DU LỊCH ĐÀ LẠT ĐẦU THẬP NIÊN 1970

Một phần của tài liệu Đà Lạt, một thời hương xa: Phần 2 (Trang 171 - 177)

Đầu thập niên 1970, Bộ Du lịch Quốc gia của Việt Nam Cộng hòa (The National Tourist Office) có xuất bản một tập sách chuyên đề, tựa Da Lat. Đây là một ấn phẩm giới thiệu về du lịch Đà Lạt được biên soạn bằng tiếng Anh, khá vắn tắt nhưng đầy đủ thông tin tiện ích cho du khách muốn du ngoạn, khám phá Đà Lạt vào thời điểm đó.

Bìa tập sách này in tranh của họa sĩ Nguyễn Văn Trung, màu sắc khá tươi tắn, bố cục uyển chuyển, mô tả điệu luân vũ của năm nàng sơn nữ.

Phông nền bức tranh là cảnh rừng thông, đại ngàn, thác nước. Bức tranh gợi một hình dung nào đó về người bản địa. Song, điều đáng nói trong bức tranh này, về kiểu trang phục và đạo cụ trong vũ điệu lại không giống người Lạch và người Cil – hai thành phần dân tộc chính cư trú ở vùng núi Lang Bian – mà giống người Chăm ở vùng duyên hải Phan Rang nhiều hơn175. Có lẽ bức họa chỉ mang nét ước lệ, song cũng cho thấy Đà Lạt lúc bấy giờ, ngoài một hình dung về nơi chốn tiêu dao nghỉ dưỡng theo mô hình đô thị đậm nét phương Tây, thì văn hóa cư dân bản địa vẫn là một địa hạt hãy còn xa lạ và bí ẩn, đáng để khám phá.

Quyển sách giới thiệu du lịch Đà Lạt này cung cấp những dữ liệu cơ bản về lịch sử hình thành vùng đất và tên gọi Đà Lạt, tổng quan địa lý,

đặc điểm khí hậu, các con sông, hệ thảo mộc, thành phần dân tộc và các hướng giao thông.

Đặc biệt chú ý bảng thông tin khí hậu Đà Lạt lúc bấy giờ, trung bình trong năm: 18°33 C, trung bình mùa hè: 19°6 C và trung bình mùa đông:

16°4C. Trong năm có hai mùa: mùa mưa từ tháng Năm đến tháng Mười Một, còn lại là mùa nắng. Một nền nhiệt độ khá hài hòa, lý tưởng cho du lịch.

Hệ thống những hồ nước nối thông nhau trong thành phố làm nên một hệ sinh thái đặc thù. Vì thế, cuốn sách cũng cung cấp những thông tin về các ao hồ trong thành phố như hồ Mê Linh, hồ Xuân Hương (trong sách này gọi là Dalat artificial Lake, hồ nhân tạo), hồ Lam Sơn, hồ Đa Thành, hồ Ankroet và hồ Than Thở (Lake of sighs). Hệ thảo mộc phong phú với thông, tùng, cây hạt dẻ, rau quả và hoa anh đào làm nên vẻ đẹp tự nhiên của Đà Lạt.

Những thắng cảnh như thác Cam Ly, hồ Than Thở, thung lũng Tình Yêu và núi Lang Bian cùng những huyền thoại được mô tả khá chi tiết trong cuốn sách này cùng nhiều hình ảnh đen trắng nhưng đầy sống động.

[Thác Pongour, 1968. Ảnh: Bill Robie]

Các ngọn thác ở khu vực lân cận cũng được mô tả cùng những thông tin vắn tắt để khách tiện tham quan. Ví dụ: Thác Liên Khang (nay gọi là Liên Khương, thuộc huyện Đức Trọng) cách Đà Lạt 30 km, thác Datagna (nay gọi là Datanla, cửa ngõ vào Đà Lạt) cách trung tâm Đà Lạt 6km “con thác này đặc biệt mát mẻ và yên tĩnh, du khách thích thú khi tắm ở đây”, thác Gougah cách Đà Lạt 38 km “một ngọn thác tráng lệ với những tầng nước hiểm trở”, thác Pongour cách Đà Lạt 40km, “một ngọn thác hoang dã” và thác Ankroet cao 18m, nằm trên đường từ Đà Lạt đi Dankia “có một đập thủy điện ở đây cung cấp điện cho thành phố Đà Lạt”.

Lúc bấy giờ có ba cách để từ Sài Gòn đến Đà Lạt: Đường bộ theo hướng B’lao, Di Linh, dài 305 km; nếu theo hướng Phan Thiết, Phan Rang, khoảng gần 400 km. Xe lửa từ Sài Gòn đến Tháp Chàm rồi sang tàu Tháp Chàm - Đà Lạt hoặc đường hàng không, bay từ Sài Gòn đến Liên Khương. Đà Lạt có sân bay Cam Ly nhưng chủ yếu được sử dụng cho mục đích quân sự.

Những nơi lưu trú và dịch vụ ăn uống cũng được giới thiệu trong cuốn sách này khá đầy đủ. Bộ Du lịch Quốc gia có giới thiệu đặc biệt hai khách sạn cao cấp Lâm Viên và Hoa Viên ở số 2 và 17 đường Yersin.

Ngoài ra, còn có thông tin giá cả các khách sạn bình dân khác như Thanh Đô, Chic Shanghai, Nam Tân Lữ Quán, Cao Nguyên... Các nhà hàng được giới thiệu trong sách này gồm Lâm Viên, Mékong, Shanghai.

Những hình ảnh trong sách tập trung vào mô tả các công trình kiến trúc, thế giới tự nhiên hoang dã (có bức ảnh chụp một chú hươu trên núi Lang Bian khá đẹp) và sinh hoạt của người dân tộc bản địa.

Nhân nói tới cuốn cẩm nang du lịch trên, tôi xin hệ thống lại một số điểm đến dịch vụ quán sá, nhà hàng, hiệu buôn… nổi tiếng. Thông tin thu thập từ ký ức cư dân, du khách từng gắn bó với Đà Lạt giai đoạn trước 1975.

Nhà hàng, quán ăn ngon: Chic Shanghai, Bảy Kỷ, L’eau vive, Dalat Palace, Nam Sơn, Mékong, Thiên Nga, Mỹ Quang, Kim Linh, Như Ý, Đông Hải, Bắc Hương, Thanh Phương, Mỹ Hương, Vinh Hòa…

Tiệm mì Thạnh Ký, mì quảng bên hông rạp Ngọc Hiệp, hủ tiếu Nam Vang, phở Bằng, Phi Thuyền, Bắc Huỳnh, Đắc Tín, bún riêu Thành Công…

Vũ trường, phòng trà: Đào Nguyên, La Tulipe Rouge, Night Club,…

Rạp chiếu bóng: Hòa Bình, Ngọc Hiệp, Ngọc Lan và một số rạp mini.

Khách sạn, điểm lưu trú nổi tiếng: Dalat Palace, Mộng Đẹp, Sanc Souci, Duy Tân, Thủy Tiên, Mimosa, Cẩm Đô, Hòa Bình, Vinh Quang, Cao Nguyên…

Cà phê: Tùng, Las Vegas, Domino, Shanghai, Mékong, Hạnh Tâm, T.Đ, Lục Huyền Cầm, Văn, Vui, Thủy Tạ, Tình, Nhớ,…

Dịch vụ tắm nước nóng: Đồng Tiến, Ninh Thuận, Việt Trang, Vinh Quang, Minh Tâm.

Ảnh viện: Dalat Photo, Đại Việt, Belle Photo, Nam Sơn, Mỹ Dung, Lợi Ký…

Nhà sách: Thiên Nhiên, Nhân Văn, Liên Thanh, Thiên Hương, Hòa Bình, Tuyên Đức, Hồng, Khải Minh, Minh Tâm, Minh Thu, Khai Trí.

Hiệu may: Tân Tân, Oscar, Văn Minh, Tân Việt, Nam Sơn,…

Hiệu bán máy móc, thiết bị âm thanh: Radio Việt Hoa.

Xe khách: Minh Trung.

Một phần của tài liệu Đà Lạt, một thời hương xa: Phần 2 (Trang 171 - 177)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(213 trang)