Theo khuyến cáo 75-80% giá trị sử dụng các thuốc hạng A tương ứng với 10-20% khoản mục, 15-20% giá trị sử dụng các thuốc hạng B tương ứng với 10-20% khoản mục, và 5-10% giá trị sử dụng các thuốc hạng C tương ứng với 60-80% khoản mục. Kết quả phân tích ABC của Trung tâm cho thấy, 79,6% giá trị sử dụng các thuốc hạng A tương ứng với 25% khoản mục, 15%
giá trị sử dụng các thuốc hạng B tương ứng với 22,4% khoản mục, 5,4% giá trị sử dụng các thuốc hạng C tương ứng với 52,6% khoản mục. Đối chiếu với hướng dẫn phân tích ABC quy định tại Thông tư 21/2013/TT-BYT cho thấy danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm theo phân tích ABC là chƣa hợp lý về khoản mục, các thuốc hạng A và hạng B chiếm tỷ lệ cao hơn quy định, đặc biệt là thuốc hạng A cao hơn so với tỷ lệ quy định thông thường là 5%. Điều này cho thấy sự dàn trải trong mua sắm thuốc tại Trung tâm.
Các thuốc hạng A có GTSD lớn nên việc giảm số lƣợng khoản mục các thuốc hạng A có ý nghĩa rất lớn đối với việc giảm chi phí sử dụng thuốc cho Trung tâm.Vì vậy trong những năm tới Trung tâm cần điều chỉnh cơ cấu các thuốc hạng A và hạng B giảm xuống theo tỷ lệ quy định, nhằm tối ƣu hóa việc sử dụng kinh phí có hiệu quả tránh lãng phí, đảm bảo công tác cung ứng thuốc chất lƣợng, hiệu quả. Đồng thời cân nhắc nhập các thuốc hạng A với tần xuất thường xuyên hơn, và với số lượng nhỏ hơn nhằm giảm lượng hàng tồn kho từ đó giảm nguồn chi phí tồn kho, giúp sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách của Trung tâm.
Khi so sánh với kết quả phân tích ABC tại Trung tâm y tế thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 2019 các thuốc thuộc nhóm A, B, C lần lƣợt chiếm 25,8%;
22,1% và 52,1% tổng số khoản mục thuốc [17]. Tại Trung tâm y tế huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên năm 2019 các thuốc thuộc nhóm A, B, C lần lƣợt chiếm 16,3%, 21,4%, 62,27% tổng số khoản mục thuốc [21]. Cho thấy thuốc nhóm
61
A và nhóm B của Trung tâm y tế thành phố Hải Dương đều cao hơn của Trung tâm Y tế huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang, và Trung tâm y tế huyện Văn Giang tỉnh Hƣng Yên .
Nhóm A là nhóm chiếm tỷ trọng lớn về chi phí sử dụng thuốc (chiếm 79,6% GTSD), gồm 39 khoản mục thuốc chiếm 25% tổng SKM thuốc của Trung tâm. Phân tích chi tiết cụ thế 10 thuốc có GTSD cao nhất nhóm A cho thấy, có 10 thuốc hạng A nhƣng có tới 3 thuốc thuộc nhóm thuốc cổ truyền đó là các thuốc Ceginkton có GTSD chiếm 6,4%, Diệp Hạ Châu chiếm 5,8%, Tuần hoàn não Thái Dương chiếm 3,5% GTSD của cả nhóm. Đây đều là các thuốc chỉ có tác dụng bổ trợ cho các thuốc hóa dƣợc, chƣa có tác dụng điều trị rõ ràng, nhƣng nguồn kinh phí bỏ ra lại rất lớn. Vì vậy việc tập trung nguồn kinh phí lớn vào các thuốc này là chƣa thực sự hợp lý. Trung tâm cần xem xét hạn chế sử dụng, kiểm soát chặt chẽ việc kê đơn các thuốc trên để giảm thiểu chi phí trong sử dụng thuốc.
Đồng thời khi phân tích 10 thuốc có GTSD cao nhất nhóm A thấy có 2 thuốc Betahema và Relipoietin 2000IU là 2 thuốc đều có cùng hoạt chất Erythropoietin, cùng hàm lượng 2000IU, cùng đường dùng, nhưng giá thành chênh lệch nhau tới 91.000 đồng. Nếu bệnh viện cân nhắc sử dụng thuốc Relipoietin 2000IU có giá 128.000 đồng để thay thế cho thuốc Betahema có giá 219.000 đồng thì Trung tâm có thể tiết kiệm đƣợc chi phí hơn 500 triệu đồng.
4.2.2. Về phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phân tích VEN
Thông thường các thuốc V chiếm khoảng 5% tổng số sản phẩm, thuốc E chiếm khoảng 90% và thuốc N chiếm khoảng 5%.
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương bằng phân tích VEN cho kết quả nhƣ sau: Nhóm thuốc thiết yếu (E) có số lƣợng khoản mục và giá trị sử dụng nhiều nhất, chiếm 80,1% về số khoản mục và 77% về giá trị sử dụng.Nhóm thuốc không thiết yếu (N) có số
62
lƣợng khoản mục chiếm 14,8% và có giá trị sử dụng chiếm 20,3%. Nhóm thuốc tối cần (V) có số lƣợng khoản mục ít nhất chiếm 5,1%, có giá trị sử dụng chiếm 2,7%. Nhƣ vậy Trung tâm chƣa thực hiện tốt quy định về việc sử dụng thuốc theo phân tích VEN, các thuốc nhóm N có số khoản mục và GTSD chiếm tỷ lệ cao.
Kết quả phân tích nhóm thuốc không thiết yếu (N) của Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương cao hơn Trung tâm Y tế thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, về số khoản mục chiếm 14,3%, nhƣng GTSD lại thấp hơn của Trung tâm Y tế thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh chiếm 21,3% [17]. Cao hơn kết quả phân tích của Trung tâm Y tế huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang, thuốc nhóm N chiếm 7,9% về số khoản mục và 8,4% về tổng giá trị sử dụng [24].
4.2.3. Về phân tích ma trận ABC/VEN
Kết quả phân tích cho thấy, ở cả 3 hạng A, B, C, thuốc nhóm E chiếm nhiều nhất cả về số lƣợng khoản mục và giá trị sử dụng. Thuốc nhóm V chiếm tỷ lệ tương đối thấp. Tuy nhiên cần phải quan tâm đến việc đặt hàng và dự trữ trong kho các thuốc nhóm này một lƣợng an toàn vì đây là nhóm thuốc dùng để cứu sống người bệnh không thể thiếu trong điều trị.
Khi phân tích danh mục thuốc bằng ma trận ABC/VEN cho thấy việc sử dụng thuốc trong phân nhóm thuốc AN tại Trung tâm còn nhiều bất cập.
Đây là nhóm có chi phí cao nhƣng không thực sự cần thiết cho điều trị bởi tác dụng điều trị không rõ ràng.
Trong năm 2020 Trung tâm sử dụng 6 thuốc thuộc nhóm AN, chiếm 3,8% số khoản mục thuốc sử dụng tại Trung tâm, nhƣng chi phí sử dụng nhóm thuốc này lên đến hơn 2,7 tỷ đồng chiếm tới 16,7% tổng chi phí sử dụng thuốc. Phân tích cụ thể các thuốc trong phân nhóm AN cho thấy nhóm có 6 thuốc nhƣng có tới 5 thuốc thuộc nhóm thuốc cổ truyền.Trong đó lại có 3 thuốc có tác dụng tương tự nhau đó là thuốc Ceginkton, Hoạt huyết CM3, Tuần hoàn não Thái Dương. Vì vậy Trung tâm cần hạn chế sử dụng, hoặc
63
xem xét loại bỏ bớt các thuốc nhóm AN ra khỏi danh mục, đồng thời kiểm soát tốt việc kê đơn các nhóm thuốc này tránh lựa chọn cung ứng các thuốc thuốc cổ truyền có chi phí cao nhằm tiết kiệm nguồn ngân sách, phù hợp với khả năng chi trả của quỹ Bảo hiểm y tế.
So sánh với một số trung tâm, Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương có số khoản mục và giá trị nhóm AN cao hơn một số Trung tâm nhƣ Trung tâm Y tế huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang năm 2019 gồm 5 thuốc nhóm AN và có giá trị sử dụng là 1.176.397 nghìn đồng [24]. Trung tâm Y tế huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên năm 2019 gồm 3 thuốc nhóm AN và có giá trị sử dụng là 630.284 nghìn đồng [21].