MỘT BƯỚC, TỚI SÀI GÒN

Một phần của tài liệu Đà Lạt, một thời hương xa: Phần 2 (Trang 29 - 37)

Trong sinh hoạt âm nhạc miền Nam trước 1975, cái khoảng cách từ Đà Lạt tới Sài Gòn của những danh ca có lẽ gần hơn nhiều so với khoảng cách địa lý. Hình như, ngoài tài năng ca hát, thì những giá trị đến từ một đô thị cao nguyên yên bình luôn nhận được sự tiếp đón khá ngọt ngào và hào phóng của thị trường, công chúng nơi thành phố phương Nam sôi động.

Những ai mê “đĩa vàng nhạc vàng” ở Sài Gòn trước 1975 hẳn không thể quên hiện tượng thành công khá nhanh chóng của ca sĩ Thanh Tuyền.

Sinh năm 1949, cô gái người Đà Lạt (tên thật là Phạm Như Mai) được trời phú cho giọng ca trong trẻo rất đặc biệt, ví như “một dòng suối trong Đà Lạt”.

Tài năng của Thanh Tuyền phát lộ từ các giải thưởng ca hát cho thiếu nhi và đặc biệt, trong các chương trình biểu diễn văn nghệ ở trường nữ sinh Bùi Thị Xuân, nơi cô học đến trung học. Từ khi còn là học trò, giọng ca đặc biệt của cô đã được lên sóng Đài phát thanh Đà Lạt. Và cũng từ

[Bìa đĩa 45 vòng của Thanh Tuyền do Continential xuất bản. Ảnh tư liệu]

làn sóng Đài Phát thanh Đà Lạt, Thanh Tuyền được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, ông chủ hãng đĩa Continental ở Sài Gòn phát hiện, mời về Sài Gòn.

Chính nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cũng là người dạy thanh nhạc cho ca sĩ này để vững bước vào nghề. Trong những ngày đầu ở Sài Gòn, ngoài việc học thanh nhạc, Thanh Tuyền tiếp tục theo đuổi việc học văn hóa ở trường Lê Văn Duyệt cho đến hết Trung học đệ nhị cấp.

Dù chưa đủ 18 tuổi để hát phòng trà, nhưng Thanh Tuyền được xuất hiện nhiều trên sân khấu, Đài phát thanh Sài Gòn và được “lăng xê” rất nhiều trên báo chí. Dưới đây là một trong những bài báo do nhạc sĩ Bảo Thu viết đăng trên tờ Tiếng Việt nhựt báo do Nguyễn Trung Ngôn làm chủ nhiệm, Nguyễn Lý làm chủ bút, số 111 ra ngày thứ 5, ngày 5-8-1965:

Từ là nữ sinh Bùi Thị Xuân, Đà Lạt… giọng ca Thanh Tuyền đang phát triển mạnh

Muốn nói đến một ca sĩ trẻ đợt sóng mới, với tiếng hát xuất sắc, giọng ngâm ru cảm và… ca cổ cũng điêu luyện, không thể không nghĩ đến Thanh Tuyền, nữ ca sĩ vừa xuất hiện giữa thủ đô hoa lệ hơn 3 tháng nay.

Cô nữ sinh Bùi Thị Xuân (Dalat) xa dần nếp sống học trò sau khi đoạt được một phần đường học vấn (Trung học Đệ nhất cấp) để bước lần sang làng ca nhạc.

Từ khi còn là một nữ sinh má đỏ hây hây, ngày ngày với chiếc áo “len” đen cắp sách đến trường tại thủ phủ miền Cao Nguyên xứ lạnh, nơi sản xuất nhiều hoa cải tươi đẹp, Thanh Tuyền hoạt động văn nghệ mạnh.

Phát giác được giọng ca đầy triển vọng đó, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và Mạnh Phát đã thu nhận nàng làm đệ tử để rồi truyền nghề, trong thời gian ngắn, hai tháng sau Thanh Tuyền đột nhiên xuất hiện trên sân khấu Đ.N.H, cũng như tiếng ca phát hiện trên các làn sóng điện của Đài Phát Thanh.

Giọng ca Thanh Tuyền truyền cảm mãnh liệt với tiếng hát êm ái, giọng ngâm tuy không xuất sắc như một Hoàng Oanh, nhưng cũng đã làm thính giả “hít hà”.

Tiếng ca của cô gái cựu nữ sinh Đà Lạt cũng lấn sang địa hạt cổ nhạc bằng những bản vọng cổ pha tân nhạc được thu vào đĩa nhựa.

Hiện nay, Thanh Tuyền đã chiếm lấy một địa vị khá quan trọng trong làng tân nhạc, một giọng ca lý tưởng đang phát triển mạnh, luôn luôn có mặt trên sân khấu Đ.N.H.

Tánh tình mềm mỏng, dễ mến, cô nữ sinh khả ái của Đà thành đã chiếm nhiều cảm tình khán giả cũng như bạn bè ngoài đời và thường được các bạn bốn phương gửi thơ vào thăm cũng như khích lệ luôn.

Tiếng hát học trò xuất sắc, một giọng vàng mới nở, ai nghe qua vẫn nhớ nhung.

Từ những bài viết “lăng-xê” như thế cộng với sự đỡ đầu chuyên môn của ông chủ hãng đĩa 45 vòng đầy quyền lực trong giới biểu diễn, khoảng giữa thập niên 1960, ca sĩ Thanh Tuyền nhanh chóng trở thành một hiện tượng của tân nhạc miền Nam. Có lúc, cô vừa đảm bảo thu âm theo hợp đồng cho hãng đĩa Continental vừa hát thu âm cho hãng đĩa Asia (Sóng Nhạc) của nhạc sĩ Mạnh Phát. Sau đó, khi đủ tuổi đứng phòng trà, thì cô là giọng ca mà các phòng trà lớn ở Sài Gòn mong muốn sở hữu.

Những tình ca Nỗi buồn hoa phượng của Thanh Sơn, Đà Lạt hoàng hôn của Minh Kỳ - Dạ Cầm được cô thể hiện làm xiêu đổ nhiều con tim mê nhạc vàng thời đó. Sau đó, cô cùng nam ca sĩ Chế Linh làm một cặp đôi tuyệt vời trên sân khấu nhạc vàng Sài Gòn. Đĩa 45 vòng của Continental ra chủ đề Hái trộm hoa rừng của Trương Hoàng Xuân, do Thanh Tuyền và Chế Linh hát đôi là đĩa bán chạy thời cuối thập niên 1960.

Tương tự Thanh Tuyền, Tuấn Ngọc, tên thật Lữ Anh Tuấn một cậu bé con nhà nghề, có gien trội từ người cha (nghệ sĩ Lữ Liên, thành viên nhóm nhạc Thăng Long và AVT) cũng đến với Sài Gòn rất nhanh từ xuất phát điểm là thành phố Đà Lạt.

Nói thêm về nghệ sĩ Lữ Liên. Theo hồi ký Phạm Duy, Lữ Liên nguyên là cầu thủ của đội bóng vô địch Đông Dương là COTONKIN. Cũng như số đông thanh niên thời đó, Lữ Liên ưa thích cuộc đời giang hồ nên đã Nam tiến từ năm 1942 và chọn thành phố cao nguyên Lâm Viên làm nơi neo đậu. Tại Đà Lạt, Lữ Liên làm Nha công chánh, hoạt động trong ban kịch tài tử rồi làm việc tại Đài phát thanh Đà Lạt trước khi vào Sài Gòn, trở thành nghệ sĩ thành công trong thể loại nhạc hài hước (ban AVT). 

Tuấn Ngọc sinh năm 1948. Ông kể trong một bài phỏng vấn: “Tôi sinh ra ở thành phố Đà Lạt và hát trên Đài phát thanh Đà Lạt với tên thật của tôi từ năm 4 tuổi. Năm 6 tuổi, gia đình tôi chuyển vào Sài Gòn. Lúc đó

Sài Gòn có một diễn viên kịch tên là Anh Tuấn nên bố tôi quyết định đặt cho tôi nghệ danh Tuấn Ngọc. Tôi cám ơn bố về điều này. Cái tên Tuấn Ngọc đã theo tôi hơn 50 năm nay và tôi rất yêu thích nó”.142

Sự thành công với Tuấn Ngọc tại Sài Gòn như là một điều hiển nhiên của tài năng và những yếu tố tốt đẹp nhất mà môi trường âm nhạc gia đình và cái nôi đô thị Đà Lạt nuôi dưỡng. 13 tuổi, chàng trai gầy gò phát âm tiếng Anh cực hay đã nổi danh tại các câu lạc bộ tập trung nhiều khán giả Mỹ khó tính ở giữa Sài Gòn. Anh là thành viên của hai ban nhạc The Strawberry Four (tên cũ là The Spotlights; các thành viên: Tùng Giang, Tuấn Ngọc, Đức Huy, Billy Shane) và ban The Top Five (các thành viên:

Tùng Giang, Tuấn Ngọc, Minh Phúc, Thụy Ái, Quốc Hùng) khá đình đám trong giới chơi nhạc trẻ Sài Gòn thập niên 1960-1970. Trước đó, anh từng cộng tác với ban nhạc The Revolution trình diễn hàng đêm tại phòng trà Tự Do. Báo giới Sài Gòn khoảng 1970 gọi Tuấn Ngọc là “đệ nhất danh ca nhạc trẻ Việt Nam”. Trên tờ Màn Ảnh, số 315 ra vào cuối tháng 8-1970, ngay sau sự kiện Billy Shane giải nghệ, Tuấn Ngọc có cuộc trả lời phỏng vấn ký giả Trường Kỳ, trong đó có nêu quan điểm riêng về “nhạc Trẻ”:

“Thật khó thế nào mà định nghĩa được nhạc Trẻ là gì. Là loại nhạc thích hợp với giới trẻ hay là những nhạc phẩm do những người trẻ tuổi trình bầy. Theo tôi, cái nghĩa của nhạc Trẻ rất rộng lớn, vì giới trẻ cũng rất thích những nhạc phẩm êm dịu chứ không phải chỉ thích những loại nhạc ồn ào như Psychedelic chẳng hạn và có thiếu gì những nhạc phẩm do nhiều ca sĩ lớn tuổi trình bầy mà họ cũng rất thích”.

Khi được hỏi về nhạc Psychedelic, Tuấn Ngọc nói: “Thú thật tôi không ưa loại nhạc này, nó ồn ào quá, nghe muốn nhức cả đầu. Có thể là tôi không hiểu nên không thích. Tôi có một nhận xét về loại nhạc này là hình như phần đàn quá lớn át cả giọng ca, nhiều khi chỉ nghe thấy tiếng đàn còn tiếng ca chẳng nghe thấy đâu, và tôi có thể đi đến kết luận là loại nhạc này chú trọng về phần nhạc nhiều hơn là phần ca, vì thế nhiều khi tôi nghĩ hát loại nhạc này rất dễ, ai hát cũng được vì tôi có cảm tưởng như là khán giả không cần để ý tới lời ca”. Tuấn Ngọc, ngay từ thời điểm đó, tuy

[Ca sĩ Tuấn Ngọc đầu thập niên 1970. Ảnh tư liệu]

hát nhạc Tây, được xem là trong trào lưu nhạc Trẻ, nhưng đã thể hiện sự chững chạc, trầm tĩnh, có thể thấy trước chọn lựa con đường riêng – âm nhạc trữ tình – về sau này. “Tôi vẫn tin tưởng ở tài nghệ của tôi. Tôi muốn đứng hát riêng một mình, không phải sử dụng thêm một nhạc khí nào do đó tôi đang có ý định thành lập một ban nhạc theo ý của tôi lựa chọn, lúc đó tài nghệ của tôi mới có cơ hội phát triển đúng mức”, dù rằng, chính danh ca này cũng nhận ra nhược điểm của mình (cho đến sau này vẫn không thay đổi được gì mấy, nhưng đấy lại là phong cách riêng): “Chắc chắn ngoài phần hát tôi thấy cần phải luyện để có được những điệu bộ khi đứng trình diễn trên sân khấu. Tôi phải công nhận là tôi không có điệu bộ khi trình diễn.”143

Con đường âm nhạc của Tuấn Ngọc nhiều ngã rẽ, song thống nhất ở chính phong cách đầy thâm trầm, trữ tình, sang trọng. Khi thể hiện

những bản tình ca buồn và phiêu lãng, chất giọng ông bồng bềnh như miền sương khói trên miền núi đồi, quê xứ - mà ông được sinh ra và nâng bước chân ông đi vào thế giới của âm nhạc.

Ngoài trường hợp Thanh Tuyền và Tuấn Ngọc, thì phổ biến hơn, nhiều người biết rằng, Khánh Ly từng trốn mẹ đón chuyến xe chở rau về Sài Gòn tham gia cuộc thi hát ở đài Pháp Á tại rạp Norodom. Nhưng Khánh Ly neo lại với không gian phòng trà Đà Lạt một thời gian dài vì tình yêu với thành phố này và vì điều kiện riêng tư, cho đến khi cô rời xa được đô thị nhỏ bé trên cao nguyên để về Sài Gòn thì quá nhiều cơ hội trở thành một hiện tượng. Một trong những cơ hội đó chính là cuộc gặp lại Trịnh Công Sơn, người mà đầu thập niên 1960, cô đã từng gặp tại Đà Lạt trong thời kỳ tuổi trẻ phiêu dạt vô hướng.

[Lê Uyên-Phương nhanh chóng thành công tại Sài Gòn vào khoảng đầu thập niên 1970. Ảnh tư liệu]

Lê Uyên-Phương, Từ Công Phụng… cũng là những trường hợp tương tự.

Khi nhìn lại những hiện tượng âm nhạc xuất phát điểm từ Đà Lạt nhưng “một bước tới Sài Gòn”, có thể lý giải được gì? Một môi trường lý tưởng để những tài năng phát tiết, đó là những chương trình âm nhạc trên Đài phát thanh Đà Lạt, những chương trình sinh hoạt văn nghệ cởi mở, sáng tạo trong các trường, viện và những cuộc thi âm nhạc trong thành phố cùng các phòng trà - chính là không gian mà đô thị nhỏ bé và có vẻ như biệt lập trên núi cao này nuôi dưỡng và tiến cử được những tài năng của mình. Điều kiện khí hậu, khung cảnh lãng mạn để những cư dân được sinh ra, những người mới đến có thể cất lên giọng rung ngân chân thật của tâm hồn hòa điệu với khí trời. Và cuối cùng, họ mang những lợi thế, vốn liếng đó đến với một thành phố sôi động, nơi những cư dân đã luôn sẵn dành cho miền đô thị trên núi cao những cảm tình tốt đẹp.

Sự tỏa sáng, có khi chỉ cần một khoảng thời gian, một bước đi rất ngắn.

Một phần của tài liệu Đà Lạt, một thời hương xa: Phần 2 (Trang 29 - 37)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(213 trang)