4.2. Các biện pháp về ATLĐ
4.2.3. Biện pháp kỹ thuật khi làm việc trong không gian kín
Trước khi làm việc trong hầm tàu, cần phải kiểm tra không khí tại nơi làm việc bằng các dụng cụ đo để phát hiện, phân tích các loại hơi khí độc có thể có trong không khí. Các dụng cụ đo như máy đo Oxy, máy phát hiện khí cháy…
Người vào làm việc trong không gian kín phải có người bên ngoài giám sát, trong hoàn cảnh cụ thể phải trang bị PTBVCN như mặt nạ, dây cứu nạn. Về mặt nạ phòng độc, trong trường hợp chưa xác định được hơi khí độc thì phải dùng phương tiện kiểu cấp khí.
Đối với thợ hàn: khi làm việc trong hầm tàu không được sử dụng kìm hàn tự chế, vì trong khi làm việc mồ hôi ra nhiều làm ướt áo, dễ xảy ra tai nạn điện giật dẫn đến chết người.
Đối với thợ sơn : khi sơn trong hầm kín nhất thiết phải có hệ thống thông gió để làm loãng không khí.
Trang bị đèn chiếu sáng 24 V (DC) cho công nhân làm việc trong các khoang hầm hàng, giám sát chặt chẽ khi họ làm việc
Trang bị thêm 2 ÷ 3 quạt thông gió loại hút thổi cho công nhân sử dụng 4.2.4. BIỆN PHÁP KỸ THUẬT AN TOÀN KHI LÀM VIỆC TRÊN CAO.
Làm việc trên cao nguy có cơ ngã cao luôn hiện hữu, vì thế trước khi tiến hành công việc phải kiểm tra các thang, giàn giáo, dây đai an toàn, dây cứu sinh. Khi lắp dựng giàn giáo phải do người có chuyên môn đảm nhiệm và phải lắp đúng tiêu chuẩn:
giàn giáo phải có thanh giằng, mâm đỡ giàn giáo, phải có đủ 4 cây chống và chống cao bằng 2/3 chiều cao giàn giáo…
Khi mắc dây an toàn không được mắc vào giàn giáo mà phải mắc vào dây cứu sinh, khoảng cách giữa hai cột để căng dây cứu sinh tối đa là 10 m. Mặt khác, tăng cường nhắc nhỡ công nhân đi lại, di chuyển trên cao thận trọng và phải sử dụng giày có độ bám tốt.
Dây đai an toàn phải có 2 móc khoá, hướng dẫn cho công nhân phải móc luân phiên 2 móc khoá khi di chuyển.
Trước khi làm việc trên cao cần phải tiến hành thử tải dây cứu sinh đảm bảo an toàn mới cho làm việc.
4.3. GIẢI PHÁP KỸ THUẬT VỀ VSLĐ, CẢI THIỆN MTLV.
Tại các công đoạn sinh ra bụi, khí độc vượt quá TCVSCP nhiều lần, cần phải tính toán hệ thống thông gió dạng hút - thổi làm loãng nồng độ hơi, khí, khói độc hại đạt TCCP.
Thường xuyên vệ sinh nơi làm việc để không có thêm bụi thứ phát, hạn chế thấp nhất bụi lan tỏa. Tự động hoá những khâu phát sinh bụi. Giảm thời gian tiếp xúc bụi, trang bị PTBVCN. Cần chú ý trang bị nút tai chống ồn cho công nhân làm việc tại cong đoạn phun cát, gõ rỉ.
Đối với ngành phun cát, phun sơn phải được trang bị quần áo giấy chuyên dùng, có hệ thống cung cấp lọc khí thở độc lập. Để đảm bảo cho môi trường xung quanh và các ngành nghề khác cùng một nơi sản xuất Có thể đưa hệ thống phun cát theo quy trình khép kín vào sử dụng.
Cần phải cải thiện ĐKLV trong hầm tàu bằng các biện pháp thông gió. Để giúp cho giải pháp thông gió trong công nghệ đóng - sửa chữa tàu đạt hiệu quả, đề tài xin đề xuất phương pháp tính toán thông gió và cách chọn công suất động cơ như sau:
Trong trường hợp tính toán đúng, đảm bảo lưu lượng gió cần thiết thông thoáng hầm tàu được tính bằng lưu lượng không khí (m3/h) hay là giảm nhiệt độ để cho VKH trong hầm đạt TCCP. Theo kinh nghiệm ta có thể tính thông gió theo công thức sau:
L = n.V (m3/h) (4-3)
Trong đó: L: Lưu lượng gió thổi vào hầm V: Thể tích hầm, m3.
N: Số lần trao đổi không khí giữa không khí ngoài trời lùa vào hầm và khối lượng không khí trong hầm. Theo kinh nghiệm lấy n = 22 – 25 lần/h.
Thí dụ: Cần tính toán lưu lượng thông gió cho một hầm tàu có dung tích là V , ta chọn cách tính (4-3) để tính ra lưu lượng gió cần thiết cho hầm tàu cần thông thoáng. Hiện nay Nhà máy X51 đang sửa chữa tàu chở hàng có dung tích trung bình:
V = 10 m * 4 m * 3 m = 120 m3 . Thay vào công thức (4-3), ta được:
L = 25 x 120 = 3000 (m3/h).
Ta chọn quạt ly tâm có L và cột cao áp có P = 100 Kg/m3. Từ đó tính ra công suất động cơ của quạt theo công thức:
N L P
3600 x 102 x η1η2
(4-4)
Trong đó: η1η2 là hệ số hữu ích của quạt lấy bằng 0,55 và P =100 Kg/m3 , L = 3000 m3 /h. Thay vào công thức (4-4) ta được:
N =
102
* 55 , 0
* 3600
100
*
3000 = 1,5 KW
Ta lấy hệ an toàn của động cơ điện là 1,25. Như vậy công suất của động cơ quạt sẽ là:
Nđc = 1,5 x 1,25 = 1,85 KW
Vậy với động cơ quạt có công suất như trên, ta chọn loại máy hút thích hợp. Để thông hơi khí độc trong hầm tàu.
Hình 8: Mặt chiếu đứng của con tàu
Hình 9: Thông gió cho hầm tàu với 2 miệng hầm
Trong trường hợp hầm tàu có 2 lỗ lên xuống (Hình 9), khi tiến hành hút ở một phía lỗ 1 với lượng L (m3/h) (phải che kín lỗ 1 chỉ chừa một diện tích vừa đủ để thả ống hút xuống hầm tàu), thì ở lỗ 2 được mở trống cho không khí ngoài trời (không khí
9
10
4
3
2
5 1
6 9
1. Vật kệ máy 2. Máy hút khí 3. Ống thải khí 4. Hơi khí thải 5. OÁng huựt meàm 6. Mieọng huựt 7.Hơi khí độc 8. Miệng lỗ 1 9. Miệng lỗ 2 10. Không khí sạch, mát g h i C H U Ù:
mát) sẽ lùa vào cùng với một lượng L như thế để bù vào chỗ trống trong hầm tàu. Vì vậy trước thông gió công nhân cần phải dọn sạch sẽ lỗ 2 để gió lùa vào không lôi theo rác, đất, cát xuống hầm.. Sau một thời gian, lượng không khí mát sẽ vào đầy hầm tàu . Lúc đó lượng không khí trong hầm tàu sẽ bảo hoà, nồng độ hơi khí độc giảm, đạt TCCP, người công nhân có thể vào bên trong hầm tàu làm việc.
Hình 10:Thông gió cho hầm tàu với 1 miệng hầm
g h i C H U Ù:
1. Vật kê máy 2. Ống thải khí 3. Hơi khí độc 4. Máy hút khí 5. OÁng huựt meàm 6. Mieọng huựt 7. Hơi khí độc 8.Hơi khí mát,sạch 9. Lan can tàu 10. Miệng lỗ tàu
6 1
5
4 2 3
7 8
9
10
Trong trường hợp hầm tàu có một lỗ chui, ta tiến hành hút hơi khí độc bằng cách: cho ống hút vào lỗ hầm tàu, ống hút sẽ chiếm một diện tích nhỏ của lỗ hầm tàu, với diện tích trống còn lại, lượng không khí mát ở ngoài sẽ lùa vào làm loãng nồng độ hơi khí độc xuống đạt mức TCCP, người công nhân có thể vào làm việc an toàn.
Nhưng trước khi thông gió cần vệ sinh sạch sẽ khu vực xung quanh lỗ hầm tàu, để đảm bảo lượng không khí mát không mang theo cát chất bẩn.
Vậy với nguyên tắc tính toán và tổ chức thông gió như trên có thể áp dụng cho tất cả các hầm tàu khi tiến hành sửa chữa mà có các yếu tố độc hại, nóng nực… Vậy với việc thông thoáng hầm tàu bằng cách lấy gió từ bên ngoài được duy trì bằng phương pháp tính như trên, thì khả năng công nhân bị ngộ độc, ngất xỉu là không xảy ra, đảm bảo an toàn cho công nhân làm việc. Tuy nhiên, trong hai cách tính thông gió trên, ta cần chú ý khâu đảm bảo an toàn về điện cho người công nhân. Vì sử dụng là máy có động cơ điện với công suất lớn (2 KW). Nên cần phải tiến hành kê, lót máy bằng tấm ván khô để tránh trường hợp rò điện dẫn tới nguy hiễm cho NLĐ.