So sánh quy chế pháp lý của Thềm lục địa và Vùng đặc quyền kinh tế

Một phần của tài liệu Đề cương tự luận công pháp quốc tế có đáp án (Trang 76 - 79)

1. Giống nhau:

- Các quốc gia ven biển đều có quyền chủ quyền đối với việc khai thác các lợi ích kinh tế của vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa

+ Vùng đặc quyền kinh tế: quyền thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên bao gồm tài nguyên sinh vật (chủ yếu là cá, tôm) hoặc tài nguyên phi sinh vật (chủ yếu là dầu khí) của vùng nước này, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Quốc gia ven biển còn có quyền thực hiện những hoạt động khác vì mục đích kinh tế (như sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió).

+ Thềm lục địa: quyền thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên khoáng sản, tài nguyên phi sinh vật - chủ yếu là dầu khí và tài nguyên sinh vật - chủ yếu là cá, tôm).

- Các quốc gia ven biển đều có quyền tài phán đối với các hoạt động khác diễn ra trên vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa của mình

+ Vùng đặc quyền kinh tế: quyền tài phán về việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ môi trường biển. Quốc gia ven biển có quyền thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng luật pháp của mình. Còn các quốc gia khác thì có quyền tự do hàng hải, tự do hàng không; tự do lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm. Khi cần đặt dây cáp, đường ống, quốc gia đó phải thông báo và thỏa thuận với quốc gia ven biển. Các quốc gia khác cũng được tự do sử dụng biển vào các mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế.

+ Thềm lục địa: các quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trên thềm lục địa, quyền tài phán về nghiên cứu khoa học trên biển, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển. Các nước khác có quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm. Trước khi thực hiện họ phải thỏa thuận với quốc gia ven biển về tuyến đường đi của dây cáp và ống dẫn...

2. Khác nhau:

Vùng đặc quyền kinh tế Thềm lục địa

Các quốc gia ven biển phải tuyên bố yêu sách của mình trong trường hợp nước này không khai thác hết được nguồn tài nguyên sinh vật với mức độ chấp nhận được.

Quốc gia ven biển có thể cho các quốc gia khác như quốc gia không có biển, quốc gia bất lợi về mặt địa lý tiến hành khai thác phần tài nguyên sinh vật dư thừa trong vùng đặc quyền kinh tế của mình. Các quyền của quốc gia ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế phụ thuộc vào tuyên bố của nước họ khi ko khai thác được hết tài nguyên.

Quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa thì ko phụ thuộc vào bất cứ một tuyên bố, một sự chiếm hữu thật sự hay danh nghĩa nào cả. Nói nôm na ra là, nếu các nước ven biển không khai thác được hết tài nguyên ở thềm lục địa thì vẫn cứ để đấy, không có nghĩa vụ tuyên bố hay thỏa thuận với một nước nào khác để cho họ được phép khai thác tài nguyên trên thềm lục địa của mình như đối với vùng đặc quyền kinh tế.

73. Chế độ pháp lý của Vùng + 74. Chế độ pháp lý của biển quốc tế + 75. Khái niệm và quy chế pháp lý của khu vực đáy biển và lòng đất dưới đáy biển quốc tế.

Các vùng biển không thuộc quyền tài phán của quốc gia bao gồm biển cả và vùng. So với trật tự pháp lý trước khi Công ước 1982 có hiệu lực, hiện nay giới hạn của biển cả đã bị thu hẹp đáng kể cùng với sự phát triển của xu hướng tiến ra biển của các nước ven bờ. Chính vì vậy, Công ước Luật biển 1982 đã quy định những quy chế pháp lý dành cho vùng biển này nhằm đảm bảo cho các quốc gia có biển cũng như không có biển được quyền bình đẳng và tự do biển cả, đồng thời nhằm gìn giữ, bảo vệ và phát triển các vùng biển này theo hướng bền vững toàn diện.

Biển cả: Biển cả là những vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, lãnh hải hay nội thuỷ của một quốc gia cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của quốc gia quần đảo.

Quy chế pháp lý của biển cả dựa trên nguyên tắc tự do biển cả. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật biển quốc tế. Nguyên tắc này được quy định rõ tại Điều 87 Công ước Luật biển 1982: “Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển”. Như vậy, các

quốc gia có biển hay không có biển đều có các quyền tự do trên biển cả. Tuy nhiên, “tự do” ở đây phải là “tự do trong khuôn khổ”: “Mỗi quốc gia khi thực hiện các quyền tự do này phải tính đến lợi ích của việc thực hiện các quyền tự do trên biển cả của các quốc gia khác, cũng như đến các quyền được Công ước thừa nhận liên quan đến các hoạt động trong Vùng”. Bản thân nguyên tắc “tự do biển cả” đã thể hiện rất rõ sự dung hoà về lợi ích giữa các quốc gia, khi tất cả các quốc gia đều có quyền tự do hàng hải, tự do đánh bắt hải sản; tự do đặt dây cáp và ống dẫn nguồn; tự do hàng không và tự do xây dựng các đảo nhân tạo và các thiết bị khác; quyền tự do nghiên cứu khoa học. Đông thời, khi thực hiện quyền tự do biển cả, các quốc gia phải thực hiện các nghĩa vụ nhằm đảm bảo quyền tự do cho quốc gia khác, đồng thời để tạo ra một môi trường biển trong sạch, vững mạnh cả về điều kiện tự nhiên và điều kiện pháp lý (VD: nghĩa vụ giúp đỡ, nghĩa vụ hợp tác để trấn áp nạn cướp biển...)

Vùng: Vùng là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia. Công ước 1982 tuyên bố: “Vùng và tài nguyên thiên nhiên của Vùng là di sản chung của nhân loại”. Chế độ pháp lý của vùng được xây dựng trên nền tảng nguyên tắc Vùng và tài nguyên Vùng là di sản chung của nhân loại, theo đó:

- Vùng và tài nguyên vùng không phải là đối tượng của việc chiếm hữu (khoản 1 Điều 137 Công ước Luật biển 1982). Như vậy, toàn thể cộng đồng quốc tế (bao gồm tất cả các quốc gia có biển và không có biển), mà đại diện là cơ quan quyền lực có tất cả quyền lực đối với tài nguyên của Vùng. Không một quốc gia nào có thể chiếm đoạt bất cứ một phần nào đó của vùng.

- Vùng phải được sử dụng vì mục đích hoà bình (Điều 141 Công ước Luật biển 1982). Quy định này buộc các quốc gia phải tuân thủ triệt để nghĩa vụ pháp lý này vì hoà bình – an ninh thế giới cũng như lợi ích của chính quốc gia mình. - Khai thác và quản lý vùng vì lợi ích của toàn thể nhân loại. Theo Điều 140 Công ước Luật biển, các hoạt động trong Vùng là vì lợi ích của toàn thể loài người, không phụ thụôc vào vị trí địa lý của các quốc gia.

- Hoạt động trong vùng được tiến hành vì lợi ích của nhân loại. “Cơ quan quyền lực quốc tế”

là cơ quan quản lý vùng (phân chia công bằng các lợi ích do các hoạt động được tiến hành trong vùng).Trước đây đáy biển (Vùng) bên ngoài giới hạn quyền tài phán của các quốc gia ven biển được điều chỉnh bởi nguyên tắc tự do trên biển thì nay nằm dưới sự quản lý của một Cơ quan quyền lực có trách nhiệm trong việc thăm dò và khai thác các tài nguyên khoáng sản của Vùng.

=> Như vậy, có thể thấy, các quốc gia có biển cũng như không có biển đều có quyền được hưởng lợi ích từ các hoạt động này một cách công bằng. Các quốc gia không có biển được khuyến

khích tham gia vào các hoạt động khai thác vùng; nhưng cũng phải tôn trọng các quyền và lợi ích chính đáng của quốc gia ven biển. Đó chính là một biểu hiện của sự dung hoà lợi ích giữa các quốc gia.

Một phần của tài liệu Đề cương tự luận công pháp quốc tế có đáp án (Trang 76 - 79)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(127 trang)
w