Các trường hợp án lệ không được áp dụng

Một phần của tài liệu Tiếp nhận án lệ trong hệ thống pháp luật thành văn kinh nghiệm từ nhật bản (Trang 49 - 61)

2.2. Áp dụng án lệ tại Nhật Bản – kinh nghiệm cho Việt Nam

2.2.1. Thực tiễn áp dụng án lệ tại Nhật Bản

2.2.1.2. Các trường hợp án lệ không được áp dụng

Trong các ví dụ về trường hợp án lệ không được áp dụng, bên cạnh các án lệ bị công khai thay đổi còn có các án lệ bị “ngầm” thay đổi. Kể cả khi án lệ bị công khai thay đổi, có trường hợp phán quyết không hề ghi nhận lý do vì sao án lệ cũ không còn đƣợc áp dụng. Trong các ví dụ đƣợc đề cập, chủ thể thay đổi án lệ đều là Tòa tối cao, tuy nhiên trên thực tế các tòa cấp thấp cũng có nhiều khi không tuân thủ án lệ.

Án lệ bị thay đổi

Trường hợp Tòa tối cao không tuân thủ án lệ “Nhân viên bưu chính bưu điện trung tâm Tokyo đình công trái phép” (1966) khi xét xử vụ việc “Nhân viên lâm nghiệp và nông nghiệp nhà nước đình công trái phép” (1973) vừa nêu ở cuối phần 2.2.1.1 là một ví dụ cho việc án lệ bị thay đổi. Không giữ thái độ ôn hòa với hoạt động đình công trái phép nhƣ trong án lệ năm 1966, Tòa tối cao khi xét xử vụ việc năm 1973 tuyên rằng việc các nhân viên công sự đình công mâu thuẫn với tính chất “công sự” của công việc và có thể gây ảnh hưởng lớn đến xã hội vì làm gián đoạn các dịch vụ công. Vì vậy dù cuộc đình công có mục đích chính đáng, không xảy ra bạo lực và không kéo dài quá mức cần thiết, Tòa tối cao vẫn không giảm thiểu án hình sự cho các lãnh đạo hiệp hội lao động kêu gọi đình công trái phép, cũng tức là không tuân thủ án

102Xem Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, chú thích số 95, tr. 1678

45

lệ năm 1966, việc thay đổi án lệ này đã gây tranh cãi trong Hội đồng lớn và trong dƣ luận103.

Đôi khi, Tòa tối cao thay đổi án lệ của mình mà không trình bày lý do vì sao án lệ cũ không còn phù hợp, ví dụ nhƣ khi Tòa tối cao thay đổi án lệ trong vụ việc “Sung công tài sản của bên thứ ba” (1962)104. Trong vụ việc này, bị đơn cho rằng việc nhà nước sung công tài sản thuộc quyền sở hữu của bên thứ ba do bị đơn chiếm hữu mà không nghe ý kiến của bên thứ ba là một hành vi vi hiến. Trong một án lệ trước đó không lâu (1960), Tòa tối cao từng tuyên rằng bị đơn không đƣợc phép viện dẫn tới việc xâm phạm quyền của bên thứ ba để quy kết hành vi công là vi hiến. Tuy vậy, trong vụ việc này, Tòa tối cao đã không tuân thủ án lệ cũ và cũng không trình bày lý do vì sao án lệ cũ không còn phù hợp. Tòa chỉ đƣa ra lập luận mới rằng lệnh sung công tài sản bị đơn đã tước của bị đơn quyền chiếm giữ món đồ và bị đơn có thể bị bên thứ ba yêu cầu bồi thường thiệt hại, do vậy bị đơn có quyền không thừa nhận lệnh sung công.

Một vụ việc thay đổi án lệ khác khá nổi tiếng và tương đối nhạy cảm là vụ Aizawa v. Japan (1973)105, bị cáo trong vụ án này đã phạm tội giết cha ruột của mình.

Bộ luật Hình sự có quy định tội giết người thân có khung hình phạt cao hơn tội giết người bình thường, từ tù chung thân cho đến tử hình. Mọi tình tiết giảm nhẹ đều không thể giảm án xuống dưới ba năm tù giam. Trong một án lệ trước đó (1950), Tòa

103 Xem Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, chú thích số 95, tr. 1679

104 Xem Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, chú thích số 95, tr. 1673

105 Xem Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, chú thích số 95, tr. 1674

46

tối cao đã tuyên án theo đúng quy định này của Bộ luật Hình sự. Tuy vậy trong vụ việc Aizawa v. Japan, đa số thẩm phán của Tòa tối cao đều cho rằng việc các tình tiết giảm nhẹ hết sức tiêu biểu của vụ việc không thể giảm tội xuống thành tù treo hoặc thấp hơn chỉ vì sự phân biệt giữa “giết người thân” và “giết người” là vô lý. Vậy nên Tòa tối cao đã tuyên quy định trên của Bộ luật Hình sự là vi hiến và không áp dụng quy định này như án lệ trước đây, cũng có nghĩa Tòa tối cao đã công khai thay đổi án lệ của mình. Việc thay đổi án lệ đƣợc Tòa tối cao giải thích bằng nhiều lý do, trong đó lý do đáng chú ý nhất là “khi xem xét lại án lệ cũ, Tòa tối cao đánh giá án lệ đó có phần ngặt nghèo”.

Án lệ bị “ngầm” thay đổi

Trong một số vụ việc, Tòa tối cao không công khai thay đổi án lệ, nhƣng đã ra những phán quyết không thống nhất với án lệ trước đó của mình. Ví dụ như trong hai vụ việc về quy định trình diễn tại nơi công cộng “Sắc lệnh trị an Tokyo” (1960) và

“Sắc lệnh trị an tỉnh Niigata” (1954)106. Trong vụ việc năm 1954 tại Niigata, Tòa tối cao cho rằng các buổi biểu diễn tại nơi công cộng cần thông báo trước nhưng không cần xin phép, chính quyền có quyền cấm biểu diễn nếu buổi biểu diễn có nguy cơ đe dọa đến an ninh công cộng. Trong vụ việc năm 1960 tại Tokyo, Tòa tối cao lại lập luận rằng việc xin phép trước không khác biệt nhiều với việc thông báo và việc yêu cầu buổi biểu diễn phải xin phép hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp. Phán quyết năm 1960 không hề đề cập đến án lệ năm 1954 dù hai vụ việc tương đối gần nhau, vậy nên có thể nói Tòa tối cao đã âm thầm thay đổi án lệ của mình.

106 Xem Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, chú thích số 95, tr. 1675

47

Trong một số vụ việc, Tòa tối cao có đề cập đến án lệ cũ nhƣng lại giải thích án lệ này theo cách khác, ví dụ nhƣ việc Tòa tối cao mở rộng căn cứ yêu cầu chính quyền bồi thường trong vụ việc “Cử tri ngoài nước” (2005)107. Trong án lệ “Bầu cử tại nhà”

(1985), Tòa tối cao thừa nhận quyền yêu cầu chính quyền bồi thường thiệt hại nếu một văn bản luật do Nghị viện ban hành bị phát hiện là vi hiến. Tuy vậy thiệt hại chỉ đƣợc bồi thường trong một trường hợp duy nhất, đó là Nghị viện vi phạm những quy định rõ ràng của Hiến pháp. Trong vụ việc “Cử tri ngoài nước”, Tòa tối cao đã nêu ra hai căn cứ bồi thường: (1) Khi hành vi của Nghị viện bộc lộ sự vi phạm các quyền được quy định trong Hiến pháp; (2) khi trong một thời gian dài Nghị viện không thể đƣa ra các quy chế pháp lý phù hợp và cần thiết để bảo đảm các quyền quy định trong Hiến pháp đƣợc tôn trọng trên thực tế. Sau đó, Tòa tối cao có viện dẫn đến án lệ “Bầu cử tại nhà” (1985) nhƣng cho rằng phán quyết của tòa không khác với án lệ này. Vậy là Tòa tối cao đã giải thích án lệ cũ theo cách mới, hay nói đúng hơn đã “ngầm” thay đổi án lệ, mở rộng căn cứ yêu cầu chính quyền bồi thường thiệt hại.

2.2.1.3. Lý giải thực tiễn

Sự thiếu vắng nguyên tắc stare decisis

Tại Nhật Bản, các phán quyết, quyết định của tòa án, kể cả của Tòa tối cao, không đƣợc xem là luật. Các tòa cấp thấp không bắt buộc phải tuân theo án lệ của Tòa tối cao, đồng thời Tòa tối cao cũng không bắt buộc phải tuân thủ án lệ của mình.

Thẩm phán khi xét xử chỉ phải quan tâm đến quy định của Hiến pháp, luật và lương

107 Xem Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, chú thích số 95, tr. 1676

48

tâm mình, theo đúng quy định tại Điều 76 Hiến pháp 1947108. Ngoài ba ràng buộc nêu trên, theo lý thuyết, thẩm phán đƣợc bảo đảm tính độc lập khi ra phán quyết. Các án lệ đƣợc viện dẫn (nếu có) chỉ đóng vai trò làm tăng tính thuyết phục cho phán quyết. Có thế nói, nguyên tắc stare decisis không tồn tại tại Nhật Bản.

Việc các tòa án không bắt buộc phải tuân thủ án lệ có thể thấy qua các ví dụ về án lệ đƣợc công khai thay đổi đã nêu. Trên thực tế, theo giáo sƣ Itoh “nếu án lệ của Tòa tối cao gặp phải sự phản đối kiên trì thì đôi khi nó sẽ đƣợc thay đổi. Một ví dụ nổi tiếng là các phán quyết của các tòa địa phương liên tục tuyên trái với án lệ của Tòa tối cao đã làm Tòa tối cao thay đổi ý kiến về tình tiết “giết người thân”. Những ý kiến nằm trong phần ý kiến thiểu số nhƣng đƣợc lặp đi lặp lại đôi khi cũng làm thay đổi án lệ của Hội đồng lớn.”109 Hệ quả là việc thay đổi án lệ tại Nhật Bản dường như có phần dễ dàng hơn tại các quốc gia theo truyền thống thông luật, nơi các thẩm phán luôn cố gắng biện giải là mọi phán quyết, dù là phán quyết thay đổi án lệ, “đều đƣợc rút ra từ các nguyên tắc đã có sẵn và trích dẫn các phán quyết trước đó để chứng minh”110. Đây là sự khác biệt giữa thực tiễn áp dụng án lệ tại Nhật Bản và tại các quốc gia theo truyền thống thông luật. Ở một mức độ nào đó, có thể nói việc áp dụng án lệ tại Nhật Bản ít cứng nhắc hơn tại các quốc gia theo truyền thống thông luật.

Tuy vậy, việc thiếu vắng nguyên tắc stare decisis cũng gây ra một số bất cập.

Thứ nhất, các thẩm phán thường ít lưu tâm đến việc phân biệt hai phần ratio decidendi và obiter dictum vì toàn bộ bản án lệ không có tính ràng buộc mà chỉ có hiệu lực tham

108 Điều 76 Hiến pháp 1947 quy định: “… Các thẩm phán xét xử một cách độc lập, theo lương tâm, Hiến pháp và luật pháp.” xem Tuyển tập hiến pháp một số nước trên thế giới, chú thích 67, tr. 131

109Xem Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court, chú thích số 99, tr. 1641

110 Xem Michael Bogdan, Luật so sánh, chú thích số 2, tr. 89

49

khảo. Thứ hai, các thẩm phán thường tuân thủ các án lệ đã tồn tại mà không tìm hiểu tường tận các tình tiết của án lệ đó. Ví dụ như trong vụ “Sắc lệnh thanh thiếu niên tỉnh Gifu” (1989), theo phân tích của giáo sƣ Matsui thì cả ba án lệ đƣợc trích dẫn trong phán quyết đều không liên quan đến tình tiết chính của vụ việc là việc cấm các văn hóa phẩm có hại cho thiếu niên111. Có thể coi đây là một sự ỷ lại vào án lệ, nhất là khi án lệ đó do Tòa tối cao tuyên, hậu quả là các án lệ có những hiệu lực ngoài dự đoán của thẩm phán ra phán quyết. Thứ ba, các án lệ được vận dụng (nếu có) thường không đƣợc nêu chi tiết, thẩm phán có thể chỉ viết ngắn gọn “những giải thích và lập luận pháp lý này đƣợc rút ra từ những án lệ đã tồn tại của Tòa”112. Điều này gây khó khăn cho việc theo dõi mối quan hệ giữa vụ việc đang xét xử và phán quyết trước đó. Thứ , có trường hợp thẩm phán ra một phán quyết mới không tuân thủ án lệ cũ mà không đƣa ra lời giải thích nào về lý do thay đổi án lệ (nhƣ trong vụ việc “Sung công tài sản của bên thứ ba”), hoặc hoàn toàn không đề cập đến án lệ đã có (nhƣ trong vụ việc

“Sắc lệnh trị an Tokyo”). Tại các quốc gia theo truyền thống thông luật, việc phân tích các tình tiết tương tự hoặc giải thích thích đáng các khác biệt về tình tiết khi từ chối áp dụng một án lệ là yêu cầu bắt buộc. Quy chế này không chỉ nhằm đảm bảo tính ràng buộc của án lệ, mà còn để bảo đảm tính ổn định của hệ thống. Việc vận dụng án lệ tùy tiện hoặc từ chối vận dụng án lệ một cách vô căn cứ chẳng những khiến phán quyết sai sót mà còn làm mất giá trị của án lệ, vì không ai có thể dự đoán trước được kết quả của phán quyết sẽ tuyên.

111 Xem Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, chú thích số 95, tr. 1671

112 Xem Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court, chú thích số 99, tr. 1634

50

Các bất cập nêu trên thường phát sinh từ việc các thẩm phán thiếu kỹ năng hoặc thiếu ý thức trong khi vận dụng án lệ. Để phần nào khắc phục các bất cập này, từ năm 2001 tới nay, quy trình đào tạo nghề luật chính quy tại Nhật Bản đã có nhiều thay đổi (Xem phụ lục Sơ đồ đào tạo nghề luật chính quy tại Nhật Bản). Một trong những thay đổi lớn đó là để tham dự kì thi đầu vào Viện đào tạo và nghiên cứu luật thuộc Tòa tối cao (con đường duy nhất để trở thành thẩm phán, trừ trường hợp đặc biệt là các thẩm phán của Tòa tối cao và thẩm phán tại các tòa chuyên xử các vụ việc dân sự đơn giản), các thí sinh cần hoàn thành chương trình đào tạo luật sau đại học. Đây là một chương trình đào tạo mới với mục tiêu trở thành “chiếc cầu nối giữa pháp luật trong nhà trường và pháp luật trong thực tiễn”, với cách giảng dạy “kiểu Mỹ”, chú trọng phát triển các kỹ năng nhƣ kỹ năng phân tích, kỹ năng nhận định, kỹ năng lập luận…113 Các ràng buộc thực tế (de facto)

Tuy nguyên tắc stare decisis không tồn tại nhƣng trên thực tế, Tòa tối cao vẫn thường hủy hoặc sửa những phán quyết của các tòa cấp thấp trái với án lệ của mình (ví dụ nhƣ trong vụ việc Yoshioka v. Japan). Bên cạnh đó, Tòa tối cao cũng rất hạn chế thay đổi án lệ của mình. Án lệ của tòa cấp thấp trích dẫn những phán quyết ngắn gọn của Tòa tối cao và lập luận thành một phán quyết hoàn chỉnh cũng có thể có giá trị ràng buộc những vụ việc tương tự trong tương lai114. Theo giáo sư Itoh, các thẩm phán tối cao có xu hướng bị ràng buộc vào án lệ đến mức dù khi nghị án họ vẫn phát biểu quan điểm nghi ngờ án lệ, họ sẽ không phản đối việc tuân thủ án lệ và dự định sẽ bàn đến vấn đề đó trong một vụ việc thích hợp hơn. Nếu nguồn luật thành văn không

113 Aizawa Hisashi, Japanese legal education in transition (Đào tạo luật tại Nhật Bản đang chuyển mình), Wisconsin International Law Journal, Vol.24, (2006)

114 Xem Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court, chú thích số 99, tr. 1644

51

có gì thay đổi, các thẩm phán sẽ tuân thủ án lệ đã có cho tới khi Hội đồng lớn phủ nhận hoặc thay đổi án lệ đó115. Có thể thấy việc Tòa tối cao tuân thủ án lệ không phù hợp lắm này qua trường hợp án lệ Japan Railroad Corp. v. Ikeoka đã trình bày. Ngoài ra, trong các trường hợp án lệ được thay đổi, số lượng đáng kể của các án lệ được

“ngầm” thay đổi cũng chứng minh sự ràng buộc thực tế này. Ví dụ tiêu biểu nhƣ trong vụ việc “Cử tri ngoài nước” (2005), dù Tòa tối cao đã giải thích pháp luật theo cách mới nhƣng vẫn cố gắng nhấn mạnh rằng cách giải thích này không trái với án lệ cũ.

Về nguyên nhân của sự ràng buộc thực tế, trong các nghiên cứu về án lệ tại các quốc gia theo truyền thống dân luật, có một số nghiên cứu đƣa ra nhận định về tính ràng buộc của một chuỗi án lệ đƣợc lặp đi lặp lại (jurisprudence constante). Có thể nói, các án lệ trong quá khứ càng thống nhất thì tính ràng buộc của án lệ càng cao116. Đây là tính ràng buộc tự nhiên của án lệ mà chuỗi vụ việc áp dụng tiêu chí mục đích- hậu quả là một ví dụ tiêu biểu. Tính ràng buộc tự nhiên này chỉ hình thành khi số lƣợng án lệ là số nhiều (từ 2 trở lên), vậy nên nó không thể là nguyên nhân duy nhất.

Qua các ví dụ đã đề cập tại phần án lệ đƣợc công khai thay đổi, có thể thấy rằng việc thay đổi phải dựa trên những lập luận thuyết phục, dù có nhắc tới án lệ trước đó hay không. Theo giáo sƣ Matsui thì Tòa tối cao phải “giải thích một cách thuyết phục vì sao nó thay đổi án lệ. Nếu không, tòa tối cao sẽ chịu sự chỉ trích lớn từ các học giả và người chống đối.”117 Trên thực tế, có trường hợp Tòa tối cao đã trình bày nhiều lý do làm căn cứ cho việc thay đổi án lệ nhƣng vẫn không thuyết phục đƣợc một số thẩm

115 Xem Hiroshi Itoh, The Role of Precedent at Japan’s Supreme Court, chú thích số 99, tr. 1640

116 Vincy Fon, Francesco Parisi, Judicial precedents in civil law systems: A dynamic analysis (Án lệ trong các hệ thống dân luật: một phân tích “động”), Vol.26, (2006), tr. 522

117Xem Shigenori Matsui, Constitutional Precedents in Japan: A Comment on the Role of Precedent, chú thích số 95, tr. 1680

Một phần của tài liệu Tiếp nhận án lệ trong hệ thống pháp luật thành văn kinh nghiệm từ nhật bản (Trang 49 - 61)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(75 trang)