CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG TẠI NHÀ MÁY ĐÓNG TÀU X51 A. ĐÁNH GIÁ THỰC TRANG ATLĐ TẠI NHÀ MÁY X51
3.5. Hoạt động của tổ chức Công đoàn trong công tác BHLĐ
Nhà máy X51 là một doanh nghiệp Nhà nước nên hoạt động của tổ chức Công đoàn luôn đạt hiệu quả cao nhất về tư vấn hỗ trợ cho Hội dồng BHLĐ thực hiện công tác BHLĐ tại Nhà máy bằng các công việc cụ thể như: phối hợp với các Phòng, Ban chuyên môn tổ chức nhiều hình thức, biện pháp cụ thể, thiết thực trong việc thực hiện phong trào “ Xanh - Sạch -Đẹp, bảo đảm AT-VSLĐ”, đưa nội dung BHLĐ vào thỏa ước lao động với NLĐ, tổ chức tuyên truyền cho công nhân trong Nhà máy thực hiện đúng các chủ trương chính sách về pháp luật của Nhà nước. Công đoàn cơ sở tại Nhà máy X51 đã phối hợp với các cấp lãnh đạo về BHLĐ tổ chức thành lập mạng lưới AT- VSV, luôn đôn đốc, kiểm tra để mạng lưới này hoạt động để đạt hiệuquả cao nhất. Tuy nhiên, mạng lưới ATVSV tại Nhà máy X51 được thành lập chính là các tổ trưởng làm việc tại các phân xưởng sản xuất. Đây là điều trái với quy định, vì vậy không phát huy được vai trò hoạt động giám sát về BHLĐ của quần chúng. Mặt khác, các ATVSV chưa được hưởng các chế độ phụ cấp, hỗ trợ thích hợp (Nhà máy chỉ phụ cấp 30000đ / 1người/ 1 tháng). Nên họ chưa nhiệt tình với công việc. Vậy công tác ATVSV tại Nhà máy X51 chưa hoạt động đúng với chức năng và nhiệm vụ về công tác BHLĐ. Đây là điều mà Nhà máy cần quan tâm khắc phục, để công tác BHLĐ tại cơ sở đạt hiệu quả tốt hơn.
Cán bộ Công đoàn đã đấu tranh thẳng thắng với mọi việc vi phạm các quy định về AT-VSV với bất kỳ các bộ phận tại Nhà máy về công tác BHLĐ, đề nghị với lãnh đạo đơn vị thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho NLĐ và các máy móc thiết bị trong quá trình sản xuất.
Cán bộ Công đoàn tham gia điều tra TNLĐ, nắm rõ tình hình TNLĐ,BNN và việc thực hiện kế hoạch BHLĐ và các biện pháp bảo đảm an toàn sức khỏe NLĐ trong sản xuất. Đề xuất các biện pháp tồn tại, thiếu sót
3.6. AN TOÀN PHÒNG CHỐNG CHÁY NỔ, ĐIỆN VÀ HỆ THỐNG CHỐNG SÉT
3.6.1.AN TOÀN PHÒNG CHỐNG CHÁY NỔ TẠI CƠ SỞ
Trong mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, có một vấn đề liên quan đến công tác BHLĐ đó là vấn đề cháy nổ. Tuy có đặc thù riêng cho từng ngành nghề, nhưng thực tế nguyên nhân cháy nổ trong sản xuất của doanh nghiệp thường do những yếu tố mất an toàn hoặc không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh hoặc do ý thức của NLĐ gây ra. Cháy nổ có thể xảy ra ở mọi nơi, mọi chỗ. Trong thực tế AT-VSV và PCCN luôn có quan hệ mật thiết với nhau.
Trong phạm vi Nhà máy X51, PCCN là công tác cực kỳ quan trọng. Nó tạo điều kiện tốt cho Nhà máy phát triển đi lên, đồng thời làm tốt công tác PCCN là bảo vệ an toàn tính mạng NLĐ và tài sản của Nhà nước. Mỗi phân xưởng có đặc thù sản xuất riêng nên có nhiều nguyên nhân gây cháy, nổ khác nhau.Các loại tàu sửa chữa hỏng
hóc nhiều, lượng dầu phế thải thường tập trung ở khoang máy, nơi đây còn tập trung các bình khí Gas, Oxy, Acetylen để tiến hành các công việc sửa chữa. Đó là nguyên nhân gây ra cháy. Ngoài ra, các buồng sinh hoạt trên tàu thường sử dụng xốp cách nhiệt có đường dây điện đi qua dễ xảy ra hiện tượng chập điện và cháy âm ỉ bên trong.
Mặt khác, nhà xưởng cũ kỹ, các hệ thống dây điện, tủ điện lâu năm chưa được thay thế dễ gây ra hiện tượng chập điện trong quá trình sản xuất, vì hầu hết các đường dây tải điện điều nằm ngoài, không có đường ống bảo vệ; trong các phân xưởng sản xuất thường tập trung nhiều loại thiết bị, máy móc dùng để gia công các chi tiết máy và các máy móc thiết bị này chủ yếu là sử dụng nguồn điện khi vận hành. Các máy móc khi làm việc có độ ma sát cao phát ra tia lửa có nguy cơ gây ra chập cháy nếu chúng không được che chắn cẩn thận.
Đối với phân xưởng vỏ tàu, công việc chủ yếu là làm việc ở ngoài trời, công việc luôn gắn với hàn, cắt bằng máy hàn điện hoặc hàn gió đá với số lượng máy hàn lớn và hoạt động liên tục, nên các nguy cơ cháy, nổ ở phân xưởng vỏ tàu là rất lớn.
Công việc hàn, nhiều lúc phải tập trung tại một khu vực, các máy hàn phải tập trung tại một vị trí để làm việc, dây hàn phải dài và có nhiều mối nối, nếu không được nối kín và có bao bảo vệ sẽ phát sinh ra tia lửa điện. Lúc đó nhiệt độ tại khu vực này sẽ tăng cao, có thể gây ra cháy bất cứ lúc nào. Tại đây, cứ 2-3 máy hàn được nối vào cùng một cầu dao dễ dẫn đến quá tải gây nên cháy dây bảo vệ và có thể dẫn đến cháy, chập điện.
Ngoài ra, việc sử dụng bình Oxy và Axetyen trong hàn, cắt kim loại có nguy cơ gây cháy nổ rất cao. Nguyên nhân gây ra cháy nổ chủ yếu là do NLĐ chủ quan không kiểm tra dây dẫn, đồng hồ hạ áp và các đầu nối không đảm bảo. Trong lúc làm việc tia lửa hàn và tia lửa điện phát ra và bắn tung téo rất nhiều nhưng NLĐ nhiều khi còn làm bừa, làm ẩu, không tuân thủ những quy định an toàn đối với việc sử dụng chai Oxy, Axetylen, vẫn còn để chúng gần nguồn nhiệt, nơi có tia lửa điện dễ làm thay đổi áp suất trong các chai này, dẫn đến cháy đối với chai Axetylen và nổ đối với chai Oxy.
Tại Nhà máy X51 đã có biện pháp PCCN tại chỗ, có bản quy định, nội quy chỉ dẫn về PCCN. Có hệ thống báo cháy, chữa cháy, phương tiện PCCC với số lượng đủ và chất lượng tốt. Có lực lượng PCCC tại chỗ. Toàn Nhà máy có 5 đội PCCC ở 5 phân xưởng sản xuất, mỗi đội lại được chia thành 2 tổ, mỗi tổ từ 5-7 người tuỳ theo số lượng của mỗi phân xưởng sản xuất. Lực lượng PCCC ở các đội, tổ này thường xuyên được tổ chức huấn luyện định kỳ theo kế hoạch, do những người có chuyên môn đảm nhiệm cho tập và tiến hành kiểm tra sau khi tập. Tuy nhiên, mặt hạn chế trong công tác PCCN tại Nhà máy X51 là chưa có đội PCCC chuyên nghiệp, đa phần những đội trưởng PCCC là những công nhân làm việc tại các phân xưởng kiêm nhiệm luôn công tác PCCC, chưa được đào tạo chuyên môn về PCCC.
Theo đánh giá chung thì Nhà máy có nguy cơ cháy nổ cao do làm việc trong môi trường đặc biệt (làm việc hầm tàu) và sử dụng nhiều loại nhiên liệu, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất là những chất dễ sinh cháy nổ và được thống kê trong bản sau:
Bảng 12: Vị trí có nguy cơ gây TNLĐ do cháy nổ
Stt Vị trí Nguy cơ TNLĐ do cháy nổ
1 2 3 4 5
Phân xưởng vỏ tàu Hầm tàu
Phân xưởng vũ khí – khí tàu Phân xưởng mộc
Phân xưởng động cơ
Ga + Hơi + Điện + Sơn Dầu + Ga + Điện Điện + Thuốc nổ
Vật liệu dễ cháy + Mùn cưa Điện + Dầu
Bảng 13: Trang bị phương tiện PCCN
Stt Loại phương tiện Số lượng Chất lượng
1 Bình CO2 - loại 8 kg 06 tốt
2 Bình CO2 - loại 5 kg 17 tốt
3 Bình CO2 - loại 2 kg 15 tốt
4 Bình chứa bột tổng hợp 05 tốt
5 Máy bơm chữa cháy loại: 04 tốt
6 TOHATSU 18, 4kW (25HP) 01 tốt
7 Vòi chữa cháy: A: 05; B: 04 08 tốt
8 Xe cứu hỏa 02 tốt
9 Thùng đựng cát 16 tốt
10 Câu liêm 06 tốt
11 Xẻng xúc cát 18 tốt
12 Thang tre 06 tốt
Cơ sở sản xuất rộng lại có quá nhiều nguyên nhân gây cháy nổ nên ngoài việc tổ chức đội PCCN tại chỗ và trang bị đầy đủ phương tiện chữa cháy thì việc tổ chức cấp cứu và trang bị đầy đủ các phương tiện cứu người như: áo quần chống cháy, mặt nạ lọc hơi khí độc có đường ống dẫn không khí từ bên ngoài hoặc mặt nạ lọc khí độc có gắn bình Oxy phía sau để cứu người khi xảy ra cháy hoặc do xì hơi khí Axetilen là điều rất cần thiết để đề phòng tai nạn có thể xảy ra. Trong khâu này Nhà máy đã trang bị nhưng chưa đầy đủ, tất cả các trang bị này điều đã cũ kỹ. Tại Nhà máy chưa tiến
hành lập hồ sơ theo dõi thường xuyên việc quản lý về phòng cháy, chữa cháy ở cơ sở.
Đây là một thiếu sót trong công tác TC – QL về BHLĐ của Nhà máy.
3.6.2. AN TOÀN VỀ ĐIỆN VÀ HỆ THỐNG CHỐNG SÉT
Do tính chất của ngành công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu, nên trong công việc luôn sử dụng nguồn điện với điện áp cao (380V). Đây là mối nguy hiểm luôn thường trực với NLĐ, vì trong công việc luôn tiếp xúc thường xuyên với sắt, thép, đây là những chất rất nhạy về điện, nếu không cẩn thận khi để xảy ra chạm điện thì dòng điện sẽ lan toả đi rất nhanh gây nguy hiểm cho những người làm việc tại cùng vị trí.
Mặt khác, trong công việc hàn, cắt đường dây dẫn điện thường xuyên bị kéo lê qua nơi ẩm ướt, vật sắc nhọn dễ gây ra hiện tượng trầy tróc, mài mòn dây dẫn điện, mà nếu không thường xuyên kiểm tra dễ gây ra tai nạn về điện.
Nhà máy sử dụng nguồn điện chính của Nhà nước với trạm biến thế 1500 KV ( chuyển từ 15 KV xuống 800 V). Trạm này được đặt trong một khu riêng tại Nhà máy với lượng điện sử dụng là: 195.945 KWh / tháng, tính bình quân khoảng: 8.165 KWh / ngày. Ngoài trạm điện này, Nhà máy còn một trạm điện dự phòng với dòng điện 3 pha 380 V. Hệ thống lưới điện mà Nhà máy hiện có, đủ cung cấp lượng điện tiêu thụ cho toàn bộ hoạt động sản xuất và sinh hoạt. Tại Nhà máy X51, Ban lãnh đạo rất quan tâm tới công tác an toàn điện, đã tiến hành trang bị các tủ điện có khoá, thay thế những dây dẫn đã cũ kỹ. Tuy nhiên vẫn còn một số tủ điện chưa được thay thế như tại phân xưởng vỏ tàu (vị trí đóng mới) nhiều tủ điện chưa được che chắn, nhiều dây dẫn của máy hàn được đấu vào tủ điện để trần không có cơ cấu bao che, hệ thống dây dẫn để nổi trên mặt đất không có đường ống bảo vệ, trong khi các phương tiện vận tải như: xe nâng, máy cẩu luôn hoạt động trong khu vực này, nên dễ gây ra hiện tượng dập nát, đứt dây dẫn điện. Đó là mối nguy hiểm tiềm ẩn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Trong thực tế các vụ tai nạn xảy ra tại Nhà máy đa phần là do điện gây ra, trong đó có một vụ gây chết người. Vậy trong công tác an toàn về điện, tại Nhà máy dù đã cố gắng nhưng chưa thực hiện triệt để, các nguy cơ mất an toàn vẫn luôn tiềm ẩn, cần đề ra các giải pháp cụ thể cho từng khâu sản xuất để hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn xảy ra. Đề tài sẽ đề xuất giải pháp ở phần sau.
Trong các phân xưởng cơ khí, điện máy, các máy móc luôn sử dụng nguồn điện khi vận hành. Khi các máy móc trong các phân xưởng cùng hoạt động, có nguy cơ gây quá tải dòng điện. Khi sử dụng quá tải cường độ dòng điện trong mạng sẽ tăng lên có nguy cơ làm nung nóng dây dẫn và các thiết bị điện, làm huỷ hoại chất cách điện gây chập mạch hoặc rò (mát) điện ra vỏ thiết bị là nguyên nhân gây ra tai nạn điện giật với NLĐ hoặc gây cháy dây dẫn điện, cháy thiết bị điện (bóng đèn, động cơ…) nếu không xử lý kịp thời sẽ gây ra đám cháy. Do đó khi sử dụng các thiết bị về điện, cần trang bị cầu chì riêng cho từng loại. Vì khi biết công suất động cơ của từng thiết bị, lúc đó sẽ trang bị các loại cầu chì thích hợp. Cầu chì có tác dụng là khi cường độ dòng điện trong mạch tăng cao đến quá một mức độ nào đó sẽ bị nung chảy, đứt làm ngắt mạch
trên, người ta sử dụng các dung cụ điện có hệ thống đóng ngắt tự động (ap-to-mat) tác dụng với mức độ nhanh nhạy và chính xác hơn cầu chì. Tuy nhiên, ap- to-mat trong thực tế chưa được sử dụng rộng rãi, do đó việc sử dụng cầu chì vẫn còn khá phổ biến và sự cố gây nguy hiểm do sử dụng không đúng loại cầu chì vẫn còn xảy ra. Vì vậy việc tính toán, lựa chọn, sử dụng đúng cầu chì là vấn đề không thể xem nhẹ.
Nhà máy X51, tất cả các phân xưởng sản xuất, nhà điều hành, nhà nghĩ, vị trí các tàu đang đóng mới và sửa chữa đều có hệ thống chống sét đầy đủ. Đây là khâu mà Nhà máy rất quan tâm và thực hiện tốt.
3.7. AN TOÀN DÂY CHUYỀN CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ MÁY MÓC.
3.7.1. MÁY MÓC THIẾT BỊ PHỤC VỤ SẢN XUẤT.
Bảng 14: Danh mục máy móc - thiết bị
Stt Tên TTB ĐVT Số
lượng
Công suất (KW)
Năm SX
Năm đưa vào SD
Trình độ công nghệ 1 Máy mài trục cơ
M82125
Bộ 1 TB t .
tiến 2 Máy cắt plasma di
động 40 ly
Chiếc 1 2004 2
2004
” 3 Máy khoan cần 2A554 ” 1 7,5 1984
1984
cũ kỹ
4 Máy lốc tôn đĩa MÚT6 ” 1 15 ”
5 Máy cắt thép 12mm WESTINGHOUSE
1 14 ”
6 Máy cắt plasma CNC theo lập trình
” 1 ”
7 Máy vát mép tôn tự động GMB18
” 1 ”
8 Máy căn chỉnh bơm cao cấp NC – 133
” 1 ”
9 Thiết bị căn tâm trục bằng tia lade
” 1 ”
10 Thiết bị dò khuyết tật bằng siêu âm AD3213
” 1 ”
– E
11 Máy đo độ dày kim loại bằng siêu âm
” 1 ”
12 Máy đo lỗi đường dây AX124
” 1 ”
13 Máy tiện kim loại Chiếc 14 8,2 1968 1976
” 14 Máy tiện trục dài 8 –
10 m Mỹ
” 1 1970 ””
15 Máy tiện trục dài 2H63 – 8
” 1 25 1984
1984
” 16 Máy phay , bào , xọc ,
cưa
” 8 4,8 1972
1976
”
17 Máy khoan các loại ” 14 2,8 1968 ””
18 Máy doa ngang , doa lỗ ống bao trục chân vịt
” 2 10,5 1987 ””
19 Máy mài phẳng ” 1 3
,5 985
””
20 Máy mài 2 đá ” 13 3,4 1982
- 85
””
21 Máy cưa , cắt thép tấm ” 5 12 1970 ””
22 Máy chấn thủy lực 1 trụ
” 1 8 1980 ””
23 Máy chấn góc PACIFIC
” 2 14 1970 ””
24 Máy chấn uốn ” 3 7,5 1970 ””
25 Máy lốc tôn ” 3 7,5 1970 ””
26 Máy uốn ống thủy lực ” 4 14 2002 2
2002
Tân tiến
27 Máy gia công gỗ ” 10 3 1970
- 85
””
28 Máy nén khí ” 16 97 – 2”
2002 2002
29 Máy phun sơn ” 2 1998
1998
”
30 Bồn thổi cát ” 4 2001 2
2001
”
31 Tời kéo 15T ” 2 14 1985
1985
Lạc h ậu 32 Máy hàn tự động , bán
tự động
Chiếc 6 3,5 97 –
2001
2 2001
Tiên tiến
33 Máy hàn xoay chiều ” 36 14 95 –
2003
2 2003
”
34 Máy hàn một chiều ” 36 10 95 –
2003
2 2003
” 35 Cầu trục Hệ 3 7 1985
– 95 1985 cũ kỹ
36 Tàu kéo ” 2 1980
1980
”
37 Các thiết bị đo kiểm ” ”
Tại Nhà máy X51, máy móc thiết bị đa phần là cũ kỹ, lạc hậu (có máy thời gian sử dụng đã 35 năm) đa phần được trang bị tương đối đầy đủ các biển báo, nội quy an toàn, các máy điều được nối đất. Nhưng các máy móc thiết bị này điều không được kiểm tra bảo dưỡng theo định kỳ mà chỉ tiến hành kiểm tra, thay thế khi gặp sự cố hỏng hóc, ngưng hoạt động. Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu sản xuất, một số máy móc đã được cải biên lại như: máy cắt tôn, máy chấn tôn… Các máy này thiếu các cơ cấu che chắn an toàn, đồng hồ chỉ báo, hệ thống dây dẫn điện vào máy được mắc chằng chịt. Ngoài ra những người công nhân vận hành máy đa phần là kiêm nhiệm nhiều máy cùng lúc. Có một số công nhân chưa được đào tạo bài bản, đúng quy cách khi vận hành mà chỉ được hướng dẫn, chỉ bảo của những người công nhân có tay nghề cao, làm việc lâu năm tại Nhà máy. Do đó dễ gây ra nguy hiểm cho người vận hành và những NLĐ xung quanh. Dựa theo Bảng 14, ta thống kê được như sau :
Số máy không được trang bị các cơ cấu bảo đảm an toàn (CC-BĐAT) so với tổng số máy là: 2/37 máy. Số máy trang bị các CC-BĐAT nhưng không đầy đủ so với tổng số máy là 4/37 máy. Như vậy, qua việc đánh giá trên cho thấy cơ sở vẫn còn một số máy móc, thiết bị còn thiếu các CC-BĐAT. Vì vậy, cơ sở cần bổ sung thêm các cơ
cấu che chắn để tất cả các máy móc, thiết bị đều ở tình trạng an toàn cho người sử dụng.
3.7.2. DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT CỦA NHÀ MÁY
Trong dây chuyền sản xuất của Nhà máy gồm nhiều ngành nghề cùng thi công (theo quy trình đóng mới và sửa chữa): ngành cẩu, cắt, hàn, ngành máy, ngành điện, cơ khí có thể thi công riêng biệt ở các phân xưởng, cũng có thể thi công trên cùng một con tàu. Do vậy các biện pháp an toàn phải có sự phối hợp ăn ý và luôn thực hiện nghiêm ngặt các quy trình, quy phạm an toàn cho từng khâu sản xuất, từng nơi làm việc, từng máy móc thiết bị. Dây chuyền làm việc gồm nhiều công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn luôn tìm ẩn các nguy cơ gây tai nạn, nếu không có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả và trang bị các loại PTBVCN đầy đủ thì tai nạn xảy ra là điều khó tránh khỏi.
Tại công đoạn gia công khung sườn, đây là công đoạn luôn tiềm ẩn các yếu tố gây TNLĐ và BNN cao nhất. Các yếu tố nguy hiểm như: ngã cao, điện giật, ngất xỉu do hít thở hơi khí độc luôn tiềm ẩn. Tại công đoạn này khi các khung sườn đã được định hình, các đơn vị thi công tiếp nhận những tấm thép với kích thước lớn (1,5m x 6m). Sau đó dùng các thiết bị như: xe cẩu, xe nâng, palăng để đưa lên cao, trong quá trình làm việc luôn tìm ẩn các nguy cơ gây tai nạn như: đứt cáp, dây cáp bị tuộc dẫn đến gãy đổ, rơi, rớt vật. Công nhân làm việc trong môi trường này có thể bị vướng ngã, kẹt tay và nhất là họ phải khuân chuyển vật nặng bằng sức người, trong quá trình làm việc nhiều lần sẽ dẫn đến tổn thương cột sống. Ngoài ra còn làm việc ngoài trời, làm việc trên cao chưa lắp giàn giáo theo kiểu cố định, phần lớn giàn giáo tại Nhà máy là do những người công nhân tự lắp đặt, chưa có người phụ trách về chuyên môn lắp đặt giàn giáo. Do đó chưa lắp theo đúng quy cách, thang leo chưa đúng yêu cầu, chưa có lưới che chống vật rơi bên dưới, chưa có hệ thống dây cứu sinh để mắc dây đai an toàn khi đi lại trên cao, công nhân đi lại trên boong tàu phải đi lại bằng các lối đi tạm bợ, vương víu. Đó là các nguy cơ có thể gây TNĐ bất cứ lúc nào đối với NLĐ.
* An toàn lao động của quy trình sửa chữa.
Trong quy trình sửa chữa luôn chứa đầy các nguy cơ mất ATLĐ. Nhưng bước tiến hành thay tôn, vỏ tàu là nguy hiểm nhất, vì tại đây người công nhân tiến hành các công việc cắt, hàn kim loại, tiếp xúc thường xuyên với điện, leo cao, khả năng rơi rớt vật nặng luôn thường trực. Ngoài ra, công đoạn phun cát, gõ rỉ, sơn đầy nguy hiểm vì tiếp xúc với điện, tiếng ồn, khói bụi độc hại.
* An toàn lao động của quy trình đóng mới.
Yếu tố nguy hiểm trong quy trình này là việc di chuyển các nguyên vật liệu tập kết tại bãi đóng mới. Các loại nguyên vật liệu này thường dùng hệ thống xe nâng để đưa lên cao. Do đó dễ rơi rớt, gãy đổ gây nguy hiểm trực tiếp đến NLĐ.
Nhà máy đã thực hiện việc trang bị tương đối đầy đủ các loại PTBVCN cho các khâu sản xuất. TNLĐ chỉ xảy ra khi ý thức sử dụng PTBVCN của NLĐ kém, vi