2.2. Áp dụng án lệ tại Nhật Bản – kinh nghiệm cho Việt Nam
2.2.3. Các tập bản án
Tại Nhật Bản, có hai loại tập bản án thường được trích dẫn trong phán quyết của tòa án các cấp và các công trình nghiên cứu, đó là các Tuyển tập rút gọn (Hanreishu) và Tuyển tập nguyên văn (Saibanshu). Chỉ một phần các phán quyết đƣợc xuất bản trong Tuyển tập rút gọn. Tuyển tập này đƣợc các luật gia cũng nhƣ các viên chức hoạt động trong nhánh lập pháp và hành pháp tại các địa phương và trên toàn quốc sử dụng rộng rãi139. Hầu hết các phán quyết còn lại, chứa đựng những cách giải thích pháp luật ít quan trọng hơn sẽ đƣợc xuất bản nguyên văn trong các Tuyển tập nguyên văn.
Tuyển tập rút gọn (Hanreishu) gồm các tuyển tập tiêu biểu nhƣ: Tuyển tập rút gọn các vụ việc dân sự của Tòa tối cao (Saiko Saibansho Minji Hanreishu), Tuyển tập rút gọn các vụ việc hình sự của Tòa tối cao (Saiko Saibansho Keiji Hanreishu), Tuyển tập rút gọn các vụ việc của tòa cấp cao (Koto Saibansho Hanreishu) v.v140 Đương nhiên, giá trị pháp lý của án lệ trong các Tuyển tập rút gọn khác nhau cũng sẽ khác nhau, các án lệ trong “Tuyển tập rút gọn các vụ việc của tòa cấp cao” khó ràng buộc đƣợc các thẩm phán của Tòa tối cao.
Tuyển tập rút gọn thường được xuất bản khoảng 10 đến 15 lần 1 năm, chia làm 3 loại: Tuyển tập rút gọn về dân sự, Tuyển tập rút gọn về hình sự và Tuyển tập rút gọn về hành chính. Án lệ trong Tuyển tập rút gọn đƣợc trình bày thành hai phần, phần mở đầu là vấn đề pháp lý của vụ việc, phần sau tóm tắt những lập luận của tòa án trong vụ việc.
139 Xem Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court, chú thích số 99, tr. 1637
140 Xem tại http://ja.wikipedia.org/wiki/%E5%88%A4%E4%BE%8B%E9%9B%86 (Truy cập ngày 17/4/2013)
62
Tuyển tập nguyên văn (Saibanshu) là tập bản án lưu hành nội bộ trong nhánh tư pháp. Tuyển tập nguyên văn khó tiếp cận hơn Tuyển tập rút gọn, nhất là với người nước ngoài. Một số phán quyết đáng chú ý trong Tuyển tập nguyên văn được xuất bản trong các tạp chí thương mại Hanrei Jiho and Hanrei Times với các bình luận hữu ích.
Ngoài ra, có một số tạp chí thường xuất bản các án lệ của Tòa tối cao trong một số mảng luật nhất định như lao động, thương mại, thuế và các mảng đặc biệt khác141. Về giá trị pháp lý, theo giáo sƣ Itoh, các thẩm phán đánh giá giá trị ràng buộc của các án lệ trong Tuyển tập nguyên văn thấp hơn các án lệ trong Tuyển tập rút gọn. Vì vậy, Hội đồng nhỏ thường trích dẫn các án lệ trong Tuyển tập nguyên văn khi ra phán quyết với mục đích đảm bảo cho phán quyết này không trở thành án lệ cho các vụ việc sau142.
Nhƣ vậy, án lệ tại Nhật Bản đƣợc xuất bản theo hai cách thức: Tuyển tập nguyên văn và Tuyển tập rút gọn. Tuyển tập rút gọn quan trọng và có tính ràng buộc cao hơn, nhƣng các vụ việc đƣợc liệt kê trong Tuyển tập rút gọn không đủ bao quát và chi tiết.
Vậy nên, khi xét xử một vụ việc, các án lệ trong Tuyển tập rút gọn sẽ đƣợc ƣu tiên tìm hiểu, sau đó Tuyển tập nguyên văn là lựa chọn thứ hai. Đây là cách thức hiệu quả để tìm ra án lệ phù hợp nhất và có giá trị nhất143.
Kinh nghiệm cho Việt Nam
Ở Việt Nam hiện tại vẫn chƣa có các tập bản án hay tuyển tập bản án. Các thiết chế công nhƣ tòa án, viện kiểm sát không xuất bản công khai những phán quyết, quyết định của tòa án. Các nhà xuất bản bán công hoặc tƣ nhân cũng chƣa thể tiếp cận và khai thác nguồn phán quyết, quyết định này. Tuy Tòa án nhân dân tối cao đã có động
141 Xem Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court, chú thích số 99, tr. 1637
142 Xem Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court, chú thích số 99, tr. 1637
143 Xem Ngô Kim Hoàng Nguyên, Making and applying case law in Viet Nam legal system, chú thích số 5, tr.
47
63
thái tiến bộ khi công khai các quyết định giám đốc thẩm lên cổng thông tin toaan.gov.vn và có một số trang web khác cũng góp phần thu thập các bản án144 nhƣng không phải tất cả các phán quyết, quyết định đƣợc đăng tải đại trà này đều có thể coi là “án lệ”. Chỉ những quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có lập luận và giải thích những vấn đề còn khúc mắc trong áp dụng pháp luật mới đƣợc coi là án lệ145. Có thể nói các tuyển tập đƣợc xuất bản chính thức chính là hình thức tuyển chọn, tổng kết, tích lũy các án lệ. Vậy nên việc xuất bản các tuyển tập án lệ có thể coi là điều kiện tiên quyết, vô cùng quan trọng để có thể tiếp nhận án lệ tại Việt Nam.
Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Nhật Bản, chúng ta có thể tiếp thu đƣợc một số kinh nghiệm, ví dụ nhƣ, việc xuất bản án lệ có thể thực hiện theo hai cách: một là xuất bản các tuyển tập gồm những phán quyết đƣợc tuyển chọn kỹ càng, đƣợc rút gọn và dễ dàng tiếp cận, không chỉ dành cho thẩm phán các cấp mà còn cho các luật gia và người có quan tâm. Hai là xuất bản các tập bản án bao gồm những phán quyết, quyết định ít quan trọng hơn, chủ yếu có giá trị tham khảo, lưu hành nội bộ trong nhánh tƣ pháp để nâng cao ý thức và kỹ năng của thẩm phán các tòa cấp thấp. Ngoài ra, cách trình bày một án lệ thành 2 phần trong Tuyển tập rút gọn cũng là một gợi ý hợp lý, tạo điều kiện cho người tiếp cận tuyển tập án lệ dễ dàng nắm được nội dung sơ lƣợc của án lệ.
Nhật Bản là một quốc gia theo truyền thống pháp luật thành văn, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Hoa Kỳ, một quốc gia theo truyền thống thông luật. Có
144 Ví dụ như trang web e-lawreview.com cho đăng tải các phán quyết liên quan tới lĩnh vực kinh doanh thương mại, nhƣng trang web này gần nhƣ đã đóng băng từ cuối năm 2008.
145 Xem Hoàng Kỳ, “Vấn đề cơ bản về “Phát triển án lệ” ở Việt Nam”,chú thích số 138, tr. 15
64
thể thấy được ảnh hưởng này qua hai lĩnh vực tiêu biểu là lĩnh vực bảo hiến và án lệ.
Từ khi Nhật Bản tiếp nhận án lệ cho đến nay, tuy việc áp dụng án lệ không bị ràng buộc bởi nguyên tắc stare decisis nhƣng các ràng buộc trên thực tế (de facto) vẫn đảm bảo được tính ổn định tương đối của hệ thống pháp luật Nhật Bản. Ngoài ra, vai trò chỉ đạo của Tòa tối cao và việc xuất bản các tập bản án đã tạo điều kiện để việc áp dụng án lệ trong xét xử ngày một hiệu quả hơn. Việc tìm hiểu, nghiên cứu thực tiễn áp dụng án lệ tại Nhật Bản đem lại cho Việt Nam nhiều kinh nghiệm trong việc tiếp nhận án lệ.
65
KẾT LUẬN
Án lệ đóng một vai trò nhất định trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia theo truyền thống pháp luật thành văn nhƣ Nhật Bản, Đức, Tây Ban Nha. Tại Nhật Bản, án lệ đã trở thành một nguồn bổ trợ đắc lực cho nguồn luật thành văn trong quá trình xét xử. Hiện tại Việt Nam vẫn chƣa chính thức tiếp nhận án lệ, nhƣng xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lƣợng công tác xét xử, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa một cách hiệu quả nhất146, Nghị quyết số 49 ngày 2/6/2005 về cải cách tư pháp của Bộ chính trị đã thể hiện chủ trương tiếp nhận án lệ của Đảng và Nhà nước. Khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định số 74 ngày 31/10/2012 về phê duyệt đề án “Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao”, gần nhƣ có thể chắc chắn án lệ sẽ đƣợc chính thức áp dụng trong quá trình xét xử tại Việt Nam trong một tương lai không xa.
Quá trình tiếp nhận án lệ tại Việt Nam sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn, nhất là trong giai đoạn đầu. Trước những khó khăn phát sinh từ việc tiếp nhận án lệ vào một hệ thống pháp luật thành văn, kinh nghiệm tiếp thu đƣợc khi nghiên cứu, tìm hiểu thực tiễn tiếp nhận và áp dụng án lệ tại Nhật Bản có giá trị tham khảo hết sức hữu ích. Những kinh nghiệm này giúp đảm bảo sự ổn định của hệ thống pháp luật, phát huy vai trò bổ trợ của án lệ, đồng thời giúp ích cho sự phát triển của toàn bộ hệ thống pháp luật, bao gồm cả luật thành văn.
146 Xem Hoàng Kỳ, “Vấn đề cơ bản về “Phát triển án flualệ” ở Việt Nam”,chú thích số 138, tr. 13
66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Các tài liệu tiếng Việt:
*Văn bản pháp lý
1. Hiến pháp Nhật Bản 1947
2. Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Tu chính án thứ nhất 3. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về cải cách tƣ pháp
4. Quyết định số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012 về phê duyệt đề án “Phát triển án lệ của Tòa án Nhân dân tối cao”
*Sách, luận văn, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành
1. Tuyển tập hiến pháp một số nước trên thế giới, Nxb Thống kê Hà Nội (2009)
2. Michael Bogdan, Luật so sánh, Kluwer Law & Taxation (1994)
3. Rene David, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh (2003)
4. Đỗ Thành Trung, Án lệ và vấn đề thừa nhận án lệ ở Việt Nam hiện nay, luận văn thạc sĩ, (2008)
5. Phạm Thị Duyên Thảo, Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay, luận văn tiến sĩ, (2012)
6. Hoàng Kỳ, “Vấn đề cơ bản về “Phát triển án lệ” ở Việt Nam”, Tạp chí tòa án nhân dân, số 01/2013
2/ Các tài liệu tiếng Anh:
*Văn bản pháp lý
1. Code of criminal procedure of Japan (1948) 2. Court Act of Japan (1947)
*Sách, luận văn, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành
67
1. Wilhelm Rửhl, History Of Law In Japan Since 1868, Brill (2005) 2. Hiroshi Itoh, The constitutional case law of Japan, University of
Washington Press (1978)
3. Ngô Kim Hoàng Nguyên, Making and applying case law in Viet Nam legal system, luận văn thạc sĩ (2012)
4. Mary Garvey Algero, The Sources of Law and the Value of Precedent, Lousiana Law Review, Vol.65, (2005)
5. Lynn Berat, The role of conciliation in Japanese legal, American University International Law Review, Vol.8, (1992)
6. Akiko Ejima, The enigmatic attitude of the Supreme Court of Japan toward foreign precedents, Meiji Law Journal, Vol.16 (2009)
7. Vincy Fon, Francesco Parisi, Judicial precedents in civil law systems: A dynamic analysis, Vol.26, (2006)
8. Elliott J. Hahn., An overview of Japanese legal system, Northwestern Journal of International Law & Business, Vol.5, (1983)
9. John Hanna, The Role of Precedent in Judicial Decision, Villanova Law Review, Vol.2, (1957)
10. Aizawa Hisashi, Japanese legal education in transition (Đào tạo luật tại Nhật Bản đang chuyển mình), Wisconsin International Law Journal, Vol.24, (2006)
11. Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court, Washington University Law Review, Vol.88, (2011)
12. Beer Lawrence, Constitutional Revolution in Japanese Law Society and Politics, Modern Asian Studies, Vol.16, (1982)
13. H.K Lucke, Ratio Decidendi: Adjudicative Rational and Source of Law, Bond law review, Vol.1, (1989)
14. Shigenori Matsui, Why is the Japanese court so conservative?, Washington University Law Review, Vol.88, (2011)
15. Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, Washington University Law Review, Vol. 88, (2011)
68
16. J. L. Montrose, Ratio decidendi and the House of Lords, The Modern Law Review, Vol.20, (1957)
17. G. A Ponzetto & Fernandez, Case law vs Statutute law: An evolutionary comparison, The Journal of Legal Studies, Vol.37, (2008)
18. Jun-ichi Satoh, Judicial Review in Japan: An Overview of the Case Law and an Examination of Trends in the Japanese Supreme Court's, Loyola of Los Angeles law review, Vol.41, (2008)
19. Charles P. Sherman, The debt of modern Japanese law to French law, California Law review, Vol.6, (1918)
20. Teiko Tamaki, National Report: Japan, American University Journal of Gender Social Policy and Law Vol.19 (2011)
21. Jeremy Waldron, Stare decisis and the rule of law: A layered approach, NYU School of Law, Public Law Research Paper No. 11-75 (2011) 22. E. M. Wise, The doctrine of stare decisis, Wayne law review, Vol.21,
(1975) 3/ Các trang web:
http://www.courts.go.jp
http://www.japaneselawtranslation.go.jp http://www.mext.go.jp
http://wikipedia.org
69
PHỤ LỤC
SƠ ĐỒ ĐÀO TẠO NGHỀ LUẬT CHÍNH QUY TẠI NHẬT BẢN TRƯỚC CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ HIỆN NAY
1. Trước cải cách tư pháp
Học và thực tập tại Viện đào tạo và nghiên cứu luật (2 năm) Giai đoạn
một (4 tháng)
Giai đoạn hai (16 tháng)
Giai đoạn ba (4 tháng)
Học và chuẩn bị quá trình thực tập
thực tế
Gồm 4 kỳ thực tập, mỗi kỳ 4 tháng:
Kỳ thực tập tại tòa dân sự
Kỳ thực tập tại tòa hình sự
Kỳ thực tập cùng công tố viên hướng dẫn
Kỳ thực tập cùng luật sƣ hướng dẫn
Tổng kết quá trình học và thực tập
Thi cuối khóa
Đăng ký làm luật sƣ thực hành (thủ tục
Bengoshi Meibo)
Luật sƣ thực hành
Thi đầu vào Viện đào tạo và nghiên cứu luật thuộc Tòa tối cao
(Kỳ thi Shihou-Shiken)
Bổ nhiệm làm thẩm phán phụ tá (nhiệm kỳ10 năm)
Bổ nhiệm làm thẩm phán
Hành nghề công tố viên