CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những khái niệm cơ bản trong nghiên cứu biến dạng vỏ Trái Đất
1.1.2. Đứt gãy kiến tạo
Đứt gãy (còn gọi là biến vị, đoạn tầng hoặc phay) là một hiện tượng địa chất liên quan tới các quá trình kiến tạo trong vỏ Trái Đất. Đứt gãy chia làm nhiều loại:
Đứt gãy thuận, đứt gãy nghịch, đứt gãy ngang... Thông thường, đứt gãy thường xảy ra tại nơi có điều kiện địa chất không ổn định. Đứt gãy kiến tạo, nhất là những đứt gãy lớn, chạy dài hàng trăm, hàng ngàn cây số qua nhiều vùng lãnh thổ với địa hình và kiến tạo khác nhau. Do nằm cách xa phần ranh giới của mảng kiến tạo nên các đứt gãy trên lãnh thổ Việt Nam là những đứt gãy nội mảng, các đứt gãy này đóng vai trò phân chia các khối thạch quyển cấp II, III và IV. Theo tác giả Cao Đình Triều [19], các đứt gãy cấp II thạch quyển (cấp 1 Việt Nam) có dấu hiệu hoạt động ở Việt Nam và lân cận bao gồm 11 đứt gãy, được ký hiệu là FII; các đứt gãy cấp III thạch quyển (cấp 2 Việt Nam) có dấu hiệu hoạt động ở Việt Nam và lân cận bao gồm 34 đứt gãy, được ký hiệu là FIII . Hệ thống các đứt gẫy trên lãnh thổ Việt Nam được thống kê trong Bảng 1.1 dưới đây.
Bảng 1.1. Hệ thống các đứt gẫy trên lãnh thổ Việt Nam [19]
Đặc điểm
Số Ký Tên đới đứt gãy Hình thái - Hình động học
TT hiệu Phương
Hướng cắm Độ Bề
phát triển sâu rộng
(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) 1. Đới đứt gãy cấp II thạch quyển (cấp I Việt Nam)
1 FII.1 Lai Châu - Điện Biên KT ?: 600 ÷ 800 TQ 30
2 FII.2 Sông Hồng TB ĐB: 600 ÷ 700 TQ 30
3 FII.3 Sông Lô TB TN: 600 ÷ 700 TQ 30
4 FII.4 Bắc Hoàng Sa ĐB TB TQ 40
5 FII.5 Phú Lâm - Linh Cẩu ĐB TB TQ 30
6 FII.6 Ranh giới vỏ Đại Dương TQ
7 FII.7 Thuận Hải - Minh Hải ĐB TB: 500 ÷ 700 TQ 30
8 FII.8 Nam Côn Sơn - Tư Chính ĐB TQ
9 FII.9 Ba Tháp TB TN: 700 ÷ 800 TQ 30-40
10 FII.10 Natuna KT T TQ 30
11 FII.11 Sarawak - Baram - Palawan TB, ĐB,
TQ 30
ĐB 2. Đới đứt gãy cấp III thạch quyển (cấp II Việt Nam)
1 FIII.1 Phong Thổ TB TN: 650 ÷ 850 XV 20-30
2 FIII.2 Phan Sipan TB TN: 600 ÷ 800 XV 10-20
3 FIII.3 Mường La - Bắc Yên TB ĐB: 500 ÷ 700 XV 10-20
4 FIII.4 Sơn La TB ĐB: 600 ÷ 700 XV 30-40
5 FIII.5 Điện Biên - Sầm Nưa -
TB ĐB: 500 ÷ 800 XV 30-40 Thường Xuân
6 FIII.6 Yên Minh - Bắc Kạn (Sông
Á KT T XV 10-20
Đáy)
7 FIII.7 Cao Bằng - Tiên Yên TB ĐB: 700 ÷ 800 XV 10-20
8 FIII.8 Cô Tô ĐB ĐN XV 10-20
9 FIII.9 Sông Cả TB ĐB: 500 ÷ 600 XV 20-30
10 FIII.10 Lôi Châu ĐB TB: 600 ÷ 750 XV 20-30
11 FIII.11 Rào Nậy TB TN: 600 ÷ 800 XV 20-30
12 FIII.12 Hải Nam ĐB ĐB: 600 ÷ 700 XV 20-30
13 FIII.13 A Lưới - Rào Quán - Sơn
ĐB ĐB: 600 ÷ 800 XV 20-30 Tây - Quy Nhơn
14 FIII.14 Kinh tuyến 110 (Phú Khánh) KT T XV 20-30
10
15 FIII.15 Ốc Tai Voi ĐB XV 20-30
16 FIII.16 Nam Hoàng Sa TB XV 10-20
17 FIII.17 Kinh tuyến 117 KT XV 20-30
18 FIII.18 Buôn Hồ TB ĐB: 400 ÷ 500 XV 20-30
19 FIII.19 Tuy Hòa ĐB ĐN: 500 ÷ 700 XV 20-30
20 FIII.20 Lộc Ninh - Hàm Tân TB TN: 600 ÷ 800 XV 20-30
21 FIII.21 Sông Pô Cô KT T: 600 ÷ 800 XV 30-40
22 FIII.22 Nam Du KT T XV 20-30
23 FIII.23 Tây Côn Sơn ĐB TB: 600 ÷ 700 XV 20-30
24 FIII.24 Đông Côn sơn ĐB TB: 500 ÷ 600 XV 10-20
25 FIII.25 Trường Sa VT XV 100
26 FIII.26 Palawa TB XV 10-20
27 FIII.27 Vũng Mây VT B XV 10-20
28 FIII.28 An Bang ĐB XV 10-20
29 FIII.29 Kiêu Ngựa ĐB ĐN XV 10-20
30 FIII.30 Tây Baram TB ĐB XV 10-20
31 FIII.31 Bắc Sarawak TB-VT TN-N XV 10-20
32 FIII.32 Đông Natuna KT Đ XV 20-30
33 FIII.33 Pantani KT Đ XV 20-30
34 FIII.34 Đông Malaysia TB ĐB XV 20-30
Chú thích:
Cột 1: Số thứ tự của đứt gãy theo thống kê của bảng 1 Cột 2: Ký hiệu của đứt gãy dùng để tra cứu trên hình vẽ Cột 3: Tên đứt gãy
Cột 4: Phương phát triển của đứt gãy: TB (Tây Bắc - Đông Nam); ĐB (Đông Bắc - Tây Nam); KT (Kinh tuyến); áKT (á Kinh tuyến); VT (Vĩ tuyến) và áVT (á Vĩ tuyến)
Cột 5: Hướng cắm và góc cắm của đứt gãy: ĐB (Đông Bắc); TN (Tây Nam); B (Bắc) và N (Nam)
11
Cột 6: Mức độ xuyên cắt của đứt gãy: TQ - Đứt gãy Thạch quyển (có khả năng xuyên cắt và là ranh giới khối địa động lực thạch quyển); XV - Đứt gãy xuyên vỏ (xuyên cắt vỏ và là ranh giới khối địa động lực)
Cột 7: Bề rộng ảnh hưởng (đới động lực) của đứt gãy
Hệ thống đứt gãy trên lãnh thổ Việt Nam tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Bắc, các đứt gãy đa phần có hướng Tây Bắc - Đông Nam hoặc hướng Bắc - Nam như thể hiện trong Hình 1.2 dưới đây:
Hình 1.2. Bản đồ hệ thống đứt gãy chính trên lãnh thổ Việt
Hoạt động của đứt gãy tích cực được coi là nguyên nhân của nhiều tai biến và thảm họa thiên nhiên mà động đất là một dạng tiêu biểu. Theo lý thuyết kinh điển, động đất là kết quả của dịch trượt nhanh dọc mặt đứt gãy, sự dịch trượt này gây nên bởi sự giải phóng đột ngột năng lượng (chủ yếu được sản sinh do biến dạng đàn hồi) tại một vùng trong vỏ Trái Đất. Động đất chủ yếu (chiếm 95%) xẩy ra tại ranh giới giữa các mảng kiến tạo. Tuy nhiên, động đất cũng xẩy ra tại phần trong của mảng mà nguyên nhân trước hết được cho là liên quan tới chuyển động mảng kiến tạo, tiếp theo đó là do sự gia tăng hay giảm đi của các vùng băng, tác động của tích hoặc xả nước tại các hồ chứa và sự dâng lên của dòng mác ma [19].