Tài liệu trong nước

Một phần của tài liệu kl ngo xuan lam 610673b (Trang 23 - 29)

Ngành Cơ khí Việt Nam giữ vai trò chủ đạo trong thực hiện tiến trình CNH - HĐH đất nước. Trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Theo Hiệp hội các doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) được tổ chức vào cuối tháng 7 vừa qua thông báo: Tốc độ tăng trưởng của ngành Cơ khí Việt Nam trong 10 năm trở lại đây đạt khoảng 1 tỷ USD/năm đó là điều mà ít người nghĩ ngành Cơ khí có thể đạt được. Đặc biệt, giai đoạn 2001 - 2005, ngành đã đạt được đạt được những thành tựu quan trọng trong công nghiệp đóng tàu, chế tạo thiết bị thuỷ công và các ngành sản xuất Cơ khí khác. Đặc biệt ngành Cơ khí đóng tàu biển đã có những bước phát triển nhãy vọt, đó là khả năng đóng mới tàu 53000 tấn lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam, sửa chữa các loại tàu trên 100000 tấn…Được biết mục tiêu của ngành Cơ khí từ

nay đến năm 2010 là đáp ứng được từ 45% đến 50% nhu cầu sản phẩm trong nước, trong đó xuất khẩu đạt 30% giá trị sản lượng. Ngoài ra tập đoàn kinh tế Vinashin cho biết, từ đây đến 2010, Vinashin cần khoảng 40.000 tỷ đồng đầu tư các dự án mới ngành đóng tàu, nhằm thực hiện chiến lượt xuất khẩu tàu thuỷ đến 2010 đạt xấp xỉ 1 tỷ USD và 3 triệu tấn tàu các loại cho ngành vận tải, hàng hải, du lịch… Với số vốn như trên Vinashin sẽ tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng của 10 Công ty đóng tàu lớn nhất hiện nay, để đóng mới các loại tàu có trọng tải từ 3 vạn tấn đến 30 vạn tấn. Bên cạnh đó Vinashin còn đầu tư xây dựng mới 7 nhà máy đóng tàu lớn, 6 khu công nghiệp tàu thuỷ ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam, đó là các khu công nghiệp:

Cái Lân, Hải Dương, Soài Rạp, Dung Quất, Nhơn Trạch… (nguồn: TTXVN - Báo QĐND - thứ 4 - ngày 2 - 8 - 2006).

Ngành công nghiệp đóng tàu ở nước ta được xây dựng trong những thập niên 60 của thế kỷ trước. Ngày nay, nó đang rất phát triển và được Nhà nước cũng như ngành quan tâm xây dựng, biên soạn một số quy trình, quy phạm kỹ thuật an toàn. Tuy nhiên, tài liệu có tính tổng hợp, mang nét đặc thù cho riêng ngành vẫn chưa có. Cho nên việc từng bước xây dựng hệ thống tài liệu AT-VSLĐ, phòng chống TNLĐ - BNN là việc làm mà ngành đóng - sửa chữa tàu nói chung và Nhà máy X51 nói riêng rất được quan tâm. Các Nhà máy thường tập trung ở các cửa sông, cửa biển, nơi thuận tiện cho tàu thuyền ra vào. Các Nhà máy đóng tàu đi đầu trong ngành phải kể đến như:

Nhà máy Bến Kiền, Sông Cấm, Hạ Long, Cơ khí Hải Phòng…Ở phía Nam phải kể đến như Công ty sửa chữa tàu biển và dịch vụ hàng hải, Nhà máy đóng tàu CK76, Công ty tàu thuỷ Sài Gòn… Đặc biệt nước ta đang xây dựng và đưa vào hoạt động Nhà máy đóng tàu Dung Quất (Quảng Ngãi) là một trong những Nhà máy đóng tàu lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên ngành công nghiệp đóng tàu ở nước ta phát triển chậm, do quy trình công nghệ lạc hậu, phương thức làm việc thủ công, nặng nhọc. Do vậy nhiều nội dung về ATLĐ, ĐKLĐ cần được hoàn thiện thêm rất nhiều.

Hình 5 : Hệ số tần suất tai nạn lao động theo ngành

0 5 10 15 20 25 30

Khai thác 26,3 ‰

Xây dựng 25,7 ‰

cheá bieán 24‰

cô khí 18,6 ‰

Deọt 5,3‰

Hệ số tần suất TNLĐ theo ngành

(Nguồn: Tạp chí BHLĐ số 8/2004)

Ngành công nghiệp đóng tàu là một trong những ngành công nghiệp nặng còn gọi là ngành cơ khí chế tạo đặc biệt. Tuỳ theo yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của từng doanh nghiệp mà có công nghệ khác nhau, nhưng có thể nói công nghiệp đóng tàu tập trung chủ yếu vào 3 quy trình sản xuất đó là đóng mới, sửa chữa và phá dỡ tàu cũ.

Trong quá trình sản xuất bao gồm các ngành nghề khác nhau: ngành vỏ tàu (thợ hàn, cắt, lắp ráp), ngành máy tàu, ngành sơn, điện, tiện, phay, bào..v.v có thể cùng làm việc tại một vị trí nên mức độ xảy ra TNLĐ là rất lớn. Mặc dù ảnh hưởng về môi trường do các Nhà máy đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ gây ra chưa nghiêm trọng, nhưng với đặc thù là một trong những ngành cơ khí, NLĐ thường xuyên phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc và độc hại (nhất là đối với thợ hàn, sơn), vấn đề tai nạn xảy ra là khó tránh khỏi nếu không có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Ở các công đoạn của dây chuyền công nghệ đóng mới, sửa chữa tàu, thuyền, sà lan… phải sử dụng nhiều máy móc thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ như: cần cẩu, palăng, xe nâng hàng, các bình Gas, Oxy… Công đoạn chuẩn bị vật tư (tôn, sắt, thép có kích thước và trọng lượng lớn), phải vận chuyển bằng Ôtô, tàu thuyền phải qua quá trình bốc dỡ đầy phức tạp và nguy hiểm, khả năng vật rơi, ngã cao, điện giật, vấp ngã vẫn luôn tồn tại. Từ đó được vận chuyển đến các phân xưởng sản xuất và lắp ráp theo thiết kế của con tàu.

Phần lớn các công việc chuẩn bị đều được thực hiện ngoài trời cùng lúc phải chịu tác động của VKH xấu và hơi khí độc của công đoạn hàn cắt kim loại. Công đoạn gia công khung sườn: lắp ráp, hoàn thiện các bộ phận chi tiết vỏ tàu, khung mạn, khung boong tàu cùng các chi tiết khác của con tàu. Các tàu lớn phải lắp dựng giàn giáo, hệ thống thang để bước lên cao làm việc. Các công việc ở đây có tính chất nặng nhọc, đòi hòi tính chính xác cao, nhưng làm việc ở độ cao thấp khác nhau đi lại, di chuyển chật hẹp gồm nhiều ngành nghề cùng thực hiện như: hàn, phun cát làm sạch bề mặt kim loại, sơn, có nhiều nguy cơ tai nạn do ngã cao, sụp hầm, điện giật, vật rơi, va đập…

luôn có thể xảy ra.

Công đoạn làm việc trong hầm tàu: làm sạch bề mặt các tấm kim loại, hàn cắt, sơn, lắp ráp các máy móc thiết bị thường phải đề phòng ngộ độc (có thể ngất xỉu do quá nóng hay do thiếu dưỡng khí), cháy nổ, tiếng ồn quá cao…

Công đoạn phun cát làm sạch bề mặt kim loại: thường được thực hiện ở bãi chuyên dùng (nơi đóng mới hoặc nơi sửa chữa tàu) ở đường triền, đốc nổi. Công đoạn này luôn tiềm ẩn những nguy cơ TNLĐ như nổ ống áp lực, văng đầu béc… Đặc biệt công việc này có tiếng ồn quá lớn, nồng độ bụi rất cao luôn vượt TCCP là nguyên nhân gây ra bệnh điếc nghề nghiệp và bệnh bụi phổi.

Tình hình ATLĐ, TNLĐ của ngành đóng và sửa chữa tàu ở nước ta chưa có nhiều số liệu nghiên cứu, phân tích riêng cho từng vùng, từng Nhà máy cụ thể, không vì thế mà tai nạn không xảy ra, thậm chí còn xảy ra ở mức độ nghiêm trọng. Theo Báo KHPT đăng ngày 24/11/2006, cho biết trong 6 tháng đầu năm 2006 cả nước có 65 vụ

tai nạn điện, làm chết - bị thương 105 người. Riêng ở Tp.HCM có 25 vụ làm chết và bị thương 30 người.Thực tế mới đây nhất có xảy ra một vụ tai nạn nghiêm trọng như sau:

Vào thứ 2 ngày 27- 10 – 2006 tại hầm tàu Tây Đô Star của Công ty tàu thủy Sài Gòn ở phường Tân Thuận Đông - Quận 7, bất ngờ nổ làm 3 công nhân bị thương nặng. Sau đó 2 công nhân đã bị chết tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Theo nhận định ban đầu có khả năng là do công nhân làm việc trong hầm tàu có nhiều khí độc, dẫn đến cháy nổ (tài liệu do ông Nguyễn Hiệp – Báo NLĐ – đăng ngày 30- 10 – 2006).

Theo số liệu thống kê trên tạp chí Ecgonomics, đã thực hiện phép so sánh rất trực quan về mức độ phù hợp của kích thước nhân trắc một số nước so với tiêu chuẩn thiết kế máy, thiết bị của Mỹ: phù hợp với 90% người Đức, 80% người Pháp, chỉ phù hợp với 45% người Nhật, 25% Thái Lan và 10% người Việt Nam. Cũng có thể so sánh kích thước người Việt Nam với tiêu chuẩn các nước như sau: 10% phù hợp với Mỹ, 13,3% phù hợp với Đức, 65,6% phù hợp với Nhật và 85,6% phù hợp với Thái Lan Bảng 4: Chứng rối loạn cơ xương do những thao tác lặp đi lặp lại.

Bộ phận cơ thể đau mỏi

Công nhân xây dựng

Công nhân cơ khí

Công nhân dệt

Công nhân may

Nhân viên vi tính

Công nhân lắp ráp điện tử Cổ và gáy

Vai Lưng

40,37%

54,04%

69,57%

32,04%

26,54%

59,5%

32,29%

29,41%

41,17%

33%

50%

37%

50%

48,2%

78,2%

46,43%

46,43%

64,29%

( Nguồn: Đặc san KHKT Bảo hộ lao động, trang 25, kỳ I / 1995).

Theo danh mục ngành nghề nặng nhọc và độc hại của ngành Cơ khí (ban hành theo công văn 2753/ Bộ LĐTBXH - BHLĐ ngày 1/8/1995 của Bộ LĐTBXH) thì có 14 công việc được xếp vào ĐKLĐ loại IV. Trong đó ngành công nghệ đóng tàu chiếm 5 công việc. Tất cả các công việc này luôn tiềm ẩn các yếu tố gây ra BNN cho NLĐ.

Bảng 5

Stt Tên nghề Trị số các yếu tố điều kiện lao động 1 Ngành cắt, hàn

điện trong hầm tàu

Nhiệt độ: 38-400C ; Tiếng ồn 109 – 120 dBA; CO2 : 0,15 – 0,2 mg/l ; MnO2: 0,12 – 0,15 mg/l; Vùng làm việc bất lợi, có nhiều vách ngăn, chổ thao tác chật hẹp, có nguy cơ xảy ra tai nạn khá cao do điện giật.

2 Gõ rỉ trong hầm Nhiệt độ khoảng từ 44 - 460C; CO: 0,18 mg/l; CO2: 0,26

tàu, hầm xà lan mg/l

Tiêu hao năng lượng 1792 Kcal/ca

Điều kiện làm việc chật hẹp, gò bó, căng thẳng thị giác do thiếu ánh sáng.

3 Sơn chống rỉ trong hầm tàu, xà lan

Nhiệt độ: 40 – 460C; Tiếng ồn: 105 – 124 dBA; CO2: 1- 2,5 mg/l.

Tiêu hao năng lượng: 10850 Kcal/ ca.

Vùng làm việc tối, căng thẳng thi giác, tư thế gò bó, chật hẹp, thiếu dưỡng khí.

4 Phun cát, tẩy rỉ vỏ tàu

Làm việc ngoài trời nhịêt độ từ; 28 – 350C.

Tiếng ồn: 95 – 108 dBA

Độ rung cục bộ với vận tốc 5 cm/s Bụi: 150 – 400 mg/l

Tư thế làm việc bất lợi, chật hẹp, ẩm ướt , leo giàn giáo, nằm quỳ

5 Đóng mở ụ tàu, âu tàu

Làm việc ngoài trời ( nhiệt độ khoảng 350C) . Tiếng ồn: 103 dBA.

Tiêu hao năng lượng: 2205,12 Kcal/ca

Tư thế làm việc nặng nhọc, lặn ngụp dưới nước thải để kê, kích tàu

ĐKLĐ của NLĐ trong ngành đóng - sửa chữa tàu tại Nhà máy X51 thực sự khắc nghiệt, hầu hết đều ở các nhóm có ĐKLĐ từ loại IV trở lên.

Bảng 6: Phân loại ĐKLĐ của NLĐ trong công nghệ đóng - sửa chữa tàu.

Stt Loại công việc Điều kiện lao động (loại IV) 1

2

- Sơn bằng phương pháp thủ công.

- Hàn vỏ phương tiện thuỷ

- Gò rỉ các

- Tư thế gò bó, thường xuyên tiếp xúc hóa chất độc hại trong sơn.

- Hàn ngoài trời, chịu ảnh hưởng thời tiết, tư thế lao động gò bó, ảnh hưởng của CO2, khí hàn, tia hồ quang.

- Làm ngoài trời, tư thế gò bó, chịu tác động của ồn cao, bụi vượt TCVSCP nhiều lần.

3

4

5

6

7

8

9

10

phương tiện vận tải thuỷ

- Đánh rỉ sắt bằng máy cầm tay.

- Sơn vỏ phương tiện thủy.

- Sửa chữa máy tàu

- Cạo rỉ, sơn trong thùng, khoang kín trong hầm tàu.

- Hàn điện, hàn hơi

- Hàn trong hầm tàu, hầm sà- lan

- Gò rỉ trong hầm tàu, xà lan

- Chịu tác động của ồn cao, rung lớn và bụi nồng độ cao.

- Làm việc ngoài trời, nóng, nắng không gian chứa đầy bụi sơn NLĐ chịu ảnh hưởng của hoá chất độc trong sơn và toluen.

- Công việc nặng nhọc, nóng, ẩm ướt, thường xuyên tiếp xúc với dầu mỡ.

- Nơi làm việc chật hẹp, thiếu ánh sáng, thiếu dưỡng khí, tư thế gò bó, chịu tác động của hoá chẩt trong sơn và CO2, MTLĐ nguy hiểm.

- Tiếp xúc nóng hơi khí độc.

- Nơi làm việc chật hẹp, ẩm ướt, bẩn, thiếu dưỡng khí, tư thế làm việc gò bó, chịu tác động của CO, CO2, MnO2, ồn, môi trường làm việc nguy hiểm.

- Nơi làm việc chật hẹp, ẩm ướt, bẩn, thiếu ánh sáng, thiếu dưỡng khí, tư thế làm việc gò bó chịu tác động của bụi nồng độ cao và rất ồn, môi trường làm việc nguy hiểm.

11 - Phun cát tẩy rỉ vỏ tàu

- Làm việc ngoài trời, công việc nặng nhọc, chịu tác động của ồn, rung lớn và bụi nồng độ rất cao.

12

13

- Sơn chống rỉ trong hầm tàu, hầm sà - lan.

- Sơn, cạo rỉ ở đáy tàu.

- Nơi làm việc chật hẹp, thiếu ánh sáng, thiếu dưỡng khí, tư thế gò bó, chịu tác động của CO2, Toluen và các hoá chất khác trong sơn, môi trường làm việc rất nguy hiểm.

- Lao động nặng nhọc, tư thế gò bó, nơi làm việc thiếu dưỡng khí, hôi thối.

Theo số liệu nghiên của đề tài KX-07-15, một số bệnh mãn tính của ngành Cơ khí thường xuất hiện và có tỉ lệ như sau:

Bệnh về tim mạch, hô hấp, tiêu hoá khảo sát 15 người, chiếm 7,99%

Bệnh tai mũi họng khảo sát 106 người, chiếm 24,26%

Các bệnh về mắt khảo sát 79 người, chiếm 32,78%

Thần kinh suy nhược khảo sát 159 người, chiếm 36,385.

Ngoài ra NLĐ dễ bị mắc một số bệnh đặc trưng sau:

Bệnh về mắt: cháy giác mạc, phỏng do hàn hồ quang điện.

Bệnh điềc nghề nghiệp do thường xuyên tiếp xúc với ồn.

Bệnh gai cột sống, bệnh cơ khớp do khuân vác vật nặng, tư thế làm việc không thuận lợi.

Bệnh phổi Silic do phun cát, Amiăng, nhiễm sắt…

Số liệu % về bệnh tật mà công nhân ngành Cơ khí luyện kim được đề tài cấp Nhà nước KX07 – 05 cho biết như sau:

Bệnh tai mũi họng chiếm 24 – 27%

Bệnh về mắt 31 – 33%

Suy nhược 36 – 41%

Tim mạch, tiêu hoá, hô hấp 8 – 13%

Về các nguồn gây ô nhiễm chủ yếu của các Nhà máy đóng tàu là nồng độ bụi rất cao do phun cát, bụi sơn, khói hàn, dầu mỡ, tiếng ồn và nhiệt độ cao khi làm việc trong hầm tàu, làm việc ngoài trời nắng nóng.

Môi trường không khí trong ngành công nghiệp đóng tàu luôn bị ô nhiễm cùng một lúc nhiều yếu tố có hại, các chất gây ô nhiễm trực tiếp cho NLĐ chủ yếu là các loại bụi kim loại Fe2O3 lơ lửng có kích thước rất nhỏ và các loại khí như NOx, CO, CxHy. Đặc biệt khi hàn sẽ sinh ra các chất Fe2O3, SiO2, K2O, CaO tồn tại ở dạng bụi và khói, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khẻo NLĐ.

Một phần của tài liệu kl ngo xuan lam 610673b (Trang 23 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(75 trang)