Vị trí, vai trò:
Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế là hai hình thức (nguồn) chính yếu và quan trọng nhất của luật quốc tế. Hai loại nguồn này không độc lập, tách biệt mà có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Khi xét về vị trí, vai trò của điều ước quốc tế và tập quán quốc tế chúng ta không thể khẳng định rằng điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế là nguồn quan trọng hơn.
Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế về bản chất đều là sự thoả thuận của các chủ thể luật quốc tế, tuy nhiên phương thức thoả thuận và hình thức thể hiện của chúng là khác nhau. Điều ước quốc tế được thể hiện bằng hình thức văn bản; tập quán quốc tế tồn tại ở hình thức không thành văn và trong nhiều trường hợp được hình thành từ “thoả thuận im lặng”. Chính từ hình thức thể hiện của điều ước quốc tế là văn bản và phương thức thoả thuận trực tiếp nó đã quyết định tính rõ ràng, dẫn tới sự hình thành một cách nhanh chóng và việc áp dụng sẽ thuận lợi hơn tập quán quốc tế.
Trong lịch sử quan hệ giữa các quốc gia, tập quán pháp lý quốc tế với tư cách là nguồn của luật quốc tế xuất hiện sớm hơn nhiều so với điều ước quốc tế. Trong thời kỳ cổ đại và trung đại, quan hệ giữa các quốc gia chủ yếu được điều chỉnh bằng tập quán pháp lý quốc tế. Ngày nay điều ước quốc tế lại có chỗ đứng nhiều hơn trong việc điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế.
Sự thay đổi này chính là thay đổi về cơ cấu thành phần quy phạm luật quốc tế hiện đại chứ không phải thay đổi vai trò bản chất của mỗi loại nguồn này.
Sự tác động qua lại:
Hai loại nguồn luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau, tác động qua lại và bổ sung cho nhau, cùng thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ liên quốc gia phát sinh trong đời sống quốc tế. Cơ sở của mối quan hệ qua lại này thể hiện ở quá trình hình thành quy phạm của chúng.
- Trước hết tập quán pháp lý quốc tế tác động đến sự hình thành và phát triển của điều ước quốc tế. Việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của luật quốc tế cho phép khẳng định rằng, nhiều quy phạm điều ước quốc tế có nguồn gốc từ quy phạm tập quán quốc tế. Cùng với sự phát triển tiến bộ của luật quốc tế, nhiều quy phạm tập quán được thay thế hoặc phát triển thành quy phạm điều ước. Trong quá trình soạn thảo điều ước quốc tế, hàng loạt quy phạm tập quán được các nhà làm luật tập hợp và pháp điển hoá trong điều ước quốc tế. Ví dụ : các quy định về luật biển quốc tế trong Công uớc Luật biển 1982 như chế độ qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài trong vùng
lãnh hải, quyền tài phán của quốc gia trong nội thuỷ của mình, nhiều nội dung trong quy chế vùng trời hoặc quy định của luật ngoại giao và lãnh sự trong điều ước quốc tế đa phương có nguồn gốc, cơ sở từ tập quán quốc tế.
- Sự tác động qua lại giữa hai loại nguồn của luật quốc tế thể hiện tiếp theo ở chỗ điều ước quốc tế tác động trở lại đến sự hình thành và phát triển của tập quán quốc tế. Sự tác động này thường xuất hiện chủ yếu từ các điều ước quốc tế có tính phổ cập. Ví dụ chứng minh cho lập luận này là có những điều ước quốc tế như công ước viên 1961 về quan hệ ngoại giao, công ước viên năm 1982 … có sự ký kết và tham gia của đa số các quốc gia trên thế giới, nhưng vẫn không phải tất cả các quốc gia. Thực tiễn cho thấy, các quốc gia không ký kết hoặc tham gia những công ước này cũng đều áp dụng các quy phạm của chúng, coi đó là quy phạm pháp lý ràng buộc mình với tư cách là tập quán.
Như vậy, trong những trường hợp này quy phạm điều ước của luật quốc tế chung lại trở thành quy phạm tập quán điều chỉnh nhiều mối quan hệ phát sinh giữa các quốc gia với nhau trong đời sống quốc tế.
Hiệu lực pháp lý
Về mặt lý luận, các quy phạm luật quốc tế dù là quy phạm điều ước hay quy phạm tập quán cũng đều có giá trị pháp lý như nhau, việc áp dụng loại quy phạm nào của luật quốc tế là tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực và từng mối quan hệ cụ thể, từng sự ràng buộc cụ thể có tính chất pháp lý của mỗi quốc gia với loại quy phạm nào đó, chứ không tuy thuộc vào sự phân chia thứ bậc về giá trị pháp lý của hai loại nguồn này.
Hai nguồn này được bổ sung cho nhau, thay thế nhau. Tuy nhiên, trong thực tiễn quan hệ giữa các quốc gia, đôi khi xuất hiện trường hợp cùng một quan hệ xã hội cụ thể có cả hai quy phạm điều ước và quy phạm tập quán cùng tham gia điều chỉnh. Trong trường hợp như vậy các quốc gia sẽ áp dụng quy phạm nào ? Trong khoa học luật quốc tế từ trước đến nay chưa có quan điểm thống nhất về vấn đề này. Các quan điểm chung nhất ở Việt Nam và nhiều nước thường thiên theo hướng ưu tiên áp dụng quy phạm điều ước quốc tế. Lí lẽ để bảo vệ quan điểm này là ở chỗ dù rằng cả điều ước quốc tế và tập quán quốc tế đều là kết quả thoả thuận ý chí của các quốc gia nhưng ý chí đó được thể hiện trong điều ước quốc tế rõ ràng hơn, minh bạch hơn và mức độ ràng buộc trách nhiệm pháp lý cao hơn so với ý chí thể hiện trong tập quán quốc tế
31. Vấn đề hiệu lực của điều ước quốc tế. Điều kiện để điều ước quốc tế có hiệu lực.
Thời gian có hiệu lực của điều ước quốc tế.
- ĐƯQT có hiệu lực thi hành khi thỏa mãn điều kiện:
+ Điều kiện chủ quan:
• Phải được ký kết trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng
• Phù hợp với thẩm quyền theo quy định của PL quốc gia + Điều kiện khách quan:
• Phù hợp với các quy phạm Jus Cogens (các nguyên tắc cơ bản ) của LQT
- Khi một điều ước quốc tế phát sinh hiệu lực sẽ ràng buộc các bên kết ước trong toàn lãnh thổ (không gian) thuộc phạm vi điều chỉnh của điều ước đó, trừ khi có quy định khác ( ví dụ: điều ước có các điều khoản loại trừ hoặc hạn chế việc áp dụng đối với những bộ phận lãnh thổ nhất định) trong quá trình thực hiện điều ước các quốc gia thành viên vẫn có thể thông báo rút lại việc không áp dụng về mặt lãnh thổ hoặc tuyên bố mở rộng phạm vi áp dụng về mặt lãnh thổ.
- Thời điểm có hiệu lực của ĐƯQT: dựa trên sự thỏa thuận giữa các chủ thể trong điều ước.
theo công ước Viên 1969 quy định: trừ khi có một quy định nào khác được thể hiện trong ĐƯ, ngoài ra ĐƯ sẽ ko có hiệu lực pháp lý, nghĩa là ĐƯ sẽ có giá trị bắt buộc với các bên sau thời điểm bắt đầu có hiệu lực
Điều ước có thời hạn: Đa số các ĐƯQT điều chỉnh các lĩnh vực: hợp tác thương mại, hàng hải, du lịch… thường được xác lập rõ ràng, chính xác thời điểm bắt đầu có hiệu lực và kết thúc hiệu lực của điều ước đó. Thời điểm bắt đầu thường là ngày các điều kiện cụ thể được trù liệu trong ĐƯQT được thỏa mãn. (VD: khi có đủ số lượng nhất định các quốc gia chấp nhận sự ràng buộc của điều ước…)
Điều ước ko có thời hạn: Một số ĐƯQT chỉ xác định thời điểm bắt đầu có hiệu lực mà không quy định thời điểm kết thúc hiệu lực. (VD: Hiến chương LHQ năm 1945, Công ước Luật biển năm 1982…). ĐƯ này có thể hết thời hạn theo sự thỏa thuận của các bên.
Hiệu lực về không gian
- Phát sinh trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia của các bên ký kết.
- Ngoại lệ, điều ước chỉ có hiệu lực trên một phần lãnh thổ quốc gia