CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG TẠI NHÀ MÁY ĐÓNG TÀU X51 A. ĐÁNH GIÁ THỰC TRANG ATLĐ TẠI NHÀ MÁY X51
B. ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC VSLĐ TẠI NHÀ MÁY X51 3.11. Đánh giá MTLĐ tại Nhà máy X51
3.13. Tình hình sức khỏe và BNN
Tình hình sức khỏe và bệnh tật của NLĐ được thể hiện qua hồ sơ khám bệnh định kỳ của Nhà máy. Hàng năm, Nhà máy có tổ chức khám sức khỏe định kỳ 1lần/năm. Theo số liệu thống kê từ bảng sức khoẻ của NLĐ trong 2 năm (2005 và 2006), ta thấy sức khoẻ NLĐ suy giảm rõ rệt. Sức khỏe loai I giảm nhiều, trong khi sức khỏe loại IV lại tăng lên rõ rệt. Như vậy sức khoẻ của NLĐ đã có dấu hiệu suy giảm theo thời gian làm việc. Do vậy, cần thực hiện các biện pháp AT-VSLĐ một cách đồng bộ ở mọi công đoạn sản xuất mới đảm bảo được sức khoẻ cho NLĐ.
Bảng 26: Bảng phân loại sức khoẻ năm 2005.
Stt Phân loại Số lượng ( người) Tỉ lệ (%)
1 Loại I ( sức khoẻ rất tốt 25 5,5 2 Loại II ( thuộc diện tốt) 249 54,8
3 Loại III ( trung bình ) 160 35,2
4 Loại IV ( yếu) 20 4,4
5 Loại V ( rất yếu) 0 0
Bảng 27: Phân loại sức khoẻ NLĐ năm 2006
Stt Phân loại Số lượng ( người) Tỉ lệ (%)
1 Loại I ( sức khoẻ rất tốt) 16 3,5 2 Loại II ( thuộc diện tốt) 213 46,9
3 Loại III ( trung bình ) 193 42,5
4 Loại IV ( yếu) 32 7,04
5 Loại V ( rất yếu) 0 0
Để cải thiện ĐKLV và hạn chế đến mức thấp nhất sự suy giảm khả năng lao động, Nhà máy cần đầu tư trang bị máy móc thiết bị, cải tạo, nâng cấp hệ thống nhà xưởng, cải thiện hệ thống điện để đáp ứng nhu cầu sản xuất nhằm hạn chế tai nạn xảy ra. Tuy nhiên về lâu dài cần có sự đầu tư nghiên cứu các biện pháp AT-VSLĐ cho từng ngành nghề. Để hiểu thêm về tình hình sức khoẻ của công nhân trong ngành đóng tàu, có thể tham khảo thêm kết quả khảo sát của các Công ty, Nhà máy trong vùng lân cận. Từ đó dưa ra cái nhìn tổng quát về tính chất công việc của ngành đóng tàu.
Bảng 28: Kết quả khảo sát tình hình sức khoẻ tại Công ty công nghiệp tàu thuỷ Sài Gòn ( năm 2005 ). Tổng số lao động được khảo sát 180 người.
Stt Phân loại Số lượng ( người) Tỉ lệ (%)
1 Loại I ( sức khoẻ rất tốt) 0 0
2 Loại II ( thuộc diện tốt) 107 59,4
3 Loại III ( trung bình ) 50 27,8
4 Loại IV ( yếu) 23 12,8
5 Loại V ( rất yếu) 0 O
Bảng 29: Kết quả khảo sát tình hình sức khoẻ tại Nhà máy đóng tàu Bason ( năm 2005 ). Tổng số lao động được khảo sát 1055 người.
Stt Phân loại Số lượng ( người) Tỉ lệ (%)
1 Loại I ( sức khoẻ rất tốt) 0 0
2 Loại II ( thuộc diện tốt) 545 51,7
3 Loại III ( trung bình 476 45,1
4 Loại IV ( yếu) 34 3,2
5 Loại V ( rất yếu) 0 o
Qua kết quả khảo sát như trên ta có thể nhận xét tình hình sức khoẻ của công nhân ngành đóng tàu còn nhiều vấn đề tồn tại, ta dễ dàng nhận thấy sức khẻo loại I hầu như không có, trong khi đó sức khoẻ loại III và loại IV ngày càng tăng cao. Theo số liệu thu thập được từ hồ sơ khám sức khỏe của NLĐ tại Nhà máy X51 thường mắc một số bệnh tật sau:
Bảng 30: BNN tại Nhà máy X51
Stt Loại bệnh Số lượng (người)
Tỉ lệ (%)
1 2 3
Bệnh xạm da
Bệnh điếc nghề nghiệp Bệnh bụi phổi
9 12 3
2,6 3,5 0,9
Tại Nhà máy X51, BNN của NLĐ thường xuất hiện tại các công đoạn mà tại đó công nhân phải làm việc trong môi trường có nhiều yếu tố độc hại cùng lúc như: công nhân làm việc tại phân xưởng vỏ tàu, công đoạn phun cát, làm việc trong hầm tàu…
Bệnh bụi phổi: xuất hiện chủ yếu tại công đoạn phun cát làm sạch vỏ tàu. Công đoạn này sản sinh ra rất nhiều bụi, nồng độ thường đo được từ 8 ÷ 19mg/m3, trong đó SiO2 chiếm tỉ lệ đáng kể. Trong quá trình làm việc NLĐ thường xuyên hít phải hàm luợng SiO2 vượt TCCP, trong khi việc trang bị PTBVCN chưa đáp ứng được nhu cầu tính chất của công việc. Lâu ngày dẫn đến bệnh bụi phổi – Silic.
Bệnh điếc nghề nghiệp: Tại Nhà máy X51, mức ồn hầu hết tại các phân xưởng điều vượt TCCP. Riêng tại công đoạn phun cát làm sạch vỏ tàu mức ồn luôn đạt mức cao ( 115 dBA). Ngoài ra tại phân xưởng vỏ tàu mức ồn thường đạt 90 dBA. Trong khi MTLV có nhiều yếu tố độc hại có nguy cơ dẫn đến BNN cao thì Nhà máy trang bị
chưa đầy đủ PTBVCN cho NLĐ hay đã trang bị nhưng ý thức sử dụng của NLĐ chưa cao. Đó cũng là nguyên nhân gây BNN cho NLĐ.
Bệnh xạm da nghề nghiệp là bệnh dễ nhận biết và khá phổ biến. Bệnh thường gặp trong các ngành công nghiệp đóng tàu, hoá dầu, luyện than… Tại Nhà máy đóng - sửa chữa tàu X51, bệnh xạm da thường xuất hiện tại công đoạn hàn, cắt kim loại. Tại công đoạn này người công nhân phải chịu tác động của khói hàn, tia lửa hàn… Mặt khác, do tính chất công việc NLĐ phải làm việc ngoài trời chịu tác động cùng lúc của tia bức xạ, trong khi không được trang bị đầy đủ mặt nạ hàn, khẩu trang, kính hàn…
Ngoài ra công nhân làm việc trong hầm tàu thường xuyên tiếp xúc, hít thở lượng dầu mỡ phế thải, quá trình diễn ra liên tục như vậy, lâu ngày dễ dẫn đến bệnh xạm da.
Phương pháp hạn chế loại bệnh này là trang bị PTBVCN, cải thiện MTLV như: thông gió, hút bụi hơi khí độc, khép kín dây chuyền sản xuất, tránh đỗ vãi day dính dầu mỡ, hạn chế tiếp xúc với nắng, làm liều che chắn nắng cho NLĐ khi làm việc ngoài trời…