Không phải ai cũng có lương tâm, ý thức trách nhiệm này vốn dựa trên cảm xúc gắn bó với người khác. Một số người sẽ không bao giờ cảm thấy hối hận sau khi khiến người khác thất vọng hoặc tổn thương, hay hạ bệ họ, thậm chí sát hại họ. Nếu năm giác quan đầu tiên thuộc về thể chất - thị giác, thính giác, xúc giỏc, khứu giỏc, vị giỏc - cũn “ứIiỏc quan thứ sõu” chớnh là trực giác, thì trong trường hợp lý tưởng, lương tâm có thể được xem là giác quan thứ bảy. Giác quan thứ bảy là giác quan “sinh sau đẻ muộn” trong quá trình tiến hóa của loài người và không phải a1 cũng sở hữu nó.
Một: CIÁC QUAN THỨBẢY 29
30
Vấn đề càng trở nên ảm đạm hơn khi trong cuộc sống hang ngày, ta thường không thể biết được sự khác biệt giữa những người có lương tâm và những người không có lương tâm. Một luật sư trẻ tuổi đầy tham vọng có thể có giác quan thứ bảy hay
không? Có thể, dễ hiểu mà. Một người mẹ “một nách nhiều con nhổ” có giác quan thứ bảy hay không? Dĩ nhiên là có thể. Một vị linh mục chịu trách nhiệm dẫn dắt tinh thần cho cả một cộng đồng có sự ràng buộc của lương tâm hay không? Hy vọng là có.
Một vị lãnh đạo nắm quyền lực chính trị của cả một quốc gia có lương tâm hay không? Chắc chắn là có.
Hoặc ngược lại, liệu có a1 trong số những người này hoàn toàn không có chút lương tâm hay không? Câu trả lời một lần nữa
được khẳng định là có thể, một cách đáng lo ngại.
Sự ẩn nấp của “cái ác” và không có mối liên kết rõ ràng nào giữa “cái ác” với một vai trò xã hội cụ thể, một chủng tộc, hoặc một loại thực thể nào đó luôn gây bối rối cho các nhà thần học, và gần đây nhất là các nhà khoa học. Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, chúng ta đã cố hết sức để xác định “thiện” và
“ác,” đồng thời tìm cách phát hiện những người trong số chúng ta có vẻ như đang sống chung với “cái ác.” Vào thế kỷ IV, học ứ1a người Cụng giỏo Saint jJerome đó giới thiệu một từ Hy Lạp synderesis (lương tâm) để nói về một khả năng bẩm sinh được Thiên Chúa ban cho, đó là nhận biết được sự khác biệt giữa thiện và ác.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại một vấn đề đáng chú ý. Nếu sự nhận thức tuyệt đối về thiện và ác được Thiên Chúa ban cho loài người, vậy thì tại sao không phải tất cả mọi người đều là người thiện lương? Và câu hỏi này vẫn là tâm điểm của cuộc thảo luận thần học về lương tâm trong suốt nhiều thế kỷ qua.
Một giải pháp cho vấn đề nan giải trong thần học về lương tâm này đã xuất hiện ở thế ký 13 khi Thomas Aquinas đề xuất sự
KE AC CANH BEN
phan biét theo dudng vong gitia synderesis cua Saint Jerome, năng lực nhận thức về thiện và ác được Thiên Chúa ban tặng, va conscientia, nhting lý luận có xu hướng sa1 sót của con người trong lúc xoay xở đi đến những quyết định về mặt hành vi. Để đưa ra lựa chọn về việc nên thực hiện hành động nào, Lý Luận được cung cấp thông tin hoàn hảo từ Thiên Chúa, nhưng bản thân Lý Luận lại khá yếu kém. Theo cách này, những quyết định và hành động sa1 lầm xuất phát từ xu hướng sai sót trong việc đưa ra những lựa chọn của con người, chứ không phải do thiếu lương tâm. Làm điều sai trái đơn giản chỉ là phạm lỗi.
Ngược lại, theo Aquinas, “Synderesis không thể mắc lỗi; nó đưa ra những quy tắc bất biến, cũng giống như quy luật thống trị vũ trụ vật chất cũng bất biến vậy.”
Áp dụng quan điểm này vào ví dụ hiện tại của chúng ta - khi Joe nhớ ra rằng chú chó của minh đang chịu đói khát, thì synderesis bẩm sinh do Thiên Chúa ban tặng ngay lập tức báo cho anh rằng hành động đúng đắn là quay xe trở về nhà để chăm sóc chú chó. Sau đó, conscientia, cuộc đấu tranh nội tâm về cách hành xử, sẽ cân nhắc thông tin này. Việc Joe không quay đầu xe ngay lập tức mà thay vào đó, anh mất một vài phút để suy xét chính là kết quả của sự yếu kém tự nhiên trong lý luận của con người. Theo góc nhìn của Aquinas, viéc jJoe cuối cùng cũng đưa ra được quyết định đúng đắn có nghĩa là phẩm chất đạo đức của .Joe đang phát triển theo hướng đúng đắn thông qua Lý Luận vững chắc. Nếu ¿Joe quyết định bỏ mặc chú chó đói khát, điều đó có nghĩa là nói theo thần học thì Lý Luận yếu kém đã đưa đường dẫn lối phẩm chất đạo đức của Joe xuống Địa Ngục.
ĐI sâu vào vấn đề thần học, theo các giáo phụ tiên khởi, (1) các quy tắc đạo đức là tuyệt đối; (2) tất cả mọi người đều nhận thức được Sự Thật; và (3) hành vi xấu là kết quả của tư duy sai lầm, chứ không phải do thiếu synderesis, hay còn gọi là lương tâm,
Một: GIÁC QUAN THỨBẢY 3]
32
và bởi vì tất cả chúng ta đều có lương tâm, vậy nên nếu như lý luận của con người là hoàn hảo thì sẽ không có hành v1 xấu xảy ra. Thật vậy, đây là ba niềm tin về lương tâm của phần lớn thế giới trong suốt chiều dài lịch sử thời hiện đại. Sức tác động của ba niềm tin này đến cách chúng ta suy nghĩ về bản thân và những người khác, thậm chí trong thời đại ngày nay, là không
thể ước lượng. Niềm tin thứ ba đặc biệt khó buông bỏ. Gần một
thiên niên kỷ sau khi Aquinas tuyên bố về synderesis, khi một người nào đó liên tục cư xử theo cách ta cho là táng tận lương tâm, ta sẽ viện dẫn đến phiên bản cập nhật mới nhất của quan niệm “Lý Luận yếu kém.” Chúng ta đưa ra những suy đoán rằng đối tượng phạm tội này ở trong hoàn cảnh túng quẫn, hoặc rằng tâm lý của hắn ta không bình thường, hoặc là do cuộc sống thời thơ ấu khiến hắn ta làm điều đó. Ta vẫn vô cùng do dự không dám đưa ra một lời giải thích đơn giản hơn rằng Thiên Chúa hay tạo hóa đã không ban phát lương tâm cho hắn.
Trong hàng trăm năm qua, những cuộc thảo luận về lương tâm có xu hướng xoay quanh mối quan hệ giữa lý luận con người và nhận thức thiên phú về đạo đức. Một vài tranh luận tất yếu đã phát sinh, gần đây nhất là cuộc tranh luận về thuyết tỷ lệ, một lỗ hổng thần thánh, trong đó Lý Luận yêu cầu ta phải làm một
“điều xấu” nào đó để mang lại một điều “tốt đẹp” khác - một
“cuộc chiến tranh chính nghĩa” chẳng hạn.
Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ 20, chính lương tâm phải trải qua một sự chuyển đổi quan trọng do ngày càng có nhiều người
ở châu Âu và ở Mỹ chấp nhận giả thuyết của nhà khoa học/
nhà vật lý học (và người theo thuyết vô thần) Sigmund Freud.
Freud cho rằng trong quá trình phát triển bình thường, tư duy của một đứa trẻ tiếp nhận một “nhân vật” quyền uy ở bên trong được gọi là superego (siêu ngã), mà nhân vật này cuối cùng sẽ thay thế quyền uy thật sự từ bên ngoài - quyền uy bên ngoài này không phải đến từ Thiên Chúa mà đến từ chính cha mẹ của
KẺ ÁC CẠNH BÊN
đứa trẻ đó. Với “khám phá” về siêu ngã, Freud đã kéo lương tâm ra khỏi bàn tay của Chúa một cách hiệu nghiệm và đặt nó vào phạm vi kiểm soát đầy lo âu của một gia đình toàn là những con người. Sự thay đổi trong cách diễn giải về lương tâm này
đòi hỏi sự chuyển đổi tổi tệ trong thế giới quan đã tồn tại hang thế kỷ qua của chúng ta. Bất chợt, những quy tắc đạo đức của chúng ta có khiếm khuyết, và Sự Thật tuyệt đối bắt đầu phải chấp nhận tính không chắc chắn của thuyết tương đối văn hóa.
Mô hình tư duy theo cấu trúc mới của Freud không liên quan đến phần người. Thay vào đó, tầm nhìn của Freud liên quan đến siêu ngã, bản ngã và tự ngã. Tự ngã được cấu thành bởi mọi bản năng sinh lý và gây hấn bẩm sinh của con người cùng những nhu cầu sinh học. Như vậy là tự ngã thường mâu thuẫn với nhu cầu của xã hội văn minh. Ngược lại, bản ngã là lý trí, phần nhận thức của tư duy. Nó có thể suy nghĩ hợp lý, lên kế hoạch và ghi nhớ, và bởi vì bản ngã hoạt động theo cách này, nên nó có thể tương tác trực tiếp với xã hội và, ở nhiều mức độ khác nhau, nó có thể thực hiện công việc cho phần tự ngã còn nguyên sơ. Siêu ngã phát triển từ bản ngã khi đứa trẻ kết hợp những quy tắc bên ngoài từ cha mẹ và từ xã hội. Siêu ngã cuối cùng trở thành một lực đứng tự do trong quá trình phát triển tư duy, đơn phương đánh giá, định hướng hành v1 và suy ngh1.
Chính tiếng nói bên trong lên tiếng ngăn chặn tội lỗi, thậm chí khi không có a1 ở xung quanh.
Khái niệm cơ bản về siêu ngã là hoàn toàn hợp lý. Chúng ta thường quan sát trẻ em tiếp thu và thậm chí áp đặt việc thực hiện những quy định do cha mẹ đặt ra. (Người mẹ cau mày nói với cô con gái 4 tuổi, “Không được la hét trong xe.” Vài phút sau, cô bé 4 tuổi đó chỉ tay ra lệnh về phía đứa em gái 2 tuổi của mình đang làm ồn và hét to, “Không được la hét trong xe!”) Là những người trưởng thành, hầu hết chúng ta đều đã nghe thấy phần siêu ngã của mình. Trên thực tế, một số người trong
Một: GIÁC QUAN THỨBẢY 33
chúng ta nghe khá thường xuyên. G1Iọng nói bên trong nói với chúng ta, “Đồ ngốc! Tại sao mày lại làm như thế?” hoặc “Mày biết đó, nếu mày không hoàn thành báo cáo đó tối nay, mày sẽ phải hối tiếc,” hoặc “Tốt hơn là mày nên đi kiểm tra lượng cholesterol di.” Và trong câu chuyện của Joe va Reebok, Joe có thể dễ dàng đưa ra quyết định bỏ cuộc họp là nhờ phần siêu ngã của anh. Để minh họa rõ hơn, chúng ta hãy giả sử rằng bố của ¿Joe (người không muốn djJoe nuôi thú cưng) đã nói với anh
hồi năm anh 4 tuổi, “Thôi nào, ¿Joe bé bỏng, chúng ta không thể
nuôi chó được. Nuôi một con chó là một trách nhiệm nặng nề.
Khi nuôi chó, con luôn phải tạm dừng những việc con đang làm để chăm sóc nó.” Quyết định quay xe về nhà của ‹Joe, một quyết định của người trưởng thành, có thể đã được chi phối bởi phần siêu ngã vốn quyết liệt muốn anh phải thực hiện điều đó.
Nhìn nhận sâu xa hơn, chính Freud có thể đã tự hỏi liệu có phải phần siêu ngã của ‹Joe đã khiến anh sắp xếp mọi thứ cho toàn bộ buổi sáng hay không, đương nhiên là một cách vô thức - hối hả làm cái này cái kia, quên để sẵn thức ăn cho chó - theo cách chứng minh lời của bố anh nói là đúng va Joe đã “lãnh hậu quả” cho việc nuôi thú cưng. Theo thuyết của Freud, siêu ngã không chỉ là tiếng nói bên trong mà còn là phần chi phối, phần điều khiển một cách tinh tế và phức tạp, phần chứng minh luận điểm. Nó xử lý thông tin, đánh giá, đưa ra những câu nhận định và nó làm tất cả những điều này bên ngoài nhận thức của chúng ta. Mặc dù phần siêu ngã, trong trường hợp lý tưởng, có thể giúp cho một cá nhân hòa hợp với xã hội, nó cũng có thể trỏ thành phần độc đoán nhất và mang tính hủy hoại nhất trong tính cách của người đó. Theo các nhà phân tích tâm lý, một siêu ngã cực kỳ khắt khe, liên tục hoạt động trong trí não của một người, có thể tạo ra chứng trầm cảm kéo dài suốt đời, thậm chí đẩy nạn nhân tội nghiệp của nó đến hành động tự sát.
Và vì thế Freud đã giới thiệu đến thế giới một quan niệm vô thần rằng lương tâm có thể cần phải được cải thiện ở một số 34 KE AC CANH BEN
người và rằng thông qua phân tâm học, một người có thể that sự cải thiện lương tâm.
Ngoài ra - bất ngờ hơn nữa - Freud và những người ủng hộ ông đã liên kết sự hình thành cuối cùng của siêu ngã với quyết tâm áp chế phức cảm Oedipus của trẻ. Phức cảm Oedipus, đôi khi được gọi là phức cảm Electra ở các bé gái, được hình thành khi một đứa trẻ, ở độ tuổi 3-5 tuổi, bắt đầu nhận ra rằng các em sé không bao giở hoàn toàn sở hữu được bố mình (đối với bé gá1) và mẹ mình (đối với bé trai). Nói nôm na là các bé trai phải chấp nhận rằng bé sẽ không thể kết hôn với mẹ mình và các bé gái phải chấp nhận rằng bé sẽ không thể kết hôn với bố mình. Theo Freud, các cuộc đấu tranh Oedipus và kéo theo sau đó là những cảm xúc cạnh tranh, sợ hãi, oán giận đối với người cha (của bé tra1) hoặc với người mẹ (của bé gái) quá mãnh liệt và nguy hiểm lên những mối quan hệ trong gia đình của đứa trẻ đến nỗi trẻ phải “đè nén” hoặc giấu kín triệt để, và “sự đè nén” này có thể thực hiện được nhờ vào sức mạnh quyết liệt của siêu ngã mới hình thành ở trẻ. Kể từ thời điểm này trở đi, nếu có bất kỳ cảm xúc ghen tị nào đối với người mẹ (bé gái) hoặc người cha (bé trai), những cảm xúc này sẽ hoàn toàn bị đánh bại nhờ có loại vũ khí khủng khiếp và đáng sợ của siêu ngã mới được củng cố - cảm giác tội lỗi không thể chịu được xảy ra ngay tức thì. Theo cách này, siêu ngã giành lấy quyền tự chủ và lợi thế tối thượng bên trong tâm trí của đứa trẻ.
Cho dù người khác có nghĩ gì về giả thuyết trên đi nữa thì công trạng vẫn thuộc về Freud vì ông đã chỉ ra được rằng ý thức đạo đức của chúng ta không phải là một mật mã áp dụng trong mọi trường hợp, mà thay vào đó, nó có tính linh động và được gắn kết một cách phức tạp với gia đình và những mối ràng buộc xã hội thiết yếu. Với những bài viết về siêu ngã, Freud đã cảnh tỉnh giới khoa học rằng thái độ tôn trọng thông thường của chúng ta đối với luật pháp và mệnh lệnh không chỉ đơn thuần
Mét: GIAC QUAN THU BAY 35
36
là sự áp đặt từ bên ngoài. Ta tuân thủ luật lệ, ta tôn vinh đức hạnh, chủ yếu bắt nguồn từ nhu cầu nội tại nay sinh từ thoi thd ấu là giữ gìn và duy trì tình cảm yêu thương trìu mến của gia đình và cộng đồng xã hội nơi ta sinh sống.