Về cơ cấu số lƣợng và giá trị của danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương năm 2020 theo một số chỉ tiêu

Một phần của tài liệu ĐỖ THỊ PHƢỢNG PHÂN TÍCH DANH mục THUỐC đã sử DỤNG tại TRUNG tâm y tế THÀNH PHỐ hải DƢƠNG năm 2020 LUẬN văn dƣợc sĩ CHUYÊN KHOA cấp i (Trang 61 - 68)

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương theo nguồn gốc gồm 3 nhóm: Thuốc hóa dƣợc, thuốc cổ truyền và vị thuốc cổ truyền đƣợc sử dụng phù hợp so với mô hình bệnh tật của Trung tâm. Việc sử dụng thêm các thuốc cổ truyền bổ trợ cho các thuốc hóa dƣợc trong kê đơn ngoại trú chủ yếu là các bệnh liên quan đến tuổi già vì vậy việc kê đơn các thuốc cổ truyền nhằm đáp ứng nhu cầu người bệnh đến khám chữa bệnh. Trong đó thuốc hóa dược và thuốc cổ truyền đƣợc sử dụng là chủ yếu, vị thuốc cổ truyền sử dụng rất ít.

Nhóm thuốc hóa dƣợc với 140 khoản mục và có GTSD là 13.395.035 nghìn đồng chiếm tỷ lệ 81,2% tổng GTSD, thấp hơn Trung tâm Y tế huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam năm 2019 (84,07%) [28], thấp hơn Trung tâm Y tế huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang năm 2019 (93%) [24].

Nhóm thuốc cổ truyền với giá trị sử dụng là 2.920.927 nghìn đồng chiếm tỷ lệ 17,7% cao hơn Trung tâm Y tế huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam năm 2019 (15,93%) [28], cao hơn Trung tâm Y tế huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang năm 2019 (6,9%) [24].

4.1.2. Về cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý

* Về thuốc hóa dƣợc

Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, Danh mục thuốc hóa dƣợc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương năm 2020 gồm 140 khoản mục thuốc thuộc 12 nhóm tác dụng dƣợc lý. Kinh phí sử dụng thuốc chủ yếu tập trung vào 5 nhóm thuốc: nhóm thuốc tim mạch, nhóm Hocmon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết; thuốc tác dụng đối với máu; nhóm thuốc điều trị điều

54

trị ký sinh trùng chống nhiễm khuẩn, thuốc đường tiêu hóa. Giá trị sử dụng của 5 nhóm này chiếm tỷ lệ 68,4% tổng giá trị sử dụng thuốc của Trung tâm.

So sánh với mô hình bệnh tật của Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương năm 2020, các nhóm bệnh có tỷ lệ mắc cao là Bệnh nội tiết, dinh dƣỡng, chuyển hóa; Bệnh của hệ tuần hoàn; Bệnh của hệ hô hấp. Nhƣ vậy, kết quả sử dụng thuốc hóa dƣợc là khá phù hợp với mô hình bệnh tật của Trung tâm.

Tuy nhiên khi phân tích cụ thể nhóm thuốc có chi phí sử dụng cao nhất trong nhóm thuốc hóa dƣợc là nhóm thuốc tim mạch, thấy nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp (thuộc nhóm thuốc tim mạch) có giá trị sử dụng chiếm tới 54,2% của cả nhóm.Trong đó hai thuốc có GTSD cao nhất đó là thuốc Ebitac 12.5 chiếm tỷ lệ 39,8% và thuốc Ebitac 25 chiếm tỷ lệ 19,9% tổng GTSD của cả nhóm.Hai thuốc này tuy không có số lƣợng sử dụng cao nhất nhƣng lại có GTSD cao nhất nhóm là do thuốc có giá thành cao Ebitac 12.5 có giá 3400 đồng/viên , còn Ebitac 25 có giá 3450 đồng/viên. Vì vậy Trung tâm cần cân nhắc lựa chọn thay thế hai thuốc này bằng các thuốc khác có tác dụng điều trị tương đương nhưng giá thành rẻ hơn.

Nhóm thuốc tim mạch chiếm tỷ lệ 14,1% tổng số khoản mục, đồng thời có giá trị sử dụng cao nhất chiếm tỷ lệ 17,4% tổng giá trị sử dụng thuốc hóa dƣợc. Kết quả này thấp hơn một số Trung tâm tuyến huyện, Trung tâm Y tế huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang, về số lƣợng khoản mục chiếm 22,1% và 31,45% về giá trị sử dụng [24]. Trung tâm Y tế huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên về giá trị sử dụng chiếm 23,2% [21].

Bên cạnh nhóm thuốc tim mạch, thì các nhóm Hocmon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết (có GTSD chiếm tỷ lệ 16,7%); Nhóm thuốc tác dụng đối với máu (GTSD chiếm tỷ lệ 16,5%); Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng chống nhiễm khuẩn (GTSD chiếm tỷ lệ 12,3%).

* Về thuốc cổ truyền

55

Nhóm thuốc cổ truyền có 16 khoản mục chiếm tỷ lệ 10% nhƣng lại có giá trị sử dụng tương đối cao 2.920.927 nghìn đồng chiếm tỷ lệ 17,9% và đƣợc chia làm 7 nhóm tác dụng dƣợc lý theo Thông tƣ 05/2015/TT-BYT.

Theo tiêu chí lựa chọn thuốc trong xây dựng danh mục thuốc dùng trong bệnh viện, quy định tại Thông tƣ 21/2013/TT-BYT đó là lựa chọn các thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị. Tuy nhiên các thuốc nhóm Thuốc cổ truyền chƣa có tác dụng điều trị rõ ràng chỉ có tác dụng hỗ trợ điều trị cho các thuốc nhóm hóa dƣợc và đƣợc dùng cấp phát thuốc bảo hiểm ngoại trú là chính. Nhƣng GTSD của nhóm lại chiếm tới 17,9% tổng chi phí sử dụng thuốc. Nhƣ vậy việc thực hiện sử dụng các thuốc nhóm Thuốc cổ truyền của Trung tâm chƣa đƣợc tốt theo quy định của Bộ Y tế. Trung tâm cần hạn chế sử dụng các thuốc này nhằm giảm chi phí sử dụng thuốc, giúp sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách.

Các thuốc cổ truyền tập trung nhiều vào 3 nhóm thuốc: Lớn nhất là nhóm thuốc an thần định chí dƣỡng tâm với 4 loại thuốc chiếm tỷ lệ 2,6% về số khoản mục và 8,3% về giá trị sử dụng. Tiếp đến là nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy có giá trị sử dụng chiếm tỷ lệ 5,3%. Thứ 3 là nhóm thuốc khu phong trừ thấp chiếm tỷ lệ 2,4% về giá trị sử dụng.

So sánh kết quả nghiên cứu khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của Trung tâm y tế huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương [20], GTSD nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy chiếm tỷ lệ 6,7%, tiếp đến là nhóm an thần, định chí, dƣỡng tâm có GTSD chiếm 6,7%.

4.1.3. Về cơ cấu thuốc sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ

Ưu tiên lựa chọn thuốc sản xuất trong nước là một trong những tiêu chí trong lựa chọn thuốc thành phẩm sử dụng trong các cơ sở khám chữa bệnh đƣợc quy định tại Thông tƣ 21/2013/TT-BYT [5]. Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện cho thấy, tỷ lệ số khoản mục thuốc sản xuất trong nước chiếm tới 65,4% cao gấp khoảng gần 2 lần thuốc nhập khẩu (34,6%). Trung tâm đã có

56

sự ưu tiên, chú trọng việc sử dụng thuốc sản xuất trong nước trong quá trình điều trị, giúp giảm thiểu chi phí điều trị cho bệnh nhân. Nhƣ vậy Trung tâm đã thực hiện tốt việc sử dụng sử dụng thuốc theo nguồn gốc xuất xứ, theo đúng quy định của Bộ Y tế.

Tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước của Trung tâm y tế Thành phố Hải Dương cao hơn so với Trung tâm Y tế thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 2019 [17], thuốc sản xuất trong nước của Trung tâm Y tế thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 2019 chiếm 60,8% số khoản mục. Đồng thời cũng cao hơn Bệnh viện đa khoa huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng năm 2019, thuốc sản xuất trong nước của Bệnh viện đa khoa huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng chiếm 61,3% về số lƣợng khoản mục và 41,6% về GTSD [29].

Tuy tỷ lệ số khoản mục thuốc sản xuất trong nước chiếm cao gấp khoảng gần 2 lần thuốc nhập khẩu , nhƣng về mặt tỷ lệ giá trị sử dụng của thuốc sản xuất trong nước (49,5%) và thuốc nhập khẩu (50,5) xấp xỉ tương đương nhau không chênh lệch nhiều do giá thành của các thuốc nhập khẩu tương đối cao đồng thời các thuốc nhập khẩu lại tập trung vào 3 nhóm là:nhóm thuốc tim mạch, nhóm thuốc tác dụng đối với máu và nhóm Hocmon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết đây là các nhóm có số lƣợng thuốc sử dụng nhiều, vì vậy mà thuốc nhập khẩu tuy có số khoản mục dùng ít, nhƣng lại có GTSD cao hơn.

Trong điều kiện hiện nay, khi chƣa có một bằng chứng rõ ràng chứng minh rằng các thuốc ngoại đều có hiệu quả điều trị hơn các thuốc sản xuất trong nước, việc sử dụng nhiều các thuốc ngoại nhập vẫn còn là vấn đề bất cập làm gia tăng chi phí sử dụng thuốc. Vì vậy Trung tâm cần điều chỉnh để sử dụng nguồn kinh phí cho hợp lý.

4.1.4. Về cơ cấu thuốc hóa dược sử dụng theo tên gốc và tên thương mại Tiêu chí lựa chọn thuốc sử dụng trong bệnh viện của Bộ Y tế đƣa ra là:

ƣu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế

57

tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể (hay còn gọi là tên thương mại) [5].

Tuy nhiên thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương lại mang tên thương mại nhiều hơn tên gốc. Các thuốc mang tên thương mại tập trung ở hầu hết các nhóm thuốc, trong 140 khoản mục thuốc hóa dƣợc đã sử dụng tại Trung tâm chỉ có 11 thuốc mang tên gốc chiếm tỷ lệ 7,9%, nhƣng có tới 129 thuốc mang tên thương mại chiếm tỷ lệ 92,1%.

Thực tế hiện nay, rất ít công ty dƣợc phẩm sản xuất ra sản phẩm mang tên gốc mà luôn phải tạo thương hiệu riêng cho sản phẩm. Mặt khác, tỷ lệ này cũng bị ảnh hưởng bởi kết quả đấu thầu hàng năm của Sở Y tế Hải Dương, khi xây dựng danh mục thuốc đấu thầu hàng năm, bệnh viện chỉ lựa chọn tên hoạt chất, không lựa chọn tên thuốc cụ thể.

So sánh kết quả nghiên cứu thấy tỷ lệ thuốc sử dụng theo tên gốc tại Trung tâm thấp hơn một số Trung tâm khác, nhƣng tỷ lệ thuốc sử dụng theo tên thương mại lại cao hơn. Tại Trung tâm y tế huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn năm 2019 tỷ lệ thuốc sử dụng theo tên gốc chiếm 25,6% về số khoản mục và 24,6% về GTSD, còn tỷ lệ thuốc sử dụng theo tên thương mại chiếm 74,4% về số khoản mục và 75,4% về GTSD [16]. Tại Trung tâm y tế huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương năm 2017 tỷ lệ thuốc sử dụng theo tên gốc chiếm 33,2% về số khoản mục và 17,6% về GTSD, còn tỷ lệ thuốc sử dụng theo tên thương mại chiếm 66,8% về số khoản mục và 82,4% về GTSD [20]

4.1.5. Về cơ cấu thuốc generic và thuốc biệt dược gốc

Bộ Y tế ban hành Thông tƣ 21/2013/TT-BYT quy định ƣu tiên sử dụng thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế [5]. Do thuốc generic có giá thành thấp hơn rất nhiều so với thuốc biệt dƣợc gốc nên đƣợc khuyến khích sử dụng để giảm thiểu chi phí điều trị.

Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương đã chú trọng ƣu tiên sử dụng thuốc generic trong điều trị với tỷ lệ thuốc generic đƣợc sử dụng rất cao Trong 140 khoản mục thuốc hóa dƣợc sử dụng có tới 136 thuốc là thuốc

58

Generic chiếm tỷ lệ 97,2% tổng số khoản mục thuốc, và chiếm tới 99,6% tổng giá trị sử dụng. Trung tâm chỉ sử dụng 4 thuốc biệt dƣợc gốc chiếm 2,8% tổng số khoản mục và giá trị sử dụng của nhóm này rất thấp, chiếm 0,4%. Nhƣ vậy Trung tâm đã thực hiện tốt quy định của Bộ Y tế về ƣu tiên lựa chọn thuốc Generic trong điều trị [5].

So sánh kết quả nghiên cứu thấy tỷ lệ sử dụng thuốc Generic của Trung tâm y tế Thành phố Hải Dương cao hơn so với một số Trung tâm tuyến huyện khác. Tại Trung tâm Y tế huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam năm 2019, thuốc Generic chiếm 96,9% tổng số khoản mục và chiếm 97,7% tổng giá trị sử dụng [28], của Bệnh viện đa khoa huyện Thủy Nguyên Thành Phố hải Phòng năm 2019, thuốc generic chiếm 91,5% về số khoản mục và giá trị sử dụng chiếm 87,8% [29].

4.1.6. Về cơ cấu thuốc sử dụng theo đường dùng

Theo hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh của Bộ Y tế, “Chỉ dùng đường tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng được yêu cầu điều trị hoặc với thuốc chỉ dùng đường tiêm” [2].

Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương năm 2020 cho thấy Trung tâm đã thực hiện tốt quy định về việc sử dụng thuốc theo đường dùng theo quy định của Bộ Y tế. Cụ thể thuốc sử dụng theo đường uống có tỷ lệ cao nhất, chiếm tỷ lệ 64,7% về số khoản mục và 68,7% về GTSD. Sau đó đến đường tiêm và tiêm truyền có tỷ lệ số lượng khoản mục là 28,2% và tỷ lệ giá trị sử dụng là 30,7%. Thuốc sử dụng theo đường dùng khác như đặt, xịt họng, xịt mũi, nhỏ mắt, dùng ngoài… chiếm tỷ lệ rất thấp 7,1% về tỷ lệ số lƣợng khoản mục và 0,6% về tỷ lệ giá trị sử dụng.

Kết quả này khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của một số Trung tâm nhƣ Trung tâm Y tế huyện Mường Ăng tỉnh Điện Biên năm 2019, thuốc sử dụng theo đường uống có tỷ lệ cao nhất chiếm 60,3% về số lượng khoản mục

59

và 64,8% về giá trị sử dụng. Thuốc sử dụng theo đường tiêm chiếm 28,9% về số lượng khoản mục và 32,2% về giá trị sử dụng [18]. Tương tự, tại Trung tâm y tế thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 2019, thuốc sử dụng theo đường uống chiếm 56,5% về số lƣợng khoản mục và 62,7% về giá trị sử dụng.

Thuốc sử dụng theo đường tiêm chiếm 30,3% về số lượng khoản mục và 31,3 về giá trị sử dụng [17].

Sử dụng đường tiêm có ưu điểm là sinh khả dụng cao, thời gian xuất hiện tác dụng nhanh, phù hợp với các bệnh nhân không uống đƣợc và các thuốc không hấp thu đường uống. Tuy nhiên đường tiêm cũng có nhược điểm nhƣ giá trị sử dụng cao, độ an toàn thấp dễ gây sốc, gây đau khi tiêm, dễ nhiễm trùng nơi tiêm và khó sử dụng cho bệnh nhân [19]. Vì vậy, cần cân nhắc giữa yếu tố nguy cơ và lợi ích để lựa chọn đường dùng thuốc phù hợp nhất cho bệnh nhân.

4.1.7. Về cơ cấu thuốc hóa dược sử dụng theo thành phần

Trong danh mục thuốc hóa dƣợc sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương, thuốc đơn thành phần chiếm tỷ lệ lớn về số khoản mục là 118 chiếm tỷ lệ 84,3% và có giá trị là 10.533.058 nghìn đồng chiếm tỷ lệ 78,6%.

Còn lại là thuốc đa thành phần có số khoản mục là 22 chiếm tỷ lệ 15,7% và giá trị sử dụng là 2.861.976 nghìn đồng chiếm tỷ lệ 21,4%.

Như vậy Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương đã thực hiện tốt quy định về việc ƣu tiên sử dụng thuốc đơn thành phần trong điều trị cho bệnh nhân đáp ứng đúng quy định của BYT theo Thông tƣ 21/2013/TT-BYT quy định ƣu tiên sử dụng thuốc ở dạng đơn chất [5]. Đối với những thuốc ở dạng phối hợp, nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lƣợng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị và phải có lợi thế vƣợt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng hơn so với dạng đơn chất [5]. Điểm này cần duy trì thực hiện liên tục tại Trung tâm.

60

Một phần của tài liệu ĐỖ THỊ PHƢỢNG PHÂN TÍCH DANH mục THUỐC đã sử DỤNG tại TRUNG tâm y tế THÀNH PHỐ hải DƢƠNG năm 2020 LUẬN văn dƣợc sĩ CHUYÊN KHOA cấp i (Trang 61 - 68)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(93 trang)