ÁO MỚI CỦA VỊ HOÀNG ĐẾ

Một phần của tài liệu Ebook Kẻ ác cạnh bên : Phần 1 (Trang 78 - 84)

Khi lương tâm rơi vào trạng thái hôn mê sâu, khi nó thiếp ngủ không biết gì đến những hành động tra tấn, chiến tranh và nạn diệt chúng, thì các vị lãnh đạo chính trị và những cá nhân xuất chúng có thể tạo ra sự khác biệt giữa việc dần dần đánh thức lại giác quan thứ bảy của chúng ta với việc tiếp tục cơn ác mộng không có sự hiện diện của lương tâm. Lịch sử dạy ta rằng thái độ và kế hoạch xuất phát từ việc ưu tiên giải quyết một cách thực tế những vấn đề khó khăn và bất an trong nội bộ nhóm, thay vì đổ lỗi cho những người bên ngoài nhóm, có thể giúp ta lấy lại được góc nhìn thực tế hơn về “những người khác.” Cuối cùng thì phong cách lãnh đạo mang tính nhân văn có thể tạo nên sự khác biệt. Nhưng lịch sử cho ta thấy rằng một nhà lãnh đạo không có giác quan thứ bảy có thể thôi miên lương tâm của cả nhóm ở mức độ còn cao hơn, đẩy thảm họa lên gấp đôi. Sử dụng biện pháp tuyên truyền dựa trên nỗi sợ hãi để khuếch đại một hệ tư tưởng tiêu cực, vị lãnh đạo như thế có thể khiến các thành viên trong một xã hội đang sợ hãi nhìn nhận ¿hứ gì đó là trở ngại duy nhất trên con đường đi đến cuộc sống tốt đẹp của chính họ, thậm chí là của cả nhân loại nói chung, và nhìn nhận xung đột là một cuộc chiến dữ dội giữa thiện và ác. Một khi những niềm tin này được gieo rắc, thì việc dồn ép thứ gì đó mà không chút hối tiếc hay cắn rứt lương tâm, không hề sợ hãi, có thể trở thành một nhiệm vụ hiển nhiên.

Sự tái xuất hiện trong suốt quá trình lịch sử của phong cách lãnh đạo thứ hai này đã dẫn đến một danh sách dài những câu

Ba: KHI LUGNG TAMTHIEP NGU = 69

hồi đáng kinh ngạc. Tại sao loài người lại hết lần này đến lần khác chịu đựng câu chuyện đau buồn này, như một kỹ lục bị phá vỡ một cách ngớ ngẩn? Tại sao ta tiếp tục cho phép những nhà lãnh đạo có động cơ tư lợi, hoặc có những vấn đề tâm lý trong quá khứ, thổi bùng thù oán và khủng hoảng chính trị thành những cuộc đối đầu có vũ trang và chiến tranh? Hay trong những ví dụ tồi tệ nhất, tại sao ta lại để những người có suy nghĩ kiểu giết ếch, bẻ gãy tay người khác như gã Skip, đứng vào vị trí lãnh đạo và chơi trò chơi thống trị trên cuộc sống của những người khác? Lương tâm của ta đã trở thành gì? Tại sao chúng ta không đứng lên đấu tranh vì những điều ta cảm nhận?

Có một lời giải thích ở đây, đó là trạng thái nửa tỉnh nửa mê khiến ta tin rằng dù sao đi nữa, những người đang chết chỉ là thứ gì đó mà thôi. Và có một nỗi sợ hãi, dĩ nhiên - luôn là như vậy - và thường đi kèm với cảm giác bất lực. Ta nhìn đám đông xung quanh và tự nhủ, “Có quá nhiều người đang chống lại mình,”

hoặc, “Mình không nghe thấy có bất kỳ người nào khác phản đối điều này,” hoặc thậm chí còn nhẫn nhịn nhiều hơn, “Thế giới là vậy, Chính trị là thế.” Tất cả những cảm giác và niềm tin này có thể có ảnh hưởng đáng kể khiến lương tâm của ta im lặng, nhưng ở nơi nào mà người ta quan tâm đến việc lương tâm bị vô hiệu hóa bởi quyền lực, thì sẽ có một điều thậm chí còn hiệu quả, còn mạnh mẽ hơn việc nhìn nhận “người khác” một cách khách quan, còn phát ngấy, còn khốn khổ hơn cảm giác bất lực, và rõ ràng là còn khó chế ngự hơn là chính nỗi sợ hãi. Rất đơn giản, chúng ta được lập trình để tuân theo mệnh lệnh thậm chí là đi ngược lại với lương tâm của chính mình.

Vào năm 1961 và 1962, tại thành phố New Haven, bang Connecticut, Giáo sư Stanley Milgram của Đại học Yale đã lên kế hoạch và dựng thành phim một trong những thí nghiệm tâm lý ấn tượng chưa từng có. Milgram bắt đầu đặt xu hướng phục tùng mệnh lệnh của con người vào thế đối đầu càng trực

70 KẺ ÁC CẠNH BÊN

tiếp càng tốt với lương tâm của từng cá nhân. Về phương pháp tìm hiểu này, ông viết, “Trong tất cả các nguyên tắc đạo đức, nguyên tắc được mọi người chấp nhận nhất chính là: một người không nên gây đau đớn cho một người không có khả năng chống trả, và họ cũng không đe dọa hay gây nguy hiểm cho mình.

Nguyên tắc này là lực phản kháng chúng ta nên đặt ở phía đối lập với sự phục tùng.”

Quy trình thí nghiệm của Milgram luôn rõ ràng minh bạch, và phiên bản dựng thành phim về nghiên cứu này của ông đã tạo nên làn sóng căm phẫn trong số các nhà nhân đạo chủ nghĩa và các sinh viên đại học không chút hoài nghị, trong 40 năm qua. Trong nghiên cứu này, hai người đàn ông không quen biết nhau đến phòng thí nghiệm tâm lý để tham gia một thí nghiệm liên quan đến trí nhớ và việc học. Mỗi người tham gia sẽ được thưởng 4 đô-la, cộng thêm chi phí chăm sóc xe ðO xu. Trong phòng thí nghiệm, người tiến hành thí nghiệm (trong phim thì do chính Stanley Milgram đóng) giải thích cho cả hai biết rằng chủ đề nghiên cứu này là “tác động của hình phạt lên hoạt động học tập.” Một trong hai người được yêu cầu đóng vai “học viên”

và được đưa vào một căn phòng khác và ngồi trên ghế. Tất cả mọi người quan sát trong lúc hai cánh tay của học viên bị cột vào ghế “để không vùng vẫy,” và điện cực được gắn vào cổ tay của anh ta. Anh ta được bảo rằng anh ta phải học một danh sách các cặp ttt (blue box (hộp xanh), nice day (ngày vul), w1ld duck (vịt trời), v.v.) và rằng mỗi khi phạm lỗi, anh ta sẽ bị điện giật. Sau mỗi lần phạm lỗi, cường độ dòng điện sẽ tăng dần.

Người còn lại được cho biết sẽ vào vai “giáo viên” trong thí nghiệm về hoạt động học tập này. Sau khi giáo viên quan sát học viên bị cột vào ghế và bị nối với nguồn điện giật, giáo viên được đưa đến một phòng khác và được yêu cầu ngồi trước một chiếc máy to và có vẻ đáng sợ, được gọi là “máy giật điện.” Chiếc máy này có 30 công tắc, được xếp theo hàng ngang và được dán nhãn

Ba: KHI LUONG TAMTHIEP NGU 7]

72

theo số vôn (V), từ 15V đến tận 450V, với mức tăng giữa các lần là 15V. Bên cạnh những con số, các công tắc còn được dán nhãn

miêu tả từ GIẬT NHE đến NGUY HIỂM - GIẬT MẠNH. Giáo

viên được đưa cho một danh sách những cặp từ vựng và được bảo rằng công việc của anh ta là ra đề bài kiểm tra cho học viên ở phòng bên kia. Khi học viên trả lời đúng - ví dụ, giáo viên đọc từ “blue” và học viên trả lời “box” - giáo viên có thể chuyển sang bài kiểm tra tiếp theo. Nhưng khi học viên trả lời sa1, giáo viên

phải nhấn công tắc để làm cho anh ta bị điện giật. Người thực

hiện thí nghiệm hướng dẫn giáo viên bắt đầu ở cường độ giật điện thấp nhất trên bảng điều khiển, và với mỗi câu trả lời sai, anh ta sẽ tăng cường độ điện giật lên một mức.

Học viên ở phòng bên kia thật ra chính là đồng minh đã được đào tạo của người tiến hành thí nghiệm, là một diễn viên và không hề bị điện giật. Nhưng tất nhiên, giáo viên không biết điều này, và chính giáo viên mới là đối tượng nghiên cứu thật sự trong cuộc thí nghiệm.

Giáo viên đọc vài từ đầu tiên trong “bài kiểm tra việc học,” và rồi vấn đề nảy sinh, bởi vì học viên - đồng minh của Milgram, không được nhìn thấy ở trong phòng bên kia - bắt đầu phát ra âm thanh tỏ vẻ cực kỳ khó chịu. Ở mức 75V, học viên phạm lỗi sai cặp từ vựng, giáo viên điều khiến cú giật điện, và học viên càu nhàu. Ở mức 120V, học viên gào thét với người thực hiện thí nghiệm rằng cú giật điện này đau quá, và ở mức 150V, học viên ở phòng bên kia đòi được thả ra. Khi điện giật mạnh hơn, sự phản kháng của học viên ngày càng tuyệt vọng hơn, và ở mức 285V, anh ta hét lên đau đớn vô cùng. Người tiến hành thí nghiệm - giáo sư Đại học Yale trong chiếc áo khoác trắng phòng thí nghiệm, đứng phía sau giáo viên đang ngồi trước máy sốc điện - bình tĩnh đưa ra một chuỗi yêu cầu theo kịch bản, chẳng hạn như là “Hãy tiếp tục,” hoặc “Cuộc thí nghiệm yêu cầu anh phải tiếp tục,” hoặc “Dù học viên có thích hay không, anh vẫn

KE AC CANH BEN

phải tiếp tục cho tới khi cậu ấy nhớ đúng tất ca các cặp từ. Vì vậy hãy tiếp tục.”

Milgram lặp lại quy trình này 40 lần, trên 40 đối tượng khác nhau - họ là những người “có trách nhiệm và phẩm chất tốt trong cuộc sống thường ngày,” bao gồm giáo viên phổ thông trung học, nhân viên bưu điện, nhân viên bán hàng, lao động chân tay và kỹ sư. Bốn mươi đối tượng này đại diện cho các trình độ học vấn khác nhau, từ người chưa tốt nghiệp phổ thông trung học cho đến người có bằng tiến sĩ hay những bằng cấp chuyên môn khác. Mục đích của cuộc thí nghiệm là nhằm khám phá ra sự thật rằng phải mất bao lâu để những đối tượng này (những giáo viên trong thí nghiệm) không tuân theo mệnh lệnh của Milgram vì cảm thấy rõ ràng đây là hành động trái đạo đức.

Họ sẽ điều khiển mức điện giật bao nhiêu lên một người xa lạ đang cầu xin và gào thét, đơn giản chỉ bởi vì một người có thầm quyền yêu cầu họ làm như vậy?

Khi tôi chiếu bộ phim của Milgram trên giảng đường đầy ắp.

những sinh viên ngành tâm lý học, tôi yêu cầu họ đoán câu trả lời cho những câu hỏi này. Các sinh viên luôn chắc chắn rằng lương tâm sẽ thắng thế. Nhiều sinh viên dự đoán rằng phần lớn các đối tượng sẽ bước ra khỏi phòng thí nghiệm ngay khi biết về việc sử dụng máy giật điện. Hầu hết sinh viên chắc chắn rằng trong số những đối tượng còn ở lại trong phòng, tất cả ngoại trừ một số ít người, sẽ không tuân theo người tiến hành thí nghiệm, có thể sẽ chửi rủa ông ấy, ít nhất là đến khi người ở phòng bên kia yêu cầu được thả ra (ở mức 150V). Và tất nhiên, các sinh viên dự đoán chỉ một số rất ít đối tượng cực kỳ nhẫn tâm, bệnh hoạn sẽ tiếp tục nhấn nút điều khiến tuần tự lên đến mức 450V, mức dán nhãn là NGUY HIẾM - GIẬT MẠNH.

Đây là những gì đã thật sự diễn ra: 34/40 đối tượng ban đầu của Milgram tiếp tục điều khiển điện giật học viên, người mà họ biết đang bị cột chặt vào ghế, thậm chí sau khi người này

Ba: KHI LUGNG TAMTHIEP NGU 73

van xin được thoát ra khỏi cuộc thí nghiệm. Trên thực tế, có 25 người trong số 34 đối tượng này - tương đương 62,5% tính trên toàn bộ nhóm - không làm trái lệnh của người tiến hành thí nghiệm, vẫn tiếp tục nhấn nút điều khiển tuần tự cho đến mức cuối cùng (450V), mặc cho những tiếng gào thét và van nài của người ở phòng bên kia. Các giáo viên túa mồ hôi, họ phàn nàn, họ ôm lấy đầu, nhưng họ vẫn tiếp tục. Khi phim kết thúc, tôi nhìn đồng hồ. Trong giảng đường chật kín sinh viên vừa xem cuộc thí nghiệm này lần đầu tiên, luôn có một sự im lặng sững sở bao trùm, ít nhất là trong vòng một phút.

Sau cuộc thí nghiệm đầu tiên, Milgram đã thay đối kịch bản theo một số cách khác nhau. Ví dụ, trong một kịch bản khác, các đối tượng không bị hạ lệnh nhấn công tắc giật điện học viên, mà chỉ đọc những từ vựng trong bài kiểm tra trước khi

người khác nhấn công tắc. Trong phiên bản thí nghiệm này, 37/40 người (92,5%) tiếp tục thực hiện đến mức cao nhất của

“máy giật điện.” Đến thời điểm đó, các giáo viên trong nghiên cứu này chỉ toàn là nam giới. Sau đó, Milgram tiến hành thí nghiệm ở nữ giới, với suy đoán rằng phụ nữ sẽ dễ đồng cảm hơn. Biểu hiện của nhóm này gần như không khác gì, ngoại trừ việc những người phụ nữ làm theo mệnh lệnh có biểu hiện căng thắng hơn những người đàn ông làm theo mệnh lệnh. Các nghiên cứu sử dụng mô hình Milgram được lặp đi lặp lại ở nhiều trường đại học khác, và chẳng bao lâu sau có hơn 1.000 đối tượng bao gồm cả nam lẫn nữ từ mọi tầng lớp xã hội tham gia. Các kết quả thí nghiệm về bản chất là giống nhau.

Kết quả lặp lại nhiều lần của nghiên cứu về sự chấp hành mệnh lệnh này đã khiến Milgram đưa ra lời tuyên bố nổi tiếng gây ám ảnh, và cũng truyền cảm hứng, cho rất nhiều sinh viên có tình người: “Có một tỷ lệ đáng kể những người thực hiện mệnh lệnh, bất chấp bản chất hành động đó là gì và không có giới hạn của lương tâm, miễn là họ ý thức rằng mệnh lệnh đó đến từ người

74_ KẺ ÁC CẠNH BÊN

cầm quyén.” Milgram tin rang quyén hanh cé thé khién cho lương tâm thiếp ngủ, chủ yếu bởi vì người tuân lệnh “điều chỉnh tư duy” theo hướng nhìn nhận bản thân không phải chịu trách nhiệm về hành động của mình.

Trong tâm trí của mình, anh ta không còn là một người phải hành động theo nguyên tắc đạo đức nữa, mà là đối tượng trung gian của người có quyền hành ở bên ngoài, người được anh ta quy kết toàn bộ trách nhiệm và hành động. Sự “điều chỉnh tư duy” này giúp cho những nhà lãnh đạo nhân từ dễ dàng ra mệnh lệnh và kiểm soát, nhưng với cùng cơ chế tâm lý này, nó đã “trai thảm đó” vô số lần cho những “kẻ cầm quyền” tư lợi, tàn ác và không có nhân tính.

Một phần của tài liệu Ebook Kẻ ác cạnh bên : Phần 1 (Trang 78 - 84)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(149 trang)