Các trường hợp án lệ được áp dụng

Một phần của tài liệu Tiếp nhận án lệ trong hệ thống pháp luật thành văn kinh nghiệm từ nhật bản (Trang 46 - 49)

2.2. Áp dụng án lệ tại Nhật Bản – kinh nghiệm cho Việt Nam

2.2.1. Thực tiễn áp dụng án lệ tại Nhật Bản

2.2.1.1. Các trường hợp án lệ được áp dụng

Trong phạm vi nghiên cứu tài liệu của tác giả, các án lệ đƣợc đề cập hầu nhƣ đều là án lệ của Tòa tối cao. Các án lệ này ảnh hưởng đến một hay nhiều vụ việc có tình

98 Ông là giáo sƣ Luật tại Đại học Bang New York, Plattsburgh

99 Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court (Vai trò của án lệ trong Tòa tối cao Nhật Bản), Washington University Law Review, Vol.88, (2011), tr. 1633

42

tiết tương tự hoặc gần tương tự được xét xử sau đó, có án lệ có tầm ảnh hưởng hơn 20 năm, có án lệ chỉ có ảnh hưởng trong vài năm. Đôi khi vì tuân thủ án lệ, Tòa tối cao đã bỏ qua các cách giải thích pháp luật khác với cách trong án lệ, ví dụ nhƣ cách giải thích pháp luật của các tòa cấp thấp.

Các vụ việc cùng áp dụng tiêu chí mục đích-hậu quả để đánh giá tính vi hiến của hành vi công đƣợc nêu ra trong phần 2.1.3.2 là những ví dụ tiêu biểu về tầm ảnh hưởng của án lệ do Tòa tối cao tuyên. Các tiêu chí mục đích-hậu quả trong án lệ “Lễ động thổ ở thành phố Tsu” (1977) đã đƣợc tiếp tục áp dụng trong 4 vụ việc lần lƣợt vào các năm 1988, 1993, 1997, 1999. 3 trong số 4 vụ việc sau (trừ vụ việc năm 1997) có kết quả tương tự vụ việc đầu: hành vi công không vi phạm các tiêu chí, vì vậy không vi hiến. Việc án lệ năm 1977 đƣợc vận dụng lặp đi lặp lại trong một khoảng thời gian tương đối dài (1977-1999) cho thấy xu hướng tuân theo cách giải thích luật đã được ghi nhận trong án lệ trước đó của Tòa tối cao.

Một ví dụ nữa cho việc Tòa tối cao thường tuân thủ cách giải thích luật trong án lệ trước đó là vụ Yoshioka v. Japan100. Trong vụ việc này, một đứa bé đã chết sau khi sinh do mắc phải một căn bệnh từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ, nguyên nhân bệnh là do tiếp xúc với các hóa chất độc hại. Khi xét xử vụ việc cả tòa địa phương và tòa cấp cao đều cho rằng không cần thiết phải coi bào thai sắp sinh là một “cá nhân”.

Tuy vậy, khi xác định tội trạng của các bị cáo là chủ thể gây ô nhiễm môi trường, Tòa tối cao đã bỏ qua cách lập luận của các tòa cấp thấp và áp dụng cách lập luận tương tự với một án lệ trước đó: bào thai là một phần của cơ thể người mẹ, việc vô ý gây thương tổn cho bào thai chính là gây thương tổn đến cơ thế người mẹ, một “cá nhân”;

100 Xem Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court, chú thích số 99, tr. 1643

43

tội vô ý gây thương tổn này chuyển hóa thành tội vô ý giết người khi bào thai được sinh ra, cũng là một “cá nhân”.

Tòa tối cao đôi khi vẫn áp dụng án lệ nếu tình tiết vụ việc sau có sự khác biệt không lớn với án lệ. Trong vụ việc Japan Railroad Corp. v. Ikeoka (1979), Tòa tối cao tuyên bố Hiệp hội người lao động ngành đường sắt đã xâm phạm quyền sở hữu tủ chứa đồ của các nhân viên trong ngành khi dán những tờ bướm in quy định của hiệp hội lên các tủ chứa đồ. Trong vụ việc năm 1988, bên nguyên đơn không phải là nhân viên ngành đường sắt là nhân viên của một công ty tư nhân. Trên thực tế, vai trò của tủ chứa đồ đối với các nhân viên công ty tƣ nhân không thực sự thiết yếu nhƣ đối với các nhân viên ngành đường sắt (vì sự hạn chế về không gian trên tàu), thế nên tình tiết giữa hai vụ việc dường như có phần không tương tự. Tuy vậy, Tòa tối cao vẫn quyết định tuân thủ án lệ Japan Railroad Corp. v. Ikeoka (1979) khi xét xử vụ việc sau.

Đôi khi, có những án lệ đƣợc Tòa tối cao tuân thủ trong một thời gian, sau đó bị thay đổi. Ví dụ như trong vụ việc “Nhân viên bưu chính bưu điện trung tâm Tokyo đình công trái phép” (1966), Tòa tối cao đã ra phán quyết rằng những lãnh đạo hiệp hội lao động kêu gọi đình công chỉ bị kết án hình sự khi cuộc đình công không có mục đích chính đáng, có xảy ra bạo lực và kéo dài quá mức cần thiết. Phán quyết này đã trở thành án lệ và đƣợc Tòa tối cao áp dụng khi xét xử 2 vụ việc đình công trái phép vào năm 1969101.Tuy vậy, vào năm 1973 Tòa tối cao đã không tuân thủ án lệ này khi

101 Xem Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, chú thích số 95, tr. 1677

44

xét xử vụ việc “Nhân viên lâm nghiệp và nông nghiệp nhà nước đình công trái phép”

(1973)102.

Một phần của tài liệu Tiếp nhận án lệ trong hệ thống pháp luật thành văn kinh nghiệm từ nhật bản (Trang 46 - 49)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(75 trang)