ASEAN ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ổn định và phát triển khu vực châu Á- Thái Bình Dương và trên thế giới. Vai trò của ASEAN thể hiện:
Đóng góp cho nền hoà bình bền vững trong khu vực và thế giới: ASEAN là nhân tố quan trọng bảo đảm hoà bình và ổn định ở khu vực. Trước hết, sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa các nước thành viên ASEAN ngày càng gia tăng thông qua nhiều hoạt động đa dạng, trong đó có việc duy trì tiếp xúc thường xuyên ở các cấp, nhất là giữa các vị Lãnh đạo Cấp cao. ASEAN chủ động đề xướng và tích cực phát huy tác dụng của nhiều cơ chế bảo đảm hoà bình và an ninh khu vực như:
Tuyên bố Đông Nam Á là Khu vực Hoà Bình, Tự do và Trung Lập (ZOPFAN) năm 1971;; Tuyên bố của các bên liên quan về cách ứng xử ở Biển Đông (DOC) năm 2002, là bước quan trọng tiến tới Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) nhằm duy trì hòa bình và ổn định trên Biển đông…
ASEAN có vai trò to lớn trong giải quyết tranh chấp Biển đông, ổn định tình hình chính trị khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, giảm căng thẳng và đối đầu giữa các lớn như Trung Quốc và Mỹ. Sự kiện gần đây khi xảy ra tranh chấp trên biển Hoa Đông và Biển Đông, ASEAN đã thể hiện rõ lập trường và cách thức giải quyết xung đột theo những thoả thuận mà ASEAN và Trung Quốc đã cam kết.
Thúc đẩy tăng trưởng và bền vững kinh tế khu vực và thế giới: Hợp tác vì mục tiêu phát triển kinh tế bền vững là một trong những định hướng ưu tiên của ASEAN. Đến nay, ASEAN đã cơ bản hoàn tất các cam kết về hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (gọi tắt là AFTA)
Tiếp đó, ASEAN đã xác định 12 lĩnh vực ưu tiên hội nhập sớm để đẩy mạnh hơn nữa thương mại nội khối
Việc thực hiện các thoả thuận về Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) đạt những tiến triển quan trọng. Hợp tác ASEAN cũng được đẩy mạnh và mở rộng trong nhiều lĩnh vực kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, giao thông vận tải, hải quan, thông tin viễn thông, tiêu chuẩn đo lường chất lượng…Đồng thời, ASEAN cũng tích cực tăng cường hợp tác kinh tế- thương mại với các đối tác bên ngoài, nhất là việc thiết lập các khu vực mậu dịch tự do (FTA) với hầu hết các nước đối thoại của ASEAN, như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ốt-xtrâylia và Niu Di Lân…
ASEAN cũng coi trọng đẩy mạnh thực hiện mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN, nhất là thông qua việc triển khai Sáng kiến liên kết ASEAN (IAI) về hỗ trợ các nước thành viên mới (Campuchia, Lào, Mianma và Việt nam) hội nhập khu vực.
Sự phát triển nhanh chóng và năng động của ASEAN trong 2 thập niên gần đây có những đóng góp thiết thực vào ổn định và tăng trưởng kinh tế thế giới. Hiện nay, ASEAN là đối tác kinh tế quan trọng của hầu hết các quốc gia và khối kinh tế trên thế giới.
Hợp tác về sự gắn kết cộng đồng và lợi ích cho người dân: Hợp tác trong lĩnh vực văn hoá- xã hội ngày càng được mở rộng với rất nhiều chương trình/dự án khác nhau trên các lĩnh vực văn hoá, giáo dục- đào tạo, khoa học- công nghệ, môi trường, y tế, phòng chống ma tuý, buôn bán phụ nữ và trẻ em, HIV/AIDS, bệnh dịch…Các hoạt động hợp tác này đã hỗ trợ cho các nước thành viên nâng cao khả năng giải quyết các vấn đề liên quan, đồng thời giúp tạp dựng thói quen hợp tác khu vực, nâng cao nhận thức và ý thức cộng đồng ASEAN. ASEAN đang phấn đấu xây dựng một cộng đồng các dân tộc hài hoà đoàn kết, sống đùm bọc và chia sẻ. Đảm bảo sự “thống nhất trong đa dạng”
trở thành một đặc thù riêng có của ASEAN, một bản sắc khu vực mà các nước ASEAN luôn trân trọng giữ gìn.
Mở rộng quan hệ đối ngoại: Quan hệ đối ngoại của ASEAN phát triển mạnh, thông qua đó ASEAN đã tranh thủ được sự hợp tác và hỗ trợ thiết thực từ các đối tác bên ngoài, phục vụ mục tiêu an ninh và phát triển của Hiệp hội, đồng thời góp phần quan trọng thúc đẩy và kết nối các mối liên kết khu vực với nhiều tầng nấc khác nhau ở Châu Á- Thái Bình Dương.
ASEAN đã tạo dựng được quan hệ hợp tác nhiều mặt với nhiều đối tác quan trọng trên thế giới thông qua khuôn khổ ASEAN+1 với 12 đối tác quan trọng bên ngoài, đồng thời khởi xướng thành công và giữ vai trò chủ đạo trong một số khuôn khổ hợp tác khu vực ở Châu Á- Thái Bình Dương như ASEAN+3, Cấp cao Đông Á (EAS) và Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF). Ngoài ra,
ASEAN còn là nhân tố quan trọng của các khuôn khổ hợp tác khu vực và liên khu vực khác như Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị Á-Âu (ASEM) và Diễn đàn Hợp tác Đông Á- Mỹ La Tinh (FEALAC).
Nguyên tắc hoạt động cuẢ ASEAN
2.1. Các nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ giữa các Quốc gia thành viên và với bên ngoài:
Trong quan hệ với nhau, các nước ASEAN luôn tuân theo 5 nguyên tắc chính đã được nêu trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam á (Hiệp ước Ba-li), kí tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứI tại Ba-li năm 1976, là:
a) Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các dân tộc;
b) Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình, không có sự can thiệp, lật đổ hoặc cưỡng ép của bên ngoài;
c) Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
d) Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, thân thiện;
e) Không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực;
f) Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả;
2.2. Các nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội:
a/ Việc quyết định các chính sách hợp tác quan trọng cũng như trong các lĩnh vực quan trọng của ASEAN dựa trên nguyên tắc nhất trí (consensus), tức là một quyết định chỉ được coi là của ASEAN khi được tất cả các nước thành viên nhất trí thông qua. Nguyên tắc này đòi hỏi phải có quá trình đàm phán lâu dài, nhưng bảo đảm được việc tính đến lợi ích quốc gia của tất cả các nước thành viên. Đây là một nguyên tắc bao trùm trong các cuộc họp và hoạt động của ASEAN.
b/ Một nguyên tắc quan trọng khác chi phối hoạt động của ASEAN là nguyên tắc bình đẳng. Nguyên tắc này thể hiện trên 2 mặt. Thứ nhất, các nước ASEAN, không kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều bình đẳng với nhau trong nghĩa vụ đóng góp cũng như chia xẻ quyền lợi. Thứ hai, hoạt động của tổ chức ASEAN được duy trì trên cơ sở luân phiên, tức là các chức chủ toạ các cuộc họp của ASEAN từ cấp chuyên viên đến cấp cao, cũng như địa điểm cho các cuộc họp đó được phân đều cho các nước thành viên trên cơ sở luân phiên theo vần A,B,C của tiếng Anh.
c/ Để tạo thuận lợi và đẩy nhanh các chương trình hợp tác kinh tế ASEAN , trong Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ký tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 4 ở Xin-ga-po tháng 2/1992, các nước ASEAN đã thoả thuận nguyên tắc 6-X, theo đó hai hay một số nước thành viên ASEAN có thể xúc tiến thực hiện trước các dự án ASEAN nếu các nưóc còn lại chưa sẵn sàng tham gia, không cần phải đợi tất cả mới cùng thực hiện.
1.2. Các nguyên tắc khác:
Trong quan hệ giữa các nước ASEAN đang dần dần hình thành một số các nguyên tắc, tuy không thành văn, không chính thức song mọi người đều hiểu và tôn trọng áp dụng như: nguyên tắc có đi có lại, không đối đầu, thân thiện, không tuyên truyền tố cáo nhau quan báo chí, giữ gìn đoàn kết ASEAN và giữ bản sắc chung của Hiệp hội.
112. Những biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế.
Căn cứ vào bản chất, thẩm quyền và thủ tục giải quyết tranh chấp, các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế quy định tại Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc có thể được chia thanh hai nhóm cơ bản sau đây:
Nhóm 1: Các biện pháp giải quyết tranh chấp mang tính ngoại giao, gồm các biện pháp đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, giải quyết trước các tổ chức quốc tế bằng các hiệp định khu vực, với đặc điểm cơ bản là giải quyết tranh chấp bằng đối thoại, thương lượng thông qua các diễn đàn, Hội nghị quốc tế do các bên tranh chấp hoặc bên thứ ba tổ chức (có thể là các tổ chức quốc tế liên chính phủ như ASEAN, Liên minh châu Âu- EU, Liên minh châu Phi-AU hoặc các quốc gia khác…) kết quả giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp ngoại giao thường là các nghị quyết, khuyến cáo của các tổ chức quốc tế hoặc các cam kết và các điều ước quốc tế được các bên tranh chấp ký kết
VD: Trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam luôn thể hiện lập trường thông qua thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 19/10/1993 tại Hà Nội, với những nguyên tắc cơ bản sau:
a) Thông qua thương lượng giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước trên cơ sở năm nguyên tắc: tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; không xâm phạm lẫn nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng cùng có lợi và cùng tồn tại hòa bình.
b) Hai bên căn cứ vào tiêu chuẩn và nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận và tham khảo thực tiễn quốc tế để giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ.
c) Hai bên đồng ý đẩy nhanh tiến trình đàm phán, sớm giải quyết những vấn đề biên giới, lãnh thổ bao gồm trên biển và trên bộ… trong quá trình đàm phán giải quyết vần đề, hai bên đều không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm tranh chấp, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực
d) Với tinh thần đó, đến nay Việt Nam và Trung Quốc đã giải quyết xong vấn đề lãnh thổ, biên giới trên đất liền bằng Hiệp ước biên giới trên đất liền ngày 30/12/1999 và phân định vịnh Bắc Bộ bằng Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và hợp tác nghề cá ngày26/12/200
Nhóm 2: Các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng tài phán (Tòa án công lý quốc tế và Trọng tài quốc tế) với đặc điểm cơ bản là giải quyết tranh chấp theo trình tự, thủ tục tố tụng tư pháp thông qua hoạt động xét xử với kết quả giải quyết tranh chấp là các phán quyết của Toàn án quốc tế hoặc Trọng tài quốc tế có giá trị chung thẩm, bắt buộc các bên liên quan phải tuân thủ và thực hiện.
VD: để giải quyết các tranh chấp trên biển Đông giữa TQ và Philipin, chính quyền PHilipin đã đâm đơn kiện lên tòa án quốc tế về vấn đề TQ đưa ra khái niệm về Đường lưỡi bò trên Biển Đông.
113. Trình bày nội dung các biện pháp hào bình giải quyết các tranh chấp quốc tế theo quy định của Luật quốc tế.
1.Đàm phán: là diễn đàn ngoại giao do các bên tranh chấp hoặc bên thứ ba tổ chức để các bên tranh chấp tiến hành thương lượng, thỏa thuận tìm kiếm giải pháp giải quyết hòa bình các tranh chấp có liên quan. Đàm phán có thể được tiến hành theo mô hình đàm phán song phương hoặc đàm phán đa phương, có thể trực tiếp hoặc thông qua việc trao đổi công hàm. Đàm phán thường kết thúc bằng việc các bên tranh chấp sẽ ký kết một trong các loại văn kiện quốc tế như Bản ghi nhớ (aide mémoire), Nghị quyết (révolution, décision); Hiệp ước, Hiệp định (traité, accord)... Có thể khẳng định rằng, đàm phán là một biện pháp hòa bình nhằm giải quyết tranh chấp quốc tế được áp dụng từ lâu đời, phổ biến, hiệu quả và linh hoạt nhất. Bởi lẽ, đàm phán tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi nhất để các bên tranh chấp trực tiếp bày tỏ quan điểm, lập trường, yêu sách của mình về vấn đề tranh chấp và cùng nhau thương lượng, nhượng bộ giải quyết. Mặt khác, giải quyết tranh chấp bằng đàm phán trực tiếp sẽ hạn chế được sự can thiệp từ bên ngoài, có khả năng làm phức tạp thêm vụ việc tranh chấp. Thực tiễn cho thấy, đàm phán có thể được áp dụng là biện pháp khởi đầu và cũng có thể là biện pháp sau cùng để các bên giải quyết tranh chấp khi các bên đã giải quyết bằng các biện pháp khác.
2. biện pháp môi giới.
Môi giới là biện pháp hòa bình nhằm giải quyết tranh chấp quốc tế không được đề cập cụ thể trong Điều 33 Hiến chương Liên Hiệp quốc, nhưng biện pháp này được áp dụng rất nhiều trên thực tế.
Theo đó, các cá nhân có uy tín lớn như nguyên thủ, cựu nguyên thủ quốc gia, Tổng thư ký, nguyên Tổng thư ký Liên Hiệp quốc hoặc những người đứng đầu các tổ chức quốc liên chính phủ khác tự
nguyện hoặc được các bên tranh chấp đề nghị đứng ra thuyết phục các bên tranh chấp gặp gỡ, tiếp xúc để giải quyết tranh chấp.Ví dụ, năm 1966 Liên Xô đã làm môi giới, tạo điều kiện cho Ấn Độ và Pa-kít-stan gặp nhau đàm phán ở Tát-xken nhằm giải quyết xung đột giữa hai nước[9]; hoặc tháng 8/2008, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã tự nguyện đứng ra làm môi giới đồng thời làm trung gian hòa giải để chấm dứt cuộc chiến tranh giữa Nga và Uk-rai-na.
Mặc dù những nhà môi giới không trực tiếp tham gia vào tiến trình đàm phán giải quyết tranh chấp, họ có vai trò rất quan trọng, là cầu nối để dàn xếp, lôi kéo, thuyết phục các bên tranh chấp ngồi vào bàn đàm phán. Vai trò của bên môi giới sẽ kết thúc khi các bên tranh chấp đã gặp nhau để giải quyết tranh chấp nếu họ không tham gia vào tiến trình giải quyết tranh chấp với vai trò mới là vai trò trung gian.
3.trung gian hòa giải.
rung gian hòa giải là một trong những biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, trong đó có sự tham gia của bên thứ ba nhằm giúp các bên tranh chấp giải quyết có hiệu quả các tranh chấp giữa họ với nhau. Bên trung gian hòa giải có thể là đại diện các quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc cá nhân có uy tín lớn trên trường quốc tế. Họ có thể tham gia tự nguyện hoặc được một trong các bên tranh chấp đề nghị.
Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, nhiều vụ tranh chấp đã được giải quyết nhờ đóng góp rất lớn của bên trung gian hòa giải. Điển hình là vai trò của nhóm “Bộ tứ” (Liên Hiệp quốc, Liên minh châu Âu, Cộng hòa Liên bang Nga và Mỹ) trong việc bảo trợ cho tiến trình hòa bình Trung Đông; hoặc của Ma-li và Ê-thi-ô-pi những năm 1963 – 1964 trong vai trò trung gian hòa giải, đồng thời là quan sát viên giám sát việc ngừng bắn nhằm giải quyết tranh chấp lãnh thổ biên giới giữa các nước láng giềng là An-giê-ri với Ma-rốc]; hoặc của ông U Than người My-an-ma, vốn là Tổng thư ký Liên Hiệp quốc thời bấy giờ, trong việc giải quyết khủng khoảng vùng vịnh Ca-ri-bê năm 1962 giữa Mỹ và Liên Xô
Về bản chất, bên trung gian hòa giải thực chất là bên đứng ra hòa giải, chính vì vậy họ không có thẩm quyết định các biện pháp giải quyết tranh chấp. Mặt khác, những giải pháp do bên trung gian hòa giải đưa ra chỉ có giá trị tham khảo, không mang tính bắt buộc vì bên trung gian không phải là cơ quan tài phán quốc tế.
chủ nhà tạo điều kiện cho các bên liên quan trong cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam Việt Nam gồm Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Việt Nam Cộng hòa và Mỹ đàm phán nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam (Hội Nghị Pa- ri 27/1/1973).
Bên trung gian có thể đóng vai trò chủ tọa các trong các cuộc đàm phán, đưa ra giải pháp giúp các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp. Thế nhưng, dù với tư cách nào, bên trung gian cũng phải tuân thủ vai trò trung gian của mình không, thiên vị cho bất cứ bên nào trong vụ tranh chấp, không đựợc lợi dụng để can thiệp vào vụ tranh chấp.
4.thành lập các ủy banđiều tra và ủy ban hòa giải quốc tế.
các ủy ban điều tra và hòa giải quốc tế là các cơ quan đặc biệt được lập ra và hoạt động trên cơ sở thỏa thuận của các bên hữu quan để góp phần giải quyết các tranh chấp quốc tế. Về nguyên tắc, số lượng thành viên của các ủy ban điều tra và hòa giải phải luôn luôn là số lẻ. Các quốc gia tranh chấp sẽ cử một số lượng thành viên ngang nhau tham gia vào các ủy ban này, sau đó các thành viên này sẽ tiến hành lựa chọn và mời một công dân của nước thứ ba làm Chủ tịch ủy ban. Nhiệm vụ của ủy ban điều tra hẹp hơn so với nhiệm vụ của ủy ban hòa giải. Cụ thể, ủy ban điều tra có nhiệm vụ chủ yếu là điều tra, tìm kiếm, xác minh, thu thập tất cả các thông tin, nhằm xác định và làm sáng tỏ các yếu tố, tình tiết, sự kiện tạo nên tranh chấp, trong khi đó ủy ban hòa giải lại có nhiệm vụ đưa ra các dự thảo Nghị quyết hoặc những kết luận để phân tích, trình bày với các bên tranh chấp. Để giúp các Ủy ban điều tra hòa giải hoạt động có hiệu quả, các bên tranh chấp có nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp tài liệu cần thiết cho các Ủy ban này
Thực tiễn cho thấy, vào năm 1904, Anh và Nga đã thành lập Ủy ban điều tra gồm đại diện của Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Áo để điều tra về việc Anh cho rằng hải quân của Nga đã bắn chết một số ngư dân của họ. Sau khi xem xét toàn bộ hồ sơ, chứng cứ, Ủy ban điều tra đã đi đến kết luận hải quân của Nga đã bắn vào tàu thuyền đánh cá của ngư dân Anh. Cuối cùng, phía Nga đã chấp nhận kết luận điều tra nói trên và hợp tác cùng với Anh để giải quyết vụ việc.
2: các biện pháp tài phán
1.giải quyết tranh chấp trước tòa án công lí quốc tế.
Tòa án công lý quốc tế là một trong sáu cơ quan chính của Liên Hiệp quốc ( Đại hội đồng; Hội đồng bảo an; Hội đồng kinh tế-xã hội; Hội đồng bảo trợ; Ban thư ký và Tòa án công lý quốc tế). Theo Điều 92 của Hiến chương Liên Hiệp quốc, Tòa án Công lý quốc tế là cơ quan Tư pháp chính của Liên Hiệp quốc, được thành lập và hoạt động theo quy chế của Tòa án Công lý quốc tế thường trực.
Quy chế của Tòa án Công lý quốc tế là một bộ phận không thể tách rời của Hiến chương[. chức năng cơ bản và chủ yếu của Tòa án công lý quốc tế (từ đây chúng tôi sẽ gọi tắt là Tòa án) là giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia, tuy nhiên chỉ có các quốc gia chấp nhận thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp có liên quan. Theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Quy chế Tòa án công lý quốc tế: “ ...thẩm quyền xét xử của Tòa án là nghĩa vụ xét xử về tất cả vấn đề tranh chấp pháp lý có liên quan đến:
a) Giải thích hiệp ước;