CHƯƠNG 3. QUẢN LÝ CÔNG TÁC ATVSLĐ CỦA CÔNG TY
3.9. Quản lý và chăm sóc sức khỏe NLĐ
NLĐ khi mới tuyển dụng phải có giấy khám sức khỏe của cơ quan y tế xác nhận không quá 3 tháng có đủ điều kiện sức khỏe để làm việc.
Định kỳ hàng năm phòng y tế Công ty phối hợp với trạm y tế phường tổ chức khám sức khỏe cho NLĐ. Trong quá trình khám nếu phát hiện NLĐ bị bệnh thì NLĐ sẽ được giới thiệu đi chữa bệnh và Công ty sẽ có kế hoạch luân chuyển người đó sang những vị trí công việc thích hợp với tình trạng sức khỏe của họ hơn.
Hồ sơ khám sức khỏe được lưu trữ cẩn thận và rõ ràng.
Tình hình sức khỏe của NLĐ trong Công ty được thể hiện qua kết quả khám sức khỏe Bảng 3.4: Kết quả khám sức khỏe
Số khám
SKĐK Tổng
cộng Loại I (rất khỏe)
Loại II
(khỏe) Loại III (trung bình)
Loại IV
(yếu) Loại V (rất yếu)
Nam 598 254 268 74 2 0
Nữ 1651 196 774 669 12 0
Tổng số 2249 450 1042 743 14 0
Tỉ lệ (%) 85 20 46.3 33 0.7 0
Sự phân loại sức khỏe như trên cho thấy tình hình sức khỏe của NLĐ tại công ty khá tốt, kết quả khám sức khỏe loại II và loại III chiếm tỉ lệ cao nhất. Ngành may là loại hình lao động nhẹ, chủ yếu mắc các bệnh nhẹ như viêm xoang, mũi, họng, thanh quản,
phổi,bệnh cơ, xương khớp…do bụi phát sinh trong quá trình sản xuất, các tư thế làm việc bị gò bó, chủ yếu lao động ở một tư thế như đứng hay ngồi, ít đi lại. Sức khỏe loại IV chủ yếu là các bệnh viêm đường hô hấp, viêm phổi mãn tính. Những đối tượng này cần được quan tâm, chăm sóc tốt hơn để phục hồi sức khỏe.
Bồi dưỡng, trợ cấp
NLĐ làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, độc hại được bồi dưỡng bằng hiện vật định kỳ 1 lần/ 1 tháng: 2 hộp sữa + 1 kg đường (trị giá 53 000 đồng) tại các vị trí lao động:
- Công nhân làm việc ở vị trí tẩy, ủi, ép keo, xịt bụi (là việc dùng 1 máy thổi có vận tốc gió lớn thổi trực tiếp vào quần áo thành phẩm để làm giảm lượng bụi vải bám dính vào sản phẩm)
- Công nhân làm vườn (có xịt thuốc trừ sâu) - Nhân viên vận hành nồi hơi
Nhìn chung, việc bồi dưỡng độc hại này được công ty thực hiện rất tốt, rất nghiêm ngặt, phù hợp với các quy định của Pháp luật Việt Nam, có thể giúp một phần nào đó cho NLĐ trong việc phục hồi sức khỏe sau mỗi ca làm việc nặng nhọc, tạo động lực lao động hơn cho họ vì họ cảm thấy được ban lãnh đạo quan tâm chăm sóc khi họ làm việc tại những vị trí này.
Khi NLĐ bị bệnh phải nằm viện thì Công ty có chính sách đi thăm hỏi và phụ cấp thuốc men để động viên tinh thần NLĐ. Đối với NLĐ có con nhỏ dưới 1 tuổi, Công ty có chính sách phụ cấp khoảng 200 000 VNĐ/ tháng để chăm sóc con nhỏ và NLĐ được làm việc 7h/ ngày và vẫn hưởng lương 8h/ ngày.
XN thực hiện đầy đủ chế độ Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm tai nạn cho NLĐ.
Các XN quản lý NLĐ thông qua máy chấm công. Tại máy chấm công có niêm yết
“bảng hướng dẫn chấm công”, giúp cho việc tính công trả lương chính xác, dễ dàng.
Tại mỗi XN đều bố trí tủ đựng vật dụng cá nhân riêng của NLĐ, có chìa khóa cẩn thận.
Nước uống và ly nhựa uống nước luôn được cung cấp đầy đủ và đảm bảo an toàn vệ sinh. Tuy nhiên các bình nước đặt ngoài hành lang XN nên NLĐ phải đi một đoạn đường xa mới có thể uống nước.
Ngoài ra Công ty hàng năm thường tổ chức các buổi vui chơi, dã ngoại cho các CB CNV, NLĐ không đi thì được hưởng 60% phần tiền thưởng đó. Các phong trào thi đua sản xuất, thi đua về vấn đề an toàn, vệ sinh công nghiệp, các hội thao truyền thống như đá bóng nam, thi nấu ăn giữa các XN, nhiều trò chơi với những phần quà hấp dẫn dành cho người thắng cuộc…
DN thuộc loại hình công nghiệp nhẹ, sản xuất theo dây chuyền, máy móc thiết bị hiện đại, có chế độ kiểm tra, giám sát thường xuyên, và công tác quản lý ATLĐ – VSMT – PCCN, phòng ngừa TNLĐ, BNN được thực hiện tốt nên TNLĐ ít xảy ra, hầu như không có TNLĐ nặng, TNLĐ chết người, chủ yếu là các TNLĐ nhẹ. Theo thống kê của Công ty, năm 2011 đã xảy ra 6 vụ TNLĐ nhẹ, chủ yếu là kim đâm vào tay, máy cắt vào tay, máy đính nút dập vào tay…
Bảng 3.5: Các vụ tai nạn lao động xảy ra tại Công ty STT Thời
gian
Xí nghiệp Người lao động
Vị trí làm việc
Tai nạn Nguyên nhân
1 02/2011 Hiệp
Phước Lê Văn
Trung Khu vực
cắt Đứt ngón tay trỏ bàn tay trái
Không mang găng tay sắt
2 02/2011 Thịnh Phước
Nguyễn Tùng
Máy đóng nút
Dập ngón tay cái bàn tay phải
Vòng bảo hiểm tay bị NLĐ tháo ra
3 05/2011 Bình
Phước
Lê Thị Thu Thảo
May Kim đâm vào tay
Vòng chắn kim gắn lệch nên không có tác dụng bảo vệ
4 9/2011 Bình
Phước Nguyễn
Văn Thư Ủi Bỏng tay Thao tác ẩu làm bàn ủi chạm vào tay 5 12/2012 Hiệp
Phước
Huỳnh Tấn Nam
Máy đóng nút
Dập ngón tay cái bàn tay trái
Vòng bảo hiểm tay bị NLĐ tháo ra
6 12/2012 Bình
Phước
Trần Duy Khanh
Cắt Đứt lìa ngón tay trỏ bàn tay trái
Không mang găng tay sắt
Sau khi tai nạn xảy ra, XN thông báo rõ cho những NLĐ khác biết về nguyên nhân, hậu quả vụ tai nạn đó, từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm để không xảy ra các vụ tai nạn tương tự. Đồng thời xem xét, kiểm tra lại các máy móc có thể gây tai nạn và đề ra các biện pháp, quy trình làm việc an toàn hơn. Tuy nhiên, NLĐ chỉ nghiêm chỉnh chấp hành nội quy trong thời gian ngắn sau khi XN công bố về vụ tai nạn nên tai nạn vẫn tiếp tục xảy ra.
Việc tổ chức và thực hiện thống kê, điều tra, khai báo TNLĐ do cán bộ ATLĐ báo cáo theo định kỳ 6 tháng/ lần và hằng năm theo đúng qui định; có chế độ quản lý hồ sơ nghiệm ngặt.
3.11. Công tác tuyên truyền, huấn luyện về AT VSLĐ
Cán bộ an toàn phối hợp với bộ phận y tế Công ty tổ chức các buổi huấn luyện cho NLĐ.
Huấn luyện lần đầu
Đối với NLĐ làm việc với các máy móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn được Công ty huấn luyện theo đúng Thông tư 37/2005/TT- BLĐTBXH và thông tư Thông tư số 41/2011/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội : Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 37/2005/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2005 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn công tác huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động.
Đối với NLĐ làm các công việc sản xuất hầu như không được huấn luyện lần đầu vì số lượng NLĐ nghỉ việc không nhiều, nghỉ việc rải rác (nghỉ ốm, thai sản, lý do cá nhân…) nên Công ty phải thường xuyên tuyển dụng mới với số lượng không nhiều nên khó khăn trong công tác huấn luyện lần đầu. Những NLĐ mới này sau khi đã ký hợp đồng lao động có kèm theo cam kết đã được tập huấn về an toàn. Họ được học việc trong vòng 3-5 ngày, sau đó cán bộ quản lý XN sẽ phổ biến nội quy Công ty cho NLĐ đó, họ không được tham gia lớp huấn luyện nên chưa có cái nhìn tổng quan và đúng đắn về công tác BHLĐ. Do đó khả năng ứng phó với sự cố khẩn cấp của họ không cao, hay vi phạm nội quy của công ty …
Huấn luyện định kỳ
Được tổ chức 1 năm/ 1 lần cho tất cả NLĐ đang làm việc tại các XN của Công ty.
Các buổi huấn luyện này được thực hiện riêng lẻ ở mỗi XN. Xác định thời gian tổ chức buổi huấn luyện phụ thuộc vào tiến độ sản xuất của mỗi XN nhưng vẫn đảm bảo huấn luyện 1 năm/ 1 lần. Công ty may mặc nên ít xảy ra tai nạn lao động, nếu có thì cũng tai nạn lao động nhẹ, ít thiệt hại về tài sản, không gây thiệt hại về người nên công tác này vẫn còn mang tính chất đối phó, tổ chức một cách sơ sài. Các buổi huấn luyện không
gian cho NLĐ tham gia lớp huấn luyện, và chỉ kéo dài 1h-2h để tiết kiệm thời gian làm việc của NLĐ. Cán bộ an toàn xuống các XN, Giám đốc XN cho NLĐ ngừng làm việc, tắt máy và ngồi tại chỗ làm việc nghe huấn luyện thông qua loa phát thanh chung của XN (cán bộ huấn luyện đứng trong phòng tổ chức của XN để đọc loa huấn luyện). Sau khi phổ biến xong nội dung, các tổ trưởng sản xuất sẽ phát bài kiểm tra cho NLĐ làm và ký tên, họ thường tập trung làm bài nhóm nên chất lượng buổi huấn luyện không thể phản ánh qua bài kiểm tra. Trong suốt thời gian diễn ra buổi huấn luyện, NLĐ không tập trung chú ý, chỉ ngồi lại nói chuyện với nhau. Do đó nhận thức của họ sau buổi huấn luyện về vấn đề an toàn vệ sinh lao động không được cải thiện và nâng cao.
Nội dung buổi huấn luyện chỉ mang tính lý thuyết, không sát với thực tế. NLĐ không được thực hành sơ cấp cứu cũng như hỏi đáp các thắc mắc về vấn đề AT VSLĐ do không được tiếp xúc trực tiếp với người đứng lớp huấn luyện.
Quản lý, lưu trữ hồ sơ sau các đợt huấn luyện
Sau khi huấn luyện, kiểm tra đạt yêu cầu, người được huấn luyện kí tên vào sổ theo dõi công tác huấn ATVSLĐ của đơn vị. Riêng đối với NLĐ làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ, sau khi huấn luyện đạt yêu cầu thì được cấp thẻ an toàn.
Các hồ sơ huấn luyện được lưu trữ trong thời gian 2 năm.
3.12. Công trình phụ: Nhà ăn, Nhà vệ sinh, mảng cây xanh, vệ sinh môi trường
Nhà ăn
Vì đây là nhà ăn chung của cả 3 XN: Hiệp Phước, Bình Phước, Thịnh Phước và các nhân viên làm việc hành chính, văn phòng nên nhà ăn tương đối rộng rãi (630 m2) và mỗi xí nghiệp, mỗi phòng ban được bố trí một khu vực ăn cụ thể. Có khu vực dành riêng cho người hút thuốc được bố trí bên ngoài nhà ăn. Hằng ngày đều có nhân viên thu dọn, làm vệ sinh sạch sẽ.Các bữa ăn trong DN đảm bảo các chất dinh dưỡng cần thiết.
Trong nhà ăn có nhiều quạt gió đảm bảo nhiệt độ không khí mát mẻ, hệ thống chiếu sáng chung, hệ thống đèn chiếu sáng dự phòng khi có trường hợp khẩn cấp, các bình chữa cháy, có hướng mũi tên chỉ lối thoát hiểm và các cửa thoát hiểm luôn mở.
Niêm yết “ 10 nguyên tắc VSATTP và Quy định nhà ăn” , các mẫu thức ăn được lưu đúng quy định. Các đồ dùng, dụng cụ nhà bếp có dấu phân biệt rõ ràng “ Sống- Chín”
Nhà vệ sinh
Tại mỗi XN, mỗi phòng ban, nhà ăn đều bố trí các nhà vệ sinh riêng, đảm bảo số lượng cần thiết đáp ứng cho NLĐ làm việc tại khu vực đó. Các nhà vệ sinh luôn được quét
dọn sạch sẽ, có xà phòng rửa tay, đảm bảo các tiện ích như bồn rửa tay, vòi nước, bình đựng xà phòng…
Mảng cây xanh
Xung quanh khuôn viên Công ty và phía trước các phòng ban, các xưởng đều được bao quanh bởi nhiều cây xanh và thảm cỏ tạo nên cảnh quan rất đẹp và thoáng mát cho môi trường làm việc. Trong Công ty có công viên cây xanh có diện tích khoảng 4000 m2.
Hàng ngày đều có nhân viên làm vườn chăm sóc rất chu đáo. Mảng cây xanh không chỉ làm cho cảnh quan trở nên đẹp hơn, tươi mát hơn mà còn có tác dụng ngăn bụi, ngăn tiếng ồn, làm giảm nhiệt độ môi trường rất tốt.
Vệ sinh môi trường
Nước thải
Nước thải của Công ty chủ yếu là nước thải sinh hoạt từ nhà ăn, từ vệ sinh công nhân viên, thành phần chính của nước thải này là: vi sinh vật, chất rắn lơ lửng, tải lượng chất hữu cơ, Nitơ… được xử lý cục bộ bằng bể tự hoại trước khi thoát vào hệ thống ống nước chung của khu vực và thải ra sông Sài Gòn; hàng năm được đo kiểm tra nồng độ các chất do Trung tâm môi trường nhiệt đới thực hiện.
Khí thải lò hơi
Công ty đã có biện pháp giảm lượng bụi, nồng độ các chất thải của lò hơi bằng cách cho khí thải lò hơi qua bể nước để lọc bụi và các thành phần nguy hại,các bể nước này sẽ được xử lý đạt nồng độ các chất trong nước thải trước khi cho chảy vào hệ thống thoát nước chung của Công ty. Sau đó khí thải được dẫn qua ống khói thoát ra môi trường bên ngoài.
Chất thải rắn Chất thải rắn sinh hoạt
Nguồn gốc phát sinh chủ yếu từ khu nhà ăn tập thể, khu nhà vệ sinh. Thành phần chủ yếu là các chất hữu cơ dễ phân hủy, phần còn lại là bao bì, chai lọ và giấy vụn. Công ty xử lý bằng cách thu gom vào các thùng đựng rác chuyên dụng. Sau đó, Dịch vụ thu gom rác sinh hoạt của Ủy Ban nhân dân phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức thu gom và xử lý theo hợp đồng đã ký kết với Công ty.
Chất thải công nghiệp không nguy hại
Chất thải công nghiệp không nguy hại phát sinh trong quá trình sản xuất bao gồm: vải vụn, bao bì, thùng carton, giấy…
Công ty đã có các biện pháp kiểm soát:
- Phân loại ngay tại nguồn và tập kết đúng nơi quy định
- Thu gom, vận chuyển theo định kỳ được ký kết hợp đông với công ty xử lý rác thải công nghiệp không nguy hại.
Chất thải công nghiệp nguy hại
Thành phần chất thải nguy hại của Công ty chủ yếu bao gồm: giẻ lau dính dầu nhớt,dầu máy cặn, bóng đèn huỳnh quang thải.
Lượng chất thải này phát sinh không nhiều nên Công ty đã phân loại chất thải ngay tại nguồn, có biện pháp bảo quản chất thải nguy hại cẩn thận, khu vực lưư trữ chất thải nguy hại là nơi khô ráo, sạch sẽ, có các biển báo để nhận biết. Khi khối lượng chất thải nguy hại đã tích trữ nhiều thì Công ty sẽ ký hợp đồng với đơn vị có chức năng để thu gom, vận chuyển và xử lý.