối mặt và thực trạng đảm bảo an ninh con người tại Việtnam hiện nay Các nghiên cứu này chưa đề cập vai trò của công tác đào tạo đến việc đảm bảo
an ninh con người trong doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng Chính
vì vậy, đề tài tôi lựa chọn sẽ giúp tìm hiểu và đưa ra những
Trang 13lý luận chung và những giải pháp cụ thể gắn liền với việc đảm bảo an ninh con người tạingân hàng thông qua hoạt động đào tạo Các nghiên cứu về lĩnh vực an ninh con người cóthể kể đến như:
a An ninh con người trong bối cảnh toàn cầu hóa (Trần Việt Hà, 2016 Hà Nội: Tạp
chí Khoa học xã hội Việt Nam)
Nghiên cứu về an ninh con người trong bối cảnh toàn cầu hóa, như tên gọi của nó,được nêu ra trong bối cảnh vấn đề an ninh con người và đảm bảo an ninh con người đang
là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Đặc biệt,dưới sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa đang gây ra những rủi ro khó đoán định cho
an ninh con người, do đó cần có cách tiếp cận mới về an ninh con người và đảm bảo anninh con người Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra những quan điểm khác nhau
về an ninh, an ninh con người Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu quan điểm về vai trò của nhànước trong việc bảo đảm an ninh con người và việc bảo đảm an ninh con người trong bốicảnh toàn cầu hóa hiện nay Về khái niệm an ninh, tác giả Trần Việt Hà cho rằng “an ninhcòn được hiểu là không có sự uy hiếp, không có sự lo sợ; là trạng thái ổn định, an toàn,không có dấu hiệu nguy hiểm đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân hoặccủa toàn xã hội” Nó được xem là điều kiện quan trọng nhất cho sự tồn tại của con người
và xã hội loài người Điều này xuất phát từ quyền được đảm bảo về sự an toàn của conngười (John Locke, 2, trang 49) Thực tế, an ninh không chỉ phản ánh môi trường an toàn,
mà còn phản ánh trạng thái tâm lý - cảm giác an toàn, nó đối lập với trạng thái tâm lý - cảmgiác bất an Bất an là một trạng thái tâm lý bình thường; nó thể hiện sự nhạy cảm của conngười trước những rủi ro Tuy nhiên, bất an nếu trở thành trạng thái tâm lý phổ biến thì sẽ
là vấn đề đáng lo ngại đối với cộng đồng xã hội vì con người phải đối mặt với những rủi
ro, sự khủng hoảng tâm lý toàn diện và sâu sắc Con người cảm nhận về sự bất an rất khácnhau vì cảm giác không chỉ đơn thuần là một kích thích mà còn là hệ quả của quá trìnhnhận thức Dựa trên phân tích về khái niệm an ninh, tác giả đã đưa ra khái niệm về an ninhcon người Theo Trần Việt Hà thì: “An ninh con người được hiểu là việc bảo vệ cácquyền cơ bản của con người trước những nguy cơ xâm hại, đe dọa; nhờ việc được bảo vệnhư vậy, mỗi cá nhân (nói riêng) và cộng đồng (nói chung) có được đời sống yên ổn và cơhội phát triển.” Trong đó, ở phạm vi hẹp thì an ninh con người chính là sự bảo vệ cá nhânkhỏi những mối đe dọa bạo lực Trong phạm vi rộng, an ninh con người là sự giải quyếtmột loạt nhu cầu con người để đảm bảo hạnh phúc của cá nhân, cũng như bảo vệ các cánhân khỏi những mối đe dọa Thông qua việc đảm bảo an ninh con người, nó sẽ giúp chomỗi cá nhân và cộng đồng có thể nắm bắt các cơ hội cho sự phát triển của mình
Trang 14Bên cạnh quan điểm về an ninh nói chung và an ninh con người nói riêng, tác giảcũng nêu quan điểm của mình về vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm an ninh conngười và việc bảo đảm an ninh con người trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Trong đó,theo tác giả quan điểm vai trò đảm bảo an ninh con người trước hết thuộc về nhà nướcvẫn đúng đắn nhưng không đồng nghĩa với việc “việc ủy thác tuyệt đối và hoàn toàn chonhà nước trong việc đảm bảo an ninh con người” Thực tế cho thấy, nhiều Nhà nước khitheo đuổi mục tiêu của mình đã bỏ qua hoặc phớt lờ cái mục tiêu tối hậu là an ninh củachính những người dân, cộng đồng đã xây dựng nên Nhà nước đó Ngoài ra, trước nhữngmối đe dọa phi truyền thống mới xuất hiện (nghèo đói, bệnh truyền nhiễm, suy thoái môitrường, tranh chấp tài nguyên thiên nhiên) thì nếu chỉ một mình đơn độc, nhà nước sẽkhông có đủ năng lực bảo vệ người dân của mình trước những hiểm họa xuyên biên giới.Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, tính tùy thuộc lẫn nhau đang tăng lên không ngừng
và các yếu tố gây ảnh hưởng đến an ninh trở nên đa dạng và phức tạp hơn Đó chính là lý
do giải thích vì sao một chủ thể đơn độc (cho dù mạnh mẽ như nhà nước) cũng không thểđứng ra ngăn chặn được những hiểm họa mang tính toàn cầu để đem lại an ninh cho bảnthân nó và cho người dân Thêm vào đó, bên trong mỗi nhà nước hiện nay cũng tiềm ẩnnhững yếu tố gây bất ổn và những yếu tố như vậy đang được nuôi dưỡng hoặc kích hoạtbởi toàn cầu hóa Điều đó đã chỉ ra rằng, các giải pháp an ninh đơn lẻ của từng quốc gia cóthể dẫn đến hệ quả không mong muốn cho người dân của quốc gia khác Bởi vậy, các giảipháp an ninh cần được xét trong tổng thể và đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
b An ninh con người: Quan niệm Châu Âu- Vấn đề của Đông Nam Á (Bùi Huy
Khoát, 2009 Hà Nội: Viện nghiên cứu Châu Âu)
Xuất phát từ tính bức thiết của việc nghiên cứu an ninh con người trong bối cảnh kếtthúc Chiến tranh lạnh và sự gia tăng các mối đe dọa bất ổn phi truyền thống như khủng bố(sự kiện khủng bố 11/09 tại Mỹ), khủng hoảng kinh tế thế giới (sự kiện khủng hoảng tàichính- tiền tệ Châu Á năm 1997), tác giả Bùi Huy Khoát đã có bài nghiên cứu về “An ninhcon người: Quan niệm Châu Âu- Vấn đề của Đông Nam Á” Trong đó, tác giả đã đưa ranhững luận điểm về an ninh con người từ khía cạnh lý thuyết, trong đó có “học thuyết” củaLiên minh Châu Âu (EU), từ đó xem xét các vấn đề đặt ra trước khu vực Đông Nam Á
Về khái niệm an ninh con người, mặc dù được thúc đẩy mạnh từ sau Chiến tranhlạnh, nhưng an ninh con người không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ nếu xét theo nộidung mà khái niệm này mang tải cũng như từ khía cạnh chính sách Tuy nhiên, khái niệm
an ninh con người trở nên hoàn chỉnh và chính thức đi vào cuộc sống quan hệ quốc tế saukhi Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) công bố trong báo cáo phát triển
Trang 15con người năm 1994 Theo UNDP, an ninh con người theo nghĩa rộng hàm ý về một tìnhtrạng người dân không bị những đe dọa kinh niên như đói nghèo, bệnh tật, sự trấn áp(những thứ cần đầu tư phát triển trong dài hạn) và những tai nạn bất ngờ (đòi hỏi sự canthiệp tức thời từ bên ngoài) Quan điểm này được xem là sự phát triển rộng về mặt nội hàm
so với quan điểm theo nghĩa hẹp trước đây, dừng lại ở an ninh lãnh thổ trước sự xâm lược
từ bên ngoài, ở việc bảo vệ lợi ích dân tộc trong chính sách đối ngoại và ở an ninh toàn cầutrước đe dọa hủy diệt hạt nhân Cùng với sự phát triển của nội hàm khái niệm an ninh,quan điểm về an ninh con người của UNDP cũng liệt kê 7 thành tố của an ninh con người,bao gồm: (i) An ninh kinh tế trước mối đe dọa nghèo khổ; (ii) An ninh lương thực trướcmối đe dọa đói kém; (iii) An ninh sức khỏe trước mối đe dọa thương tích và bệnh tật; (iv)
An ninh môi trường trước mối đe dọa ô nhiễm, xuống cấp môi trường và cạn kiệt cácnguồn tài nguyên thiên nhiên; (v) An ninh cá nhân trước các hình thức đe dọa bạo hànhkhác nhau; (vi) An ninh cộng đồng trước các mối đe dọa từ văn hóa; (vii) An ninh chính trịtrước sự bị trấn áp về chính trị Bên cạnh quan điểm của UNDP thì còn có rất nhiều cáctrường phái, học thuyết quan điểm và nghiên cứu khác về an ninh con người Tuy nhiên,theo Bùi Huy Khoát học thuyết về an ninh con người của Liên minh Châu Âu (EU) đượccho là đang đi xa nhất Học thuyết về an ninh con người (công bố tháng 9/2004) của Liênminh Châu Âu (EU) xác định 5 mối đe dọa chính, bao gồm: (i) Chủ nghĩa khủng bố; (ii)Việc phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; (iii) Các cuộc xung đột khu vực; (iv) Các nhànước suy yếu không làm trọn nhiệm vụ; (v) Tội phạm có tổ chức Theo EU, những đe dọanày gắn kết với nhau tạo ra những tình huống mất an ninh nghiêm trọng và đe dọa toàn cầuchứ không riêng khu vực EU Chính vì vậy, các nhà lập chính sách về an ninh của EU chorằng trong bối cảnh đó không thể sử dụng các chính sách an ninh truyền thống dựa trên cơ
sở bảo vệ các đường biên quốc gia và ngăn chặn các đe dọa theo quan niệm hẹp về lợi íchquốc gia trước đây Theo EU, chính sách an ninh chung phải xây dựng dựa trên cơ sở anninh con người chứ không phải an ninh quốc gia Học thuyết an ninh con người của EUđược công bố bao gồm 3 thành tố cơ bản:
Thành tố thứ nhất là một bộ 7 nguyên tắc cho các hoạt động trong tình huống mất an
ninh nghiêm trọng Bao gồm: (1) Quyền con người (trước hết là các quyền được sống, được
có chỗ ở, được tự do bộc lộ quan điểm ) cần được tôn trọng và bảo vệ ngay cả trong khi đangdiễn ra xung đột; (2) Quyền lực chính trị rõ ràng cho phái đoàn quốc tế được đưa đến nơi xảy
ra mất an ninh nghiêm trọng; (3) Chủ nghĩa đa phương với 3 khía cạnh cơ bản: cam kết hoạtđộng với các thiết chế quốc tế, cam kết những cách thức làm việc chung và cam kết phối hợpchứ không cạnh tranh; (4) Cách tiếp cận từ dưới lên như một phương
Trang 16pháp nghiên cứu tại chỗ cần được thực hiện xuyên suốt vì sự bén rễ quá sâu của cách tiếpcận từ trên xuống trong các thiết chế quốc tế Đó cũng là cách làm để tăng cường an ninhcho các cá nhân con người ở khắp mọi nơi; (5) Sự tập trung khu vực với hàm ý các cuộcchiến tranh xung đột bây giờ không có đường biên rõ ràng và phần lớn lan tỏa ở cấp khuvực vì vậy nếu chỉ tập trung chú ý vào địa bàn quốc gia sẽ dễ bỏ qua việc ngăn chặn sự lantỏa bạo lực; (6) Sử dụng các công cụ pháp luật trong đó tiếp tục áp dụng luật địa phươngnhưng không có sự pha trộn hỗn hợp với luật quốc tế; (7) Sử dụng thích hợp sức mạnh ởmức tối thiểu nằm trong sự liên kết thích hợp năng lực dân sự quân sự cho việc thực hiệncác hoạt động bảo vệ an ninh con người.
Thành tố thứ hai là một lực lượng ứng phó bảo vệ an ninh con người với 15 nghìn
biên chế trong đó 1/3 là dân sự Về thành tố này, EU xác nhận đang phát triển nhanh nănglực quân sự, chiến lược của riêng mình với các nhóm tác chiến và các lực lượng can dựtrên cơ sở kinh nghiệm đã tích lũy từ quản lý khủng hoảng ngoài EU
Thành tố thứ ba là một khung khổ luật pháp mới điều chỉnh cả việc quyết định can
thiệp lẫn các hoạt động trên mặt đất Để thực hiện chính sách an ninh dựa trên các nguyêntắc kể trên không thể không xây dựng khung pháp lý- thể chế tạo cơ sở cho cách tiếp cậnbắt buộc theo pháp luật đối với các hoạt động can thiệp
Khi nghiên cứu vấn đề an ninh con người tại khu vực Đông Nam Á, tác giả Bùi HuyKhoát cho rằng chỉ đến khi cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 1997 ở khu vực Châu
Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng thì người ta mới đặt ra vấn đề xem xét lại bản chất của
tư duy an ninh và đối chiếu với thực tiễn để thấy tính tất yếu của việc xúc tiến an ninh con ngườitheo cách tiếp cận khu vực Thực tế, khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 đã để lại những hậuquả to lớn Nhìn ở bề nổi, cuộc khủng hoảng đã tạo ra và làm lan tỏa ấn tượng về sự mất an ninhcủa các nước trong khu vực trên diện rộng: từ chính trị, kinh tế đến văn hóa xã hội với tình cảnhdân chúng trở nên nghèo khổ hơn do giảm thu nhập thực tế, mất ổn định từ di cư, thiếu hụt lươngthực thực phẩm, suy giảm sức khỏe, tội phạm gia tăng, giáo dục sa sút và dân chúng mất niềm tinvào các hệ thống chính trị hiện hành Ở tầm sâu hơn khủng hoảng đã làm giảm sức hấp dẫn củacác giá trị châu Á truyền thống Trong bối cảnh đó, cách tiếp của Thái Lan từng được xem là môhình có độ tin cậy nhất định Theo quan điểm của Thái Lan, an ninh con người trước hết là từ nhucầu của con người và không hề có sự đối nghịch với các quyền của cá nhân được bảo vệ thôngqua hệ thống chính trị khơi dậy được nhân quyền và dân chủ An ninh con người cần ổn địnhchính trị và phát triển kinh tế, tức có thể đạt được an ninh con người thông qua củng cố dân chủ
và dung hòa cả khía cạnh nhu cầu của con người và nhân quyền để có thể bổ sung cho
7
Trang 17nhau Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất với các quốc gia Asean là quan niệm nghiêm ngặt
về chủ quyền quốc gia đã ăn sâu bén rễ ở khu vực với việc nhấn mạnh nguyên tắc khôngcan thiệp vào công việc nội bộ của nhau Vì vậy, dù nội hàm của quan niệm an ninh conngười có thể được tiếp cận ở các mức độ khác nhau nhưng khó có thể tìm được sự ủng hộ
và đồng thuận thông qua các công cụ như “can thiệp”, “nhân đạo” để đảm bảo an ninh conngười
c. An ninh con người và sự bất an trong cuộc sống hôm nay (Vũ Dương Ninh, 2009.
Hà Nội: Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ)
Sau khi giới thiệu khái niệm an ninh con người trong xã hội hiện đại bài viết đã phântích một cách toàn diện và sâu sắc những nguy cơ tiềm ẩn về chiến tranh, mâu thuẫn sắctộc tôn giáo, mất an ninh lương thực, nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và năng lượng ở khuvực Đông Nam Á Đồng thời bài viết cũng phân tích các nguy cơ mất an ninh ô nhiễm môitrường tự nhiên và xã hội ở Việt Nam và đề nghị cần phải hoạch định một chiến lược lâudài để phát triển bền vững
Về khái niệm an ninh con người, theo tác giả an ninh con người được nhìn nhận từhai góc độ: (1) sự an toàn của con người trước những nguy cơ lâu dài như đói khát, dịchbệnh, chiến tranh và sự áp bức; (2) sự bảo vệ con người trước những đe doạ bất thường vànguy hại trong khuôn khổ gia đình, nơi làm việc hay cộng đồng Nó không chỉ là không cóxung đột bạo lực mà còn phải bảo đảm quyền con người, sự quản lý tốt của nhà nước, cơhội tiếp cận với các điều kiện thuận lợi về giáo dục, y tế và sự lựa chọn điều kiện phát huynăng lực của mỗi cá nhân Mặc dù còn nhiều quan điểm tranh luận khác nhau, nhưng theotác giả hầu như các nhà nghiên cứu dễ dàng gặp nhau trong quan niệm về nội hàm của anninh con người bao gồm 7 lĩnh vực là kinh tế, lương thực, sức khoẻ, môi trường, cá nhân,cộng đồng và chính trị Trong cuộc sống, những điều bất an đối với con người bắt nguồn
từ những nhân tố tự nhiên (thiên tai) và nhân tố con người (nhân tai) Hai nhân tố đó tácđộng lẫn nhau trong mối quan hệ nhân - quả của nhau Điều đáng quan tâm chính là trongthời đại toàn cầu hoá thì các vấn đề an ninh không thu hẹp trong phạm vi nhỏ của địaphương hay từng nước mà nó nhanh chóng trở thành vấn đề của thế giới, của toàn nhânloại Do vậy cuộc đấu tranh gìn giữ an ninh con người, ngăn ngừa những yếu tố bất an,chống các nguy cơ đe doạ phải mang tính toàn cầu, đòi hỏi sự đồng tâm và phối hợp củacác quốc gia, các tổ chức khu vực và tổ chức quốc tế
Bên cạnh khái niệm an ninh con người, bài viết còn đề cập đến những phân tích vềĐông Nam Á trong thế giới tiềm ẩn nhiều yếu tố bất an, cụ thể:
Trang 18(1) Với vị thế một khu vực nhạy cảm do tầm quan trọng của vị trí đường biển nối liền TháiBình Dương với Ấn Độ Dương, lại chứa đựng nhiều tiềm năng dầu lửa và khí đốt nên đã
và nơi đụng độ lợi ích giữa các quốc gia trong khu vực với các nước láng giềng và cáccường quốc khác Thực tế, mặc dù các nước thoả thuận về một giải pháp chung trong
“Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (2002) song điều đó không thể ngăncản những vụ lấn chiếm nhỏ lẻ và càng khó tránh khỏi xung đột trong những hoàn cảnhnhất định Đây được xem là yếu tố bất an lâu dài, dai dẳng Bên cạnh yếu tố rủi ro điạchính trị các quốc gia Đông Nam Á còn đang phải đương đầu với những nhân tố bất annằm ngay trong bản thân mỗi quốc gia như các cuộc bạo loạn ly khai, va chạm sắc tộc,mâu thuẫn tôn giáo và những vụ xung đột về biên giới lãnh thổ, lãnh hải giữa các nướcláng giềng Chỉ một “đốm lửa” ở nơi này, nơi khác cũng có thể gây ảnh hưởng đến toànkhu vực và sự bất cẩn trong cách giải quyết tranh chấp có thể dẫn đến nhiều hậu quả ngoàimong đợi
(2) Đông Nam Á do những điều kiện tự nhiên là nơi hứng chịu nhiều thảm hoạ về môitrường Nó đến từ suy thoái môi trường sống, tình trạng nước biển dâng và sự biến đổi khíhậu diễn ra trên phạm vi toàn cầu Thực tế, trong thế kỷ XX, nhiệt độ trung bình của tráiđất tăng 0,74 độ C nhưng dự tính trong thế kỷ XXI, nhiệt độ sẽ tăng từ 1,8 đến 4 độ C.Trái đất nóng lên dẫn đến việc băng tan, nước biển dâng, kéo theo những cơn bão đã vàđang ảnh hưởng đến tính mạng, sinh kế của hàng triệu người dân trên Thế giới và ĐôngNam Á Hằng năm, Philippin đón nhiều trận bão từ Thái Bình Dương tràn về rồi theohướng tây – tây bắc vào đến bờ biển Việt Nam hoặc Trung Hoa Núi lửa và động đất lànhững tai hoạ luôn rình rập các quần đảo Inđônêxia, Philippin… Gần đây nhất là vụ sóngthần ở Inđônêxia và ven biển Thái Lan, vụ động đất ở Mianma đã gây nên nỗi kinh hoàngcho cả loài người Thiên tai thường đến bất ngờ, chỉ trong khoảnh khắc đã cướp đi hàngtrăm ngàn sinh mạng, tàn phá nhà cửa, tài sản của hàng triệu người, để lại hậu quả vô cùngthảm khốc Và nơi phải gánh chịu tai họa này thường là các nước nghèo vì cuộc sống vàđiều kiện ăn ở của họ rất thô sơ không chống chọi nổi cuồng phong, bão tố và lũ lụt
(3) Những biến động của môi trường đã tác động mạnh mẽ đến việc sản xuất lương thực
và đời sống của con người Về vấn đề lương thực, nạn lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất bạc màu,
sự bất thường của thời tiết luôn là những nhân tố đe doạ kết quả thu hoạch, làm cho ngườitrồng trọt bỗng chốc trở thành “trắng tay”, lâm vào nạn cùng cực, thậm chí chết đói hàngtriệu, hàng chục triệu người
(4) Tình trạng cạn kiệt các nguồn tài nguyên cũng đang là vấn đề nam giải Ngay đất vànước, nguồn tài nguyên tưởng như vô tận thì nay cũng có nhiều dấu hiệu báo động Đất
Trang 19trồng trọt ngoài phần bị lấn chiếm cho các mục đích khác, phần còn lại giảm sút độ màu
mỡ vì tác hại của việc khai thác cường độ cao, của các loại chất bón hoá học Nguồn nướccũng bị thu hẹp vì sự khai phá, vì độ ô nhiễm gây nên nguy cơ không đủ về số lượng vàchất lượng phục vụ cuộc sống Rừng bị tàn phá làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên,hạn chế khả năng hấp thụ CO2 gây nên hiệu ứng nhà kính, làm trái đất nóng lên, khôngngăn được lũ và huỷ hoại nhiều loài động vật quý hiếm và nhiều loài cây lưu niên có giátrị cao thậm chí còn tuyệt chủng 1 số giống loài
Sau khi phân tích những nguy cơ đe dọa đến đời sống và gây mất an ninh con ngườiđang nổi lên tại khu vực Đông Nam, tác giả đã phân tích các nguy cơ mất an ninh ô nhiễm môitrường tự nhiên và xã hội ở Việt Nam và đề nghị cần phải hoạch định một chiến lược lâu dài
để phát triển bền vững Theo tác giả, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức về anninh con người bắt nguồn từ hai phía do sự ô nhiễm của môi trường thiên nhiên và sự ô nhiễmcủa môi trường xã hội Mối lo lớn nhất về sự bất an của thiên nhiên chính là vấn đề trái đấtnóng lên làm nước biển dâng cao Các nhà khoa học quốc tế cảnh báo Việt Nam vàBangladesh sẽ là 2 trong số nhiều nước chịu hậu quả nặng nề nhất Việt Nam có trên 3000 km
bờ biển, nếu mực nước biển dâng cao 1m thì có thể mất đi 16% diện tích lãnh thổ do chìmngập trong nước biển Phần lớn diện tích đó thuộc vùng đồng bằng phì nhiêu, những vựa lúacủa đất nước Khoảng thời gian của tai hoạ này không còn xa nữa, chỉ trong thế kỷ này thôi.Đang là nước xuất khẩu gạo, Việt Nam cũng không thể bình tâm trước cuộc khủng hoảnglương thực trên thế giới Bởi vì diện tích đất trồng lúa và các loại lương thực ở nước ta đang
bị thu hẹp dần do việc mở rộng các khu công nghiệp, khu đô thị Theo số liệu của Bộ Nôngnghiệp và phát triển nông thôn, chỉ trong vòng 5 năm gần đây, cả nước đã mất đi 300 ngànhecta đất trồng trọt GS.TS.Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam đãlên tiếng: “Sự phát triển nóng công nghiệp chính đã đốt cháy nông dân” và đề xuất nên xâydựng các khu công nghiệp ở những vùng đất ít thuận lợi cho trồng trọt tuy rằng lúc đầu có khókhăn về giao thông và các phương tiện sinh hoạt
Bên cạnh mối lo sự bất an của môi trường thiên nhiên, trong bài viết tác giả cũng đềcập đến mối lo đến từ sự ô nhiễm của môi trường xã hội Tại Việt Nam, công cuộc côngnghiệp hoá khi không được giải quyết toàn diện sẽ để lại nhiều hậu quả nặng nề cho nôngdân như mất đất, thất nghiệp, trình độ văn hoá thấp kém, dễ rơi vào tình trạng hư hỏng.Các cơ quan Nhà nước, các nhà doanh nghiệp phải có trách nhiệm giải quyết công ăn việclàm, ổn định đời sống cho hàng chục triệu nông dân Chính sự “ô nhiễm môi trường xãhội” của một số người trong giới công quyền và doanh nhân đã dẫn đến việc bỏ mặc nôngdân sau khi đã mua được đất của họ Cũng phải nói đến mặt khác là không ít thanh niên
Trang 20nông dân không chịu học hành, không đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất công nghiệpnên trở thành những người lao động giản đơn, thậm chí vô công rồi nghề Đó chính là nỗibất an lớn nhất đối với thành phần cư dân đông đảo trong xã hội ta ngày nay Ngoài ra,nguy cơ lớn nhất của tình trạng ô nhiễm môi trường xã hội chính là nạn tham nhũng, tệquan liêu, sự thờ ơ, bệnh vô cảm trước bao nỗi bất an của người dân Con số khoảng 30người chết vì tai nạn giao thông mỗi ngày được thông báo trên các phương tiện thông tin
đã quá quen thuộc đến mức, nhiều người không mảy may xúc động Do vậy, theo tác giảViệt Nam cần phải hoạch định một chiến lược phát triển lâu dài, nếu không làm trong sạch
hệ thống quyền lực các cấp để từ đó trong sạch hoá môi trường xã hội và môi trường tựnhiên với sự nỗ lực và khả năng cho phép Có làm kiên quyết và kiên trì như vậy mới đạtđược mục tiêu phát triển bền vững, chẳng những có độ tăng trưởng cao về kinh tế mà cònphát huy được sự bảo đảm chắc chắn về an ninh xã hội, an ninh con người
d Tập bài giảng quản trị an ninh phi truyền thống (Hoàng Đình Phi, 2017 Hà Nội:
Khoa Quản trị & Kinh doanh- Đại học Quốc gia Hà Nội)
Trong nghiên cứu của mình, PGS.TS Hoàng Đình Phi đã chỉ ra những lý luận cơ bản
về khái niệm an ninh con người Theo tác giả “an ninh con người được hiểu là trạng thái
đảm bảo sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người trước các mối đe dọa trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu” Trong đó, 07
yếu tố cấu thành, tác động đến an ninh con người từ nhiều góc độ, phương diện khác nhau,tùy theo hoàn cảnh không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, ảnh hưởng trực tiếphoặc gián tiếp đến từng người, từng cộng đồng người nhất định, cụ thể:
- An ninh kinh tế: bảo đảm cho con người về mặt an sinh xã hội, việc làm, nhất làthu nhập của người lao động, tạo điều kiện cơ sở vật chất thực hiện, bảo đảm cuộc sống, bảođảm quyền sống và phát triển;
- An ninh lương thực: bảo đảm cho con người không bị đói, cung cấp đủ chất dinhdưỡng cho con người, bảo đảm mọi người đều có cơ hội và khả năng cung ứng lương thực;
- An ninh sức khỏe: bảo đảm an toàn cho con người trước mọi nguy cơ đe dọa về mặt sức khỏe thể chất (thể lực) và sức khỏe tinh thần (trí lực);
- An ninh môi trường: bảo đảm môi trường sống cho con người;
- An ninh cá nhân: bảo đảm cho mỗi cá nhân trước nguy cơ đe dọa từ hành vi bạo lực;
- An ninh chính trị: bảo đảm sự ổn định chính trị- xã hội, là tiền đề để bảo đảm, thực thi quyền con người, con người được an toàn, tự do, phát triển cả về thể chất và tinh thần
Trang 21Về cơ bản, khái niệm an ninh con người của tác giả đã có sự kế thừa và phát triển sángtạo từ quan điểm về an ninh con người của UNDP công bố trong báo cáo phát triển con ngườinăm 1994 và học thuyết an ninh con người của Liên minh Châu Âu (EU) Ngoài ra, trong kếtquả nghiên cứu của mình tác giả cũng đã làm rõ khái niệm, nội hàm, bối cảnh ra đời, các mối
đe dọa và các công cụ chính góp phần đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp hiện
nay Theo tác giả, an ninh con người trong doanh nghiệp được hiểu là “an ninh con người
trong doanh nghiệp được hiểu là sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người hay nguồn nhân lực trong doanh nghiệp” Đây là khái niệm hoàn toàn mới được ra đời trong bối
cảnh hội nhập, cạnh tranh và biến đổi toàn cầu, trong đó:
- Mục tiêu chính của việc đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp là pháttriển, sử dụng an toàn và hiệu quả nguồn nhân lực để cạnh tranh bền vững;
- Tác giả xác định các mối đe dọa đến việc đảm bảo an ninh con người trong doanhnghiệp: (1) Mất an toàn lao động; (2) Mâu thuẫn, xung đột, đình công và phá hoại; (3) Đối thủcâu nhân tài; (4) Nội gián;
- Các công cụ chính tác giả đề xuất đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp:(2) Chiến lược phát triển nguồn nhân lực; (2) Quy trình quản trị nguồn nhân lực; (3) Quy trình giám sát nhân lực
Đây thực sự là những điểm quan trọng, làm cơ sở lý thuyết phục vụ cho hoạt độngnghiên cứu của tác giả luận văn Vì vậy, trong phạm vi của luận văn, tác giả đã sử dụng cáckết quả nghiên cứu về an ninh con người nói chung và an ninh con người trong doanhnghiệp làm cơ sở lý thuyết để giải quyết mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất các giải pháp tăng cường công tác đảmbảo an ninh con người tại các PGD thuộc ACB Chi nhánh Thăng Long nói chung và ACBTrần Quốc Toản nói riêng Trong đó, đề tài tập trung vào các giải pháp thông qua công tácđào tạo bao gồm xây dựng kế hoạch đào tạo và các chương trình đào tạo phù hợp góp phầnđảm bảo an ninh con người tại ACB Trần Quốc Toản nói riêng và các PGD thuộc ACB chinhánh Thăng Long nói chung Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài nghiên cứu xácđịnh cần hoàn thành các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về an ninh con người, đảm bảo an ninh con người nóichung và tại các ngân hàng thương mại nói riêng
- Điều tra và tổng hợp các dữ liệu thu thập được nhằm phân tích, đánh giá thực trạngcông tác đảm bảo an ninh con người tại các PGD Phân tích các điểm mạnh và hạn chế của côngtác đào tạo gắn với đảm bảo an ninh con người hiện nay tại ACB Trần Quốc Toản nói
Trang 22riêng và các PGD thuộc ACB Chi nhánh Thăng Long nói chung.
- Đề xuất một số nhóm giải pháp, kiến nghị và một số chương trình đào tạo phù hợpgóp phần đảm bảo an ninh con người tại ACB Trần Quốc Toản nói riêng và các PGD
thuộc ACB Chi nhánh Thăng Long nói chung
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác đảm bảo anninh con người thông qua công tác đào tạo tại ACB Trần Quốc Toản nói riêng và các PGDthuộc ACB Chi nhánh Thăng Long nói chung
thuộc ACB Chi nhánh Thăng Long thông qua hoạt động đào tạo
- Thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung thu thập, nghiên cứu và sử dụng các dữliệu liên quan đến các hoạt động đào tạo góp phần đảm bảo an ninh con người tại ACBTrần Quốc Toản trong 3 năm gần đây, từ 2014 đến 2016 và các PGD thuộc ACB Chinhánh Thăng Long
6 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổnghợp để xử lý các dữ liệu thứ cấp cũng như các kết quả điều tra, phỏng vấn với nhân viêntại phòng giao dịch về các hoạt động đào tạo tại phòng giao dịch Trần Quốc Toản và cácPGD thuộc ACB Chi nhánh Thăng Long cũng như phỏng vấn chuyên sâu các cán bộ quản
lý tại các PGD trực thuộc Chi nhánh ACB Thăng Long Để thực hiện hoạt động nghiêncứu, tác giả dự kiến kế hoạch lấy mẫu cụ thể như sau:
- Đối tượng mẫu: Tác giả đã tiến hành phỏng vấn điều tra tất cả các nhân viên đanglàm việc tại ACB Trần Quốc Toản và phỏng vấn chuyên sâu các cán bộ quản lý, CBNV tạicác PGD trực thuộc ACB Chi nhánh Thăng Long
- Số lượng mẫu: 100 mẫu phiếu điều tra khảo sát trong đó 18 mẫu khảo sát tại chínhACB Trần Quốc Toản và 82 mẫu khảo sát tại các PGD khác trực thuộc ACB chi nhánhThăng Long; 08 mẫu phiếu phỏng vấn chuyên sâu với các cán bộ quản lý PGD trực thuộcACB Chi nhánh Thăng Long
- Công cụ phỏng vấn: Tác giả sử dụng phiếu khảo sát để tiến hành điều tra, phỏng vấn (phụ lục 01) và mẫu phỏng vấn chuyên sâu (phụ lục 02);
Trang 23- Thời gian tiến hành: Từ tháng 01/2017 đến tháng 05/2017.
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần giới thiệu nghiên cứu, lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục từviết tắt, danh mục bảng biểu, hình vẽ, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đượckết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về an ninh con người và đảm bảo an ninh con người tại các ngân hàng thương mại
- Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo đảm bảo an ninh con người tại ACB Trần QuốcToản và các PGD thuộc ACB Chi nhánh Thăng Long
- Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị góp phần đảm bảo an ninh con người thôngqua hoạt động đào tạo tại ACB Trần Quốc Toản và các PGD thuộc ACB Chi nhánh ThăngLong
Trang 24CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ AN NINH CON NGƯỜI VÀ ĐẢM BẢO AN
NINH CON NGƯỜI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Lý luận cơ bản về an ninh con người
1.1.1 Khái niệm về an ninh
Thực tế, có rất nhiều quan điểm dựa trên những cách tiếp cận khác nhau về khái niệm
con người Theo quan điểm của triết học Mác- Lê nin thì con người là một thực thể thống
nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội Trong đó, yếu tố sinh học trong con người là điều
kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người và gắn kết con người như là một bộ phậncủa tự nhiên Tuy nhiên, đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loàivật là phương diện xã hội của nó Tính xã hội của con người được biểu hiện trước hết quacác lao động sản xuất ra của cải vật chất Thông qua các hoạt động này, con người sản xuất
ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngônngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội Là ngành quản trị chuyên nghiên cứu về mối quan
hệ giữa con người trong tổ chức, quản trị nhân lực cũng hình thành những khái niệm khácnhau về con người trong lao động sản xuất Theo Nguyễn Ngọc Quân (2004, trang
12-13):
- Quan điểm thứ nhất cho rằng, con người được coi như một loại công cụ lao động.
Theo quan điểm này, về bản chất thì đa số con người không muốn làm việc Họ chỉ quan tâm nhiều đến cái mà họ kiếm được chứ không phải là công việc họ làm
- Quan điểm thứ hai cho rằng, con người luôn mong muốn được cư xử như những
con người Họ nhận thấy rằng, bản chất con người luôn muốn cảm thấy mình có ích, quan
trọng, muốn chia sẻ trách nhiệm, muốn tự khẳng định mình và muốn phát huy hết những khảnăng tiềm ẩn chưa được khai phá trong quá trình tham gia công việc chung
- Quan điểm thứ ba cho rằng, con người có các tiềm năng cần được khai thác và làm
cho phát triển Theo đó, người lao động có tiềm năng lớn đặc biệt năng lực độc lập sáng tạo
và luôn mong muốn hoành thành mục tiêu góp phần vào sự thành công của tổ chức
Nói tóm lại, mặc dù có rất nhiều quan điểm dựa trên những cách tiếp cận khác nhautuy nhiên chúng ta có thể thống nhất với nhau một số điểm chung khi nói đến khái niệm
con người Theo đó: (i) Con người, hiểu theo nghĩa chung nhất, là một thực thể thống nhất
giữa mặt sinh vật với mặt xã hội, và chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên cũng như
quy luật xã hội; (2) Con người, dưới góc nhìn tổ chức còn được gọi là nguồn nhân lực, là
một trong những nguồn lực quan trọng đóng góp vào sự thành công của tổ chức Và để
Trang 25phát huy nguồn lực con người, tức trí lực và thể lực của người lao động trong tổ chức, đòihỏi chính sách quản trị của doanh nghiệp cần phải: (i) tạo động viên, khuyến khích ngườilao động trong tổ chức thông qua việc quan tâm, lo lắng tới nhân viên; (ii) tạo điều kiện đểngười lao động có cơ hội được đào tạo, phát triển, được phân chia quyền lợi thích đáng,công bằng và cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp.
“An ninh” trong tiếng anh được hiểu là mức độ an toàn cao nhất cho chủ thể Trongnhiều nền văn hóa và ngôn ngữ khác thì an ninh và an toàn được dùng chung một từ an
toàn, bình an, ngược lại với nguy Như vậy, có thể hiểu an ninh là sự tồn tại, an toàn, bình
an, không có nỗi lo, rủi ro, mối nguy, sự cố hay tổn thất về người và của Ngược lại với an
ninh là mất an ninh là những rủi ro, nguy hiểm, tổn thất Theo Bellamy (1981), an ninh là
sự tự do tương đối không lo có chiến tranh kết hợp với mong đợi tương đối cao là không
bị đánh bại bởi bất kỳ cuộc chiến tranh nào có thể xảy ra Theo Ayoob, an ninh- mất anninh được định nghĩa trong mối quan hệ với các tình huống bị tổn thương, cả bên trong lẫnbên ngoài, mà nó đe dọa hay có khả năng phá hủy hay làm suy yếu cấu trúc nhà nước, cả
về mặt lãnh thổ, thể chế và chế độ cai trị Lịch sử đã chứng minh rằng con người không thể
có cuộc sống ổn định và phát triển bền vững nếu như không có an ninh và một quốc gia cũng không thể phát triển bền vững nếu không đảm bảo được an ninh cho con người và doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực đời sống, sản xuất và kinh doanh.
Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, bên cạnh khái niệm an ninh đãhình thành nên khái niệm an ninh truyền thống (ANTT) Đây là khái niệm có nội hàm là anninh quốc gia theo cách tiếp cận lấy quốc gia hay nhà nước làm trung tâm Theo Luciani,
an ninh quốc gia có thể được định nghĩa là khả năng chống lại sự xâm lược của nướcngoài Còn theo Luật an ninh quốc gia của Việt Nam (2014) thì an ninh quốc gia là sự ổnđịnh, phát triển bền vững của chế độ XHCN và NN CHXHCNVN, sự bất khả xâm phạm
độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Như vậy, có thể hiểu an
ninh truyền thống theo quan điểm truyền thống là sự tồn tại và phát triển ổn định của một quốc gia trên các lĩnh vực: an ninh chính trị, an ninh quân sự, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa tư tưởng Tuy nhiên, quan điểm về an ninh truyền thống hay an ninh quốc gia đã thay
đổi cùng với sự phát triển của lịch sử nhân loại, lịch sử quan hệ quốc tế với những cột mốclịch sử quan trong như kết thúc chiến tranh lạnh (1947-1991), bức tường Berlin sụp đổ(1998) và Liên Xô cũ tan rã (1991) Tình hình chính trị thế giới trở lên phức tạp và hỗnloạn hơn Xung đột giữa các quốc gia, xung đột về sắc tộc, xung đột về tôn giáo ngày càngtrở nên gay gắt hơn Thế giới trở nên phẳng hơn và đang bước sang giai đoạn hội nhậpnhanh với sự phát triển như vũ bão của các công nghệ mới, công nghệ thông tin và truyển
Trang 26thông, mạng Internnet, các dòng chảy thông tin, quan điểm, ý tưởng, đầu tư, thương mại,
du lịch, du học, văn hóa… Thế giới đang đứng trước các nguy cơ của biến đổi khí hậu,thiên tai, dịch bệnh, trong khi vẫn đang phải đối phó với các vấn đề chính trị, kinh tế, xãhội… Tất cả các yếu tố trên đã hình thành nên khái niệm an ninh phi truyền thống(ANPTT), lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo “Phát triển con người” năm 1994 củaChương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) Theo đó an ninh phi truyền thốngđược hiểu là sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững cá nhân, con người, doanh nghiệp,cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàncầu và biến đổi khí hậu Quan niệm này liệt kê 7 thành tố của ANPTT là: (i) An ninh kinhtế-trước mối đe dọa nghèo khổ; (ii) An ninh lương thực trước đe dọa đói kém; (iii) Anninh sức khỏe trước đe dọa thương tích và bệnh tật; (iv) An ninh môi trường trước đe dọa
ô nhiễm, xuống cấp môi trường và cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên; (v) An ninh
cá nhân, bảo vệ trước các hình thức bạo hành khác nhau; (vi) An ninh cộng đồng, bảo vệ
sự toàn vẹn văn hóa; (vii) An ninh chính trị, bảo vệ trước sự bị trấn áp chính trị Trong đó,các mối đe dọa từ an ninh phi truyền thống được hiểu là các vấn đề an ninh mới xuất hiện
và có khả năng tác động tiêu cực tới sự an toàn, tồn tại, ổn định và phát triển bền vững của
cá nhân, con người, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bối cảnhbiến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu An ninh phi truyền thống được hiểu trên 4 cấp độ:
- An ninh phi truyền thống ở cấp độ quốc tế;
- An ninh phi truyền thống ở cấp độ nhà nước (quốc gia, địa phương);
- An ninh phi truyền thống ở cấp độ cộng đồng (con người);
- An ninh phi truyền thống ở cấp độ doanh nghiệp (chủ DN và đông đảo người lao
động);
Về cơ bản, sự khác biệt giữa ANPTT và ANTT nằm ở các điểm sau: Thứ nhất, ANPTTxuất hiện sau ANTT Thứ hai, ANPTT chịu ảnh hưởng của Chủ nghĩa Tự do và Chủ nghĩaKiến tạo (an ninh con người) còn ANTT chịu ảnh hưởng của Chủ nghĩa Hiện thực Thứ ba, vềcác lĩnh vực liên quan, ANPTT liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề (môi trường, lươngthực, năng lượng, nhân quyền,…) trong khi đó ANTT liên quan đến chính trị, quyền lực, quân
sự, chiến tranh Thứ tư, đối tượng tác động của ANPTT (thế giới, quốc gia, con người) rộnghơn đối tượng tác động của ANTT (quốc gia) Thứ năm, ANPTT ít liên quan đến chủ quyềnquốc gia còn ANTT gắn liền với chủ quyền quốc gia
Trang 27Bảng 1.1 So sánh an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống
CHUNG
Cách tiếp cận lấy người và A.N DN Cách tiếp Mối quan hệ mới ra đời khi
Sức mạnh & nguồn lực doanh nghiệp
Quốc tế (* VD: An ninh
cầm quyền và thể chế Khu vực (*VD Đói, Dịch
Trang 28Thực tế, có rất nhiều nghiên cứu và cách nhìn nhận khác nhau về khái niệm an ninh con người Trên thế giới, quan niệm về an ninh con người của UNDP và EU ra đời sớm và
18
Trang 29nhận được sự công nhận rộng rãi nhất Theo UNDP (1994) an ninh con người theo nghĩarộng hàm ý về một tình trạng người dân không bị những đe dọa kinh niên như đói nghèo,bệnh tật, sự trấn áp (những thứ cần đầu tư phát triển trong dài hạn) và những tai nạn bấtngờ (đòi hỏi sự can thiệp tức thời từ bên ngoài) Quan điểm này được xem là sự phát triểnrộng về mặt nội hàm so với quan điểm theo nghĩa hẹp trước đây, dừng lại ở an ninh lãnhthổ trước sự xâm lược từ bên ngoài, ở việc bảo vệ lợi ích dân tộc trong chính sách đốingoại và ở an ninh toàn cầu trước đe dọa hủy diệt hạt nhân Cùng với sự phát triển của nộihàm khái niệm an ninh, quan điểm về an ninh con người của UNDP năm 1994 cũng liệt kê
7 thành tố của an ninh con người, bao gồm: (i) An ninh kinh tế trước mối đe dọa nghèokhổ; (ii) An ninh lương thực trước mối đe dọa đói kém; (iii) An ninh sức khỏe trước mối
đe dọa thương tích và bệnh tật; (iv) An ninh môi trường trước mối đe dọa ô nhiễm, xuốngcấp môi trường và cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên; (v) An ninh cá nhân trướccác hình thức đe dọa bạo hành khác nhau; (vi) An ninh cộng đồng trước các mối đe dọa từvăn hóa; (vii) An ninh chính trị trước sự bị trấn áp về chính trị Còn theo Học thuyết về anninh con người (2004) của Liên minh Châu Âu xác định 5 mối đe dọa chính, bao gồm: (i)Chủ nghĩa khủng bố; (ii) Việc phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; (iii) Các cuộc xung độtkhu vực; (iv) Các nhà nước suy yếu không làm trọn nhiệm vụ; (v) Tội phạm có tổ chức
Từ những quan điểm về an ninh con người của giới học giả trên Thế giới, các họcgiả và nhà nghiên cứu tại Việt Nam cũng đưa ra những quan điểm khác nhau về nội hàmkhái niệm an ninh con người Theo Vũ Dương Ninh (2009) an ninh con người được nhìnnhận từ hai góc độ: (1) sự an toàn của con người trước những nguy cơ lâu dài như đóikhát, dịch bệnh, chiến tranh và sự áp bức; (2) sự bảo vệ con người trước những đe doạ bấtthường và nguy hại trong khuôn khổ gia đình, nơi làm việc hay cộng đồng Nó không chỉ
là không có xung đột bạo lực mà còn phải bảo đảm quyền con người, sự quản lý tốt củanhà nước, cơ hội tiếp cận với các điều kiện thuận lợi về giáo dục, y tế và sự lựa chọn điềukiện phát huy năng lực của mỗi cá nhân Mặc dù còn nhiều quan điểm tranh luận khácnhau, nhưng theo tác giả hầu như các nhà nghiên cứu dễ dàng gặp nhau trong quan niệm
về nội hàm của an ninh con người bao gồm 7 lĩnh vực là kinh tế, lương thực, sức khoẻ,môi trường, cá nhân, cộng đồng và chính trị Còn Theo Trần Việt Hà (2016) thì: “an ninhcon người được hiểu là việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người trước những nguy cơxâm hại, đe dọa; nhờ việc được bảo vệ như vậy, mỗi cá nhân nói riêng và cộng đồng nóichung có được đời sống yên ổn và cơ hội phát triển” tác giả cũng nêu quan điểm của mình
về vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm an ninh con người và việc bảo đảm an ninhcon người trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Trang 30Kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm về an ninh nói chung và an ninh con người
nói riêng, Theo PGS.TS Hoàng Đình Phi (2015) thì an ninh con người được hiểu là trạng
thái đảm bảo sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người trước các mối đe dọa trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu Trong đó,
07 yếu tố cấu thành, tác động đến an ninh con người từ nhiều góc độ, phương diện khácnhau, tùy theo hoàn cảnh không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, ảnh hưởngtrực tiếp hoặc gián tiếp đến từng người, từng cộng đồng người nhất định, cụ thể:
- An ninh kinh tế: bảo đảm cho con người về mặt an sinh xã hội, việc làm, nhất làthu nhập của người lao động, tạo điều kiện cơ sở vật chất thực hiện, bảo đảm cuộc sống, bảođảm quyền sống và phát triển;
- An ninh lương thực: bảo đảm cho con người không bị đói, cung cấp đủ chất dinhdưỡng cho con người, bảo đảm mọi người đều có cơ hội và khả năng cung ứng lương thực;
- An ninh sức khỏe: bảo đảm an toàn cho con người trước mọi nguy cơ đe dọa về mặt sức khỏe thể chất (thể lực) và sức khỏe tinh thần (trí lực);
- An ninh môi trường: bảo đảm môi trường sống cho con người;
- An ninh cá nhân: bảo đảm cho mỗi cá nhân trước nguy cơ đe dọa từ hành vi bạolực;
- An ninh cộng đồng: bảo đảm cho từng công dân sinh sống trong một cộng đồng antoàn;
- An ninh chính trị: bảo đảm sự ổn định chính trị- xã hội, là tiền đề để bảo đảm, thực thi quyền con người, con người được an toàn, tự do, phát triển cả về thể chất và tinh thần
Về cơ bản, nội hàm khái niệm an ninh con người của PGS.TS Hoàng Đình Phi đã có sự
kế thừa từ quan điểm về an ninh con người của UNDP công bố trong báo cáo phát triển conngười năm 1994 và học thuyết an ninh con người của Liên minh Châu Âu Ngoài ra,
trong kết quả nghiên cứu của mình tác giả cũng đã có những phát triển sáng tạo trong việclàm rõ khái niệm, nội hàm, bối cảnh ra đời, các mối đe dọa và các công cụ chính góp phầnđảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp hiện nay Đây thực sự là những luận điểmquan trọng, làm cơ sở lý thuyết phục vụ cho hoạt động nghiên cứu của tác giả luận văn Vìvậy, trong phạm vi của luận văn, tác giả đã sử dụng các kết quả nghiên cứu về an ninh conngười nói chung và an ninh con người trong doanh nghiệp làm cơ sở lý thuyết để giảiquyết mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn
Trang 31Bảng 1.2 Một số lĩnh vực an ninh doanh nghiệp trong ANPTT
TT AN tài chính của DN AN công nghệ của AN con người của AN thương hiệu của
yếu kém; Trộm cắp bí (2) Mâu thuẫn, xung
tiền và nhân lực cho hoại;
R&D; Công nghệ mới (3) Đối thủ câu nhân
giảm.
(4) Nội gián.
Nguồn: Nguyễn Văn Hưởng, Bùi Văn Nam, Hoàng Đình Phi, 2015 Theo PGS.TS Hoàng
Đinh Phi (2015) thì an ninh con người trong doanh nghiệp được hiểu là sự an toàn, ổn
Trang 32khái niệm hoàn toàn mới được ra đời trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh và biến đổi toàn
cầu Trong đó, mục tiêu chính của việc đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp làviệc phát triển, sử dụng an toàn và hiệu quả nguồn nhân lực để cạnh tranh bền vững Điềunày sẽ góp phần đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp trước các mối đe dọa
như: (1) Mất an toàn lao động; (2) Mâu thuẫn, xung đột, đình
21
Trang 33công, phá hoại; (3) Đối thủ câu nhân tài; (4) Nội gián Để thực hiện mục tiêu này, các chủthể chính là chủ doanh nghiệp và nhà quản lý doanh nghiệp cần phải sử dụng các công cụchính như:
- Chiến lược phát triển nguồn nhân lực: Nó được hiểu là các kế hoạch nhằm sử dụng
có hiệu quả nguồn nhân lực trên cơ sở kết hợp giữa đào tạo và phát triển; phát triển tổ chức vàphát triển cá nhân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu tổ chức;
- Quy trình quản trị nguồn nhân lực: Nó được hiểu là trình tự các hoạt động trongcông tác quản trị nguồn nhân lực của một tổ chức thực hiện chức năng thu hút nguồn nhânlực; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; duy trì nguồn nhân lực góp phần nâng cao sựđóng góp có hiệu suất của người lao động đối với tổ chức, đáp ứng các yêu cầu công việctrước mắt và trong tương lai;
- Quy trình giám sát nhân lực: Nó được hiểu là trình tự các hoạt động thực hiện chứcnăng giám sát trong công tác quản trị nguồn nhân lực của một tổ chức Thông qua hoạt độnggiám sát nhân lực để góp phần đảm bảo công tác quản trị nguồn nhân lực thực hiện đúng chứcnăng thu hút, duy trì, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy cả ba công cụ chính, trong việc đảm bảo an ninhcon người của doanh nghiệp trước các mối đe dọa, có mối quan hệ liên kết chặt chẽ vớinhau Điểm chung của ba công cụ đó là các hoạt động gắn với đào tạo và phát triển nguồnnhân lực trong tổ chức Điều đó cho thấy, một trong những giải pháp quan trọng mà cácdoanh nghiệp hiện nay có thể áp dụng trong việc đảm bảo an ninh con người của mìnhchính là thông qua các hoạt động đào tạo
1.2 Lý luận cơ bản về đảm bảo an ninh con người tại các NHTM
1.2.1 Tổng quan về NHTM
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính đóng vai trò quan trọng trong nềnkinh tế quốc dân Lịch sử ra đời của các ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của sảnxuất lưu thông hàng hóa và lịch sử phát triển của tiền tệ Trong các loại hình ngân hàng
hiện nay thì, Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nhằm mục tiêu lợi nhuận Một số hoạt động kinh doanh chính của NHTM
như: (i) Nhận tiền gửi; (ii) Cấp tín dụng; (iii) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.Ngày nay với sự phát triển của nền kinh tế, các ngân hàng còn cung cấp thêm các dịch vụmới như tư vấn tài chính, thực hiện đầu tư trên thị trường chứng khoán, đầu tư vào bấtđộng sản, các dịch vụ bảo lãnh… Vì vậy, có thể thấy NH nói chung và NHTM nói riêng làmột loại hình tổ chức quan trọng trong nền kinh tế, là chìa khóa cho sự phát triển kinh tế
Trang 34Đối với một ngành hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ tài chính thì chấtlượng nguồn lực con người là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự phát triểncủa NHTM Ở đây nguồn lực được hiểu là bao gồm trí lực và thể lực Trí lực thể hiện ở sựsuy nghĩ, hiểu biết của con người đối với thế giới xung quanh, thể lực là sức khoẻ, khảnăng làm việc bằng cơ bắp, chân tay Nguồn lực phản ánh khả năng lao động của từng conngười và là điều kiện cần thiết của quá trình lao động sản xuất xã hội Thật vậy, nhân viên
NH là người trực tiếp giao dịch với khách hàng, vì vậy thái độ của nhân viên, trình độ củanhân viên cũng như đạo đức nghề nghiệp của nhân viên ảnh hưởng trực tiếp đến chấtlượng dịch vụ mà ngân hàng cung ứng cho khách hàng Mặc dù theo thời gian, ngành côngnghiệp ngân hàng đã có nhiều thay đổi lớn lao song dường như lĩnh vực này vẫn có mộtđiều gì đó không bao giờ thay đổi Có lẽ đây mãi mãi là một ngành dịch vụ với các sảnphẩm vô hình và chúng ta khó có thể phân biệt được sự khác nhau về sản phẩm giữa cácngân hàng Tuy nhiên, tính chính xác, độ thân thiện và chất lượng dịch vụ giữa các ngânhàng lại không bao giờ giống nhau trên hầu hết các thị trường Chính vì vậy, chất lượngđội ngũ con người trong NH là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng đứngvững và thắng lợi trong môi trường kinh doanh của các NHTM
1.2.2 Công tác đảm bảo an ninh con người tại các NHTM
Mục tiêu chính của các hoạt động đảm bảo an ninh con người là phát triển, sử dụng
an toàn và hiệu quả nguồn nhân lực để cạnh tranh bền vững Là một lĩnh vực kinh doanhdịch vụ tài chính, việc đảm bảo an ninh con người tại các NHTM cũng không nằm ngoàimục tiêu chính đó Và để đảm bảo an ninh con người theo các mục tiêu đã đề ra đòi hỏicác NHTM phải thực hiện tốt các hoạt động, cụ thể:
- Các hoạt động đảm bảo sự an toàn cho đội ngũ nhân lực tại NHTM: Đó là các hoạt
động đảm bảo cho người lao động có thể an tâm làm việc trong môi trường làm việc tốt nhất,tránh những yếu tố gây đe dọa đến sức khỏe trí lực và thể lực, từ đó ảnh hưởng đến chấtlượng nguồn nhân lực của NH như: chính sách an toàn, sức khỏe người lao động; Đào tạo về
an toàn lao động; Xây dựng quy trình quản trị rủi ro…;
- Các hoạt động đảm bảo sự ổn định đội ngũ nhân lực tại NHTM: Đó là các hoạt
động đảm bảo cho người lao động có thái độ làm việc tích cực, gắn bó lâu dài cùng tổ chứcnhư: chính sách tạo động lực và khuyến khích nhân viên; Đánh giá kết quả thực hiện côngviệc; Xây dựng văn hóa doanh nghiệp; Chính sách đãi ngộ phúc lợi cho người lao động; Kỷluật lao động…;
- Các hoạt động đào tạo và phát triển đội ngũ nhân lực tại NHTM: Đó là các hoạt
động đảm bảo cho người lao động có thể tạo ra sự nâng cao về chuyên môn nghề nghiệp
Trang 35hiện tại cũng như phát triển nghề nghiệp trong tương lai như: các chương trình đào tạotrong công việc, các chương trình đào tạo ngoài công việc.
Theo PGS- TS Hoàng Đình Phi (2015), các mối đe dọa chính đến việc gây mất anninh con người tại các DN nói chung bao gồm: (1) Mất an toàn lao động; (2) Mâu thuẫn,xung đột, đình công, phá hoại; (3) Đối thủ câu nhân tài; (4) Nội gián Là một loại hìnhdoanh nghiệp kinh doanh các dịch vụ tài chính thì các NHTM cũng phải đối phó với cácmối đe dọa chính như trên Để hạn chế các rủi ro gây mất an ninh con người đòi hỏi cácNHTM phải thực hiện tốt các hoạt động, cụ thể:
- Các hoạt động đối phó với rủi ro mất an toàn lao động: Đó là các hoạt động ngăn
ngừa sự cố tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, gây thương tích đối với cơ thể hoặc gây tửvong cho người lao động như: Các hoạt động phòng ngừa, tổ chức và phục vụ tốt nơi làmviệc; Các hoạt động thanh tra và kiểm soát quy trình, tiêu chuẩn trong lao động; Các hoạtđộng đào tạo, huấn luyện và khuyến khích người lao động tuân thủ…
- Các hoạt động đối phó với rủi ro mâu thuẫn, xung đột, đình công, phá hoại: Đó là
các hoạt động ngăn ngừa các sự cố mâu thuẫn, xung đột, đình công, phá hoại xuất phát từ sựbất bình của người lao động trong công việc, môi trường làm việc như: đào tạo và phát triển;tạo động lực; phát triển và đánh giá; kỷ luật lao động…
- Các hoạt động đối phó với rủi ro đối thủ câu nhân tài: Đó là các hoạt động ngăn
ngừa rủi ro các đối thủ cạnh tranh thu hút nhân tài của NHTM, như: quản trị tiền công tiềnlương; đào tạo và phát triển nhân viên; tạo động lực…
- Các hoạt động đối phó với rủi ro nội gián: Đó là các hoạt động ngăn ngừa rủi ro
các sự cố liên quan đến nội gián của NHTM, như: quy trình bảo mật thông tin nội bộ, quytrình tuyển dụng và đào tạo nhân viên; Bố trí nhân lực và thôi việc…
Nói tóm lại, việc đảm bảo an ninh con người trước các mối đe dọa đang là vấn đềbức thiết đặt ra đối với các doanh nghiệp Việt Nam Đặc biệt, với lĩnh vực dịch vụ tàichính, vai trò của người lao động lại càng quan trọng, thì việc đảm bảo an ninh con ngườitrong các NHTM lại càng cần thiết Để đảm bảo an ninh con người trước các mối đe dọa,hương tới mục tiêu phát triển, sử dụng an toàn và hiệu quả nguồn nhân lực để cạnh tranhbền vững đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ của nhiều giải pháp khác nhau Trong đó, đào tạonguồn nhân lực được xem là một giải pháp đặc biệt quan trọng
1.3 Công tác đảm bảo an ninh con người thông qua hoạt động đào tạo trong NHTM 1.3.1 Khái niệm về đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về đào tạo nguồn nhân lực Theo Michael
Armstrong (1996), đào tạo nguồn nhân lực là sự phát triển mang tính hệ thống của nhóm
Trang 36các k năng (Skills), kiến thức (Knowledge) và thái độ (Attitude) cần có đối với mỗi cá nhân
để thực hiện một cách đầy đủ một nhiệm vụ hay một công việc nào đó Theo Nguyễn Ngọc
Quân (2004), đào tạo và phát triển trong doanh nghiệp là các hoạt động để duy trì và nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để các tổ chức có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực
theo nghĩa rộng có thể được hiểu là hệ thống các biện pháp được sử dụng nhằm tác động
lên quá trình học tập giúp con người tiếp thu các kiến thức, k năng mới, thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân Đó là tổng thể
các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất địnhnhằm giúp cho người được đào tạo nắm vững hơn công việc của mình, nâng cao trình độchuyên môn, kỹ năng cần thiết để thực hiện hiệu quả hơn công việc của mình và nhằm mở
ra những cơ hội nghề nghiệp mới cho người lao động dựa trên những định hướng của tổchức
Đối với các doanh nghiệp thì nhu cầu đào tạo không thể thiếu được bởi vì không phảilúc nào các doanh nghiệp cũng tuyển được những người mới có đủ trình độ, kỹ năng phù hợpvới những công việc đặt ra Có hai nhóm phương pháp đào tạo là: (1) Đào tạo trực tiếp tại nơilàm việc là các phương pháp trong đó người học sẽ học được những kiến thức, kỹ năng cầnthiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc, thông thường là dưới sự hướng dẫncủa trưởng nhóm hay những người lao động có chuyên môn và kinh nghiệm;
(2) Đào tạo ngoài công việc là phương pháp đào tạo trong đó người học được đào tạo tại môi trường tách biệt khỏi công việc
1.3.2 Vai trò của đào tạo trong việc đảm bảo an ninh con người trong các NHTM
Như phân tích tại mục 1.2.2, chúng ta nhận thấy Để đảm bảo an ninh con ngườitrước các mối đe dọa, hương tới mục tiêu phát triển, sử dụng an toàn và hiệu quả nguồnnhân lực để cạnh tranh bền vững đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ của nhiều giải pháp khácnhau Trong đó, công tác đào tạo nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng Thông quabảng 1.3 về vai trò của hoạt động đào tạo trong việc đảm bảo ANCN tại NHTM, tác giả đãtổng hợp các nội dung đào tạo được xem là có vai trò quan trọng trong việc thay đổi thái
độ, nâng cao kiến thức và kỹ năng của người lao động trong việc đáp ứng các mục tiêuchính của đảm bảo an ninh con người trong các NHTM hiện nay cũng như khả năng ứngphó với các mối đe dọa tới các nhân viên trong lĩnh vực NH hiện nay Cụ thể:
Bảng 1.3 Vai trò của hoạt động đào tạo trong việc đảm bảo ANCN tại NHTM
Trang 37Vai trò của hoạt động đào tạo
việc hiệu quả.
1.3 Phát triển đội - Giúp người lao - Giúp người lao - Giúp người lao - Kỹ năng lập kế
học tập và phát phát triển năng vào thực tế.
tương lai.
Trang 38II Các mối đe dọa Vai trò của hoạt động đào tạo
Mối đe Nguyên
pháp lý đi kèm.
lý
2.3 Đối - Chính - Giúp nhà quản lý - Giúp nhà quản - Giúp nhà quản lý - Quản trị nhân tài
mật
thông
tin;
Trang 3927
Trang 401.3.3 Các yếu tố môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến công tác đào tạo trong các NHTM
Trong quá trình hoạt động, các NHTM chịu tác động từ các yếu tố thuộc môi trườngkinh doanh, bao gồm: môi trường bên ngoài và môi trường bên trong Những thay đổi nàyvừa tạo cơ hội, vừa mang lại những thách thức đòi hỏi các NHTM phải thay đổi để thíchứng, tận dụng cơ hội cũng như đối diện và vượt lên các thách thức Dù theo hướng nào,công tác đào tạo trong các NHTM đều chịu tác động, bị ảnh hưởng nhất định Trong đó:
- Môi trường bên ngoài là những yếu tố nằm ngoài phạm vi kiểm soát và điều
chỉnh của NHTM Nó ảnh hưởng tới mọi hành vi quản trị trong NH, bao gồm cả hoạt động
đào tạo Trong số các yếu môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo thì khoahọc công nghệ, pháp luật và chất lượng của nguồn nhân lực bên ngoài có ảnh hưởng rõ nét.Bên cạnh đó, các yếu tố như: Cơ cấu tuổi, giới tính của lực lượng lao động, môi trường vănhóa, điều kiện địa lý, khí hậu, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ giáo dục quốc gia, cũngảnh hưởng tới đào tạo trong nội bộ NH ở mức độ khác nhau
- Môi trường bên trong là những yếu tố bên trong có tác động qua lại trực tiếp với
hoạt động đào tạo của các NHTM Một số yếu tố bên trong có ảnh hưởng rõ nét tới công tácđào tạo như: Chiến lược của NH, văn hóa NH, năng lực tài chính, chất lượng nguồn nhânlực Bên cạnh đó, các hoạt động quản trị nguồn nhân lực khác của doanh nghiệp như tuyểndụng, tiền lương, phúc lợi, với công tác đánh giá kết quả thực hiện công việc, quy hoạchnguồn nhân lực đều có mối quan hệ với đào tạo
Nếu như việc đảm bảo an ninh con người thông qua các hoạt động đào tạo là một giảipháp quan trọng thì việc phân tích, đánh giá những tác động của các yếu tố môi trường kinhdoanh sẽ giúp các NHTM có thể phát huy những cơ hội và hạn chế những thách thức ảnhhưởng đến hiệu quả của công tác đào tạo góp phần đảm bảo an ninh con người