2.2. Áp dụng án lệ tại Nhật Bản – kinh nghiệm cho Việt Nam
2.2.2. Vai trò của Tòa tối cao
Khi án lệ đã đƣợc tiếp nhận vào hệ thống pháp luật, việc thay đổi án lệ ít nhiều sẽ có những tác động nhất định đến tính ổn định của hệ thống và trật tự pháp lý hiện
130 Xem Phạm Thị Duyên Thảo, Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay, chú thích số 123, tr. 10
57
có. Nhiều thẩm phán cho rằng việc thay đổi án lệ sẽ làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các bên trong vụ việc131. Vì vậy, án lệ không thể bị thay đổi một cách tùy tiện mà luôn cần một sự chỉ đạo nhất định. Tại các nước theo truyền thống thông luật, stare decisis là nguyên tắc chỉ đạo, đảm bảo sự ổn định của hệ thống. Nhƣng do Nhật Bản không tiếp nhận nguyên tắc stare decisis nên vai trò chỉ đạo này do Tòa tối cao đảm nhận.
Vai trò chỉ đạo của Tòa tối cao Nhật Bản đƣợc thể hiện qua các hoạt động sau:
Tạo ra án lệ mới, đặc biệt là các án lệ trong lĩnh vực bảo hiến (ví dụ nhƣ án lệ về tiêu chí mục đích-hậu quả) vì bảo hiến là chức năng Hiến pháp 1947 trao cho Tòa tối cao.
Thay đổi án lệ hoặc ủng hộ sự thay đổi của án lệ khi cần thiết (ví dụ nhƣ trong vụ việc Aizawa v. Japan).
Kiểm soát việc áp dụng án lệ của chính Tòa tối cao và các tòa án cấp dưới.
Hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật.
Những vai trò này đƣợc hiện thực hóa bằng nhiều cách nhƣ thông qua các quy chế đƣợc quy định trong luật thành văn, thông qua việc biên soạn và xuất bản các tập bản án…
Theo Điều 405 Bộ luật Tố tụng hình sự Nhật Bản, Tòa tối cao kiểm soát việc thay đổi án lệ của các tòa cấp thấp bằng cách phúc thẩm các phán quyết trái với án lệ do Tòa tối cao tuyên. Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 10 Luật tổ chức tòa án, chỉ có Hội đồng lớn có quyền thay đổi các án lệ về giải thích và áp dụng luật do Tòa tối cao đã
131 Xem Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court, chú thích số 99, tr. 1633
58
tuyên132, đây là quy chế để Tòa tối cao tự kiểm soát việc thay đổi án lệ. Tuy vậy, các quy định trong luật thành văn chỉ tạo điều kiện để Tòa tối cao kiểm soát việc thay đổi án lệ, chứ khó có thể kiểm soát đƣợc việc vận dụng án lệ sai hoặc vận dụng án lệ tùy tiện tại các tòa cấp thấp.
Vai trò hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của Tòa tối cao được thể hiện qua việc ban hành các tuyển tập án lệ. Tòa tối cao có một hội đồng chuyên tổng kết án lệ, gồm sáu thẩm phán tối cao, mỗi Hội đồng nhỏ cử 2 thẩm phán tối cao đại diện.
Trước nhất, các thẩm phán phụ tá sẽ rà soát lại những phán quyết của Tòa và tuyển chọn những bản án báo cáo lên hội đồng. Hội đồng sẽ xem xét lại những phán quyết của Hội đồng nhỏ và cả Hội đồng lớn, định rõ vấn đề pháp lý của các phán quyết và tóm tắt phán quyết theo đúng vấn đề pháp lý đó. Cuối cùng hội đồng mới đƣa ra quyết định là phán quyết nào đƣợc đƣa vào tuyển tập án lệ của Tòa tối cao. Quy trình này vô cùng tỉ mỉ, tốn rất nhiều thời gian và công sức, nhằm tránh việc thẩm phán xét xử các vụ việc sau có tình tiết tương tự giải thích và áp dụng sai án lệ hoặc áp dụng tùy tiện án lệ133.
Kinh nghiệm cho Việt Nam
132 Điều 10 Luật tổ chức Tòa án quy định:
“Tòa tối cao tự đề ra quy định về các vụ việc do Hội đồng lớn xét xử và các vụ việc do Hội đồng nhỏ xét xử với điều kiện các Hội đồng nhỏ sẽ không được phép ra phán quyết trong các trường hợp sau:
…
(iii) Vụ việc có ý kiến liên quan đến việc giải thích và áp dụng Hiến pháp hoặc các luật, pháp lệnh bất kỳ nào trái với các phán quyết trước đó do Tòa tối cao tuyên.” Xem tại
http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?ft=2&re=02&dn=1&yo=court&x=56&y=10&ky=&page=3 (truy cập ngày 9/7/2013)
133 Xem Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court, chú thích số 99, tr. 1636
59
Ngày 31/10/2012, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra Quyết định số 74/QĐ- TANDTC về phê duyệt đề án “Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao”. Đề án này có bốn điểm quan trọng: (1) Xác định thẩm quyền ban hành án lệ của Tòa án nhân dân tối cao 134; (2) xác nhận khả năng thay đổi án lệ của Tòa án nhân dân tối cao 135; (3) xác nhận vai trò giám sát của Tòa án nhân dân tối cao với tòa án cấp thấp trong việc tham khảo, viện dẫn án lệ136; (4) xác định Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn các tòa cấp thấp áp dụng thống nhất pháp luật137. Đối chiếu với các vai trò của Tòa tối cao Nhật Bản, có thể thấy đề án này đã xác định tương đối đầy đủ tầm quan trọng của Tòa án nhân dân tối cao trong quá trình tiếp nhận án lệ vào hệ thống pháp luật Việt Nam.
Tuy vậy, những quy định nêu trên mới chỉ ở dạng “đề án”. Để hiện thực hóa đề án, trước hết, vai trò của Tòa tối cao cần được đảm bảo bằng các quy định pháp luật thành văn, đặc biệt là quy định về thẩm quyền phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với các vụ việc do các Tòa cấp thấp xét xử bộc lộ mâu thuẫn với án lệ của Tòa án
134 Điều 1 Quyết định số 74/QĐ-TANDTC quy định: “… Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền ban hành án lệ.”
135 Điều 1 Quyết định số 74/QĐ-TANDTC quy định: “Áp dụng án lệ không cứng nhắc, Tòa án nhân dân tối cao có thể phản ứng linh hoạt khi có những thay đổi và phát triển của xã hội và pháp luật nhƣ thay đổi về kinh tế, văn hóa, giáo dục, tư tưởng, khoa học công nghệ, quan hệ quốc tế… dẫn đến thay đổi về pháp luật.”
136Điều 1 Quyết định số 74/QĐ-TANDTC quy định: “Tòa án nhân dân tối cao… có quyền giám sát các Tòa án cấp dưới trong việc tham khảo, viện dẫn án lệ của Tòa án nhân dân tối cao để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật trong xét xử.”
137 Điều 1 Quyết định số 74/QĐ-TANDTC quy định: “Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật:
- Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thực hiện chức năng hướng dẫn áp dụng thống nhất thông qua cách giải thích, lập luận đường lối cách thức áp dụng pháp luật trong những vụ án cụ thể;
- Toà án nhân dân tối cao ban hành các “Tuyển tập án lệ” (các án lệ của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; các Quyết định giám đốc thẩm của Toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao đƣợc Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua, trở thành án lệ và đƣa vào “Tuyển tập án lệ”);
…
60
nhân dân tối cao. Đây là cách thức đơn giản nhất để kiểm soát việc hoạt động áp dụng án lệ của các tòa cấp thấp, tuy hầu nhƣ chỉ hiệu quả với những vụ việc công khai không tuân thủ án lệ. Thứ hai, pháp luật cũng cần quy định rõ chủ thể có thẩm quyền thay đổi án lệ. Quyết định số 74/QĐ-TANDTC chỉ quy định “Án lệ có thể bị bãi bỏ bởi chính Tòa án đã thiết lập ra án lệ, việc bãi bỏ án lệ của Toà án nhân dân tối cao do chính Toà án nhân dân tối cao thực hiện.” vậy nên khó mà có thể xác định chắc chắn Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao có thể bãi bỏ án lệ của mình hay không.
Theo quy định của Nhật Bản, thẩm quyền bãi bỏ các án lệ về giải thích và áp dụng Hiến pháp và luật của Tòa tối cao thuộc về Hội đồng lớn chứ không phải Hội đồng nhỏ. Do pháp luật Việt Nam đang trong quá trình bước đầu áp dụng án lệ, theo quan điểm của tác giả, quyền bãi bỏ án lệ nên dành riêng cho Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, là nơi quy tụ các thẩm phán giàu kinh nghiệm.
Về vấn đề tuyển chọn án lệ, có thẩm phán đề nghị rằng “ Tòa án nhân dân tối cao cần tuyển chọn một bộ phận giúp việc gồm những chuyên gia giỏi… lựa chọn các bản án và quyết định để xây dựng thành án lệ.”138 Tuy vậy, đối chiếu với thực tiễn Nhật Bản, theo quan điểm của tác giả, việc thành lập một hội đồng tuyển chọn án lệ có thành viên là các thẩm phán thuộc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là cần thiết. Các án lệ trước khi công bố sẽ được hội đồng này duyệt qua. Vì các thành viên trong hội đồng này chính là các thẩm phán trực tiếp ban hành ra án lệ, thủ tục duyệt sẽ không chỉ có ý nghĩa về mặt nội dung (giảm thiểu việc các “biên tập viên”
hiểu sai nội dung phán quyết, quyết định) mà còn đảm bảo các án lệ đƣợc xuất bản phù hợp với định hướng phát triển của hệ thống pháp luật.
138 Hoàng Kỳ, “Vấn đề cơ bản về “Phát triển án lệ” ở Việt Nam”, Tạp chí tòa án nhân dân, số 01/2013, tr. 15