Chương 1. TỔNG QUAN 1.1. Hoạt động xây dựng danh mục thuốc bệnh viện
1.3. Thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện ở nước ta hiện nay
Tổng kinh phí mua thuốc của 1018 bệnh viện trên cả nước (năm 2010) là khoảng 15.000 tỷ đồng, trong đó 92% kinh phí là ở khối bệnh viện công lập [5]. Cùng đánh giá Chính sách thuốc Quốc Gia của Cục Quản Lý Dược Việt Nam phối hơp với Viện Chiến Lược và Chính sách y tế, hỗ trợ bởi Tổ chức Y
15
tế thế giới thì năm 2010 tại các bệnh viện ở Việt Nam có chi phí tiền thuốc so với tổng chi phí thường xuyên của bệnh viện lên đến 58%. Các báo cáo của Bộ Y tế qua các năm cho thấy tiền mua thuốc của các bệnh viện tăng cả về số lượng và tỷ trọng so với tổng kinh phí các bệnh viện.
Theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2009, 2010 của cục quản lý Khám chữa bệnh - Bộ Y tế tổng giá tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện chiếm tỷ trọng 47,9% (năm 2009 ) và 58,7% (năm 2010) tổng giá trị tiền viện phí hàng năm [22], [6]. Theo Tiến sĩ Cao Minh Quang “Tổng giá trị sử dụng thuốc trong các bệnh viện trên cả nước 2010 là 15.300 tỷ đồng tập trung chủ yếu ở Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh [29].
1.3.1. Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh
Theo kết quả nghiên cứu của các bệnh viện, kinh phí mua thuốc kháng sinh chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng. Nguyên nhân là do việc sử dụng tràn lan, lạm dụng kháng sinh phổ rộng, điều trị bao vây dẫn đến gia tăng các tác dụng không mong muốn và tình trạng kháng kháng sinh.
Hiện nay, thuốc kháng sinh đang được lựa chọn như một giải pháp phổ biến.
WHO vẫn khuyến cáo thực trạng kê đơn kháng sinh đáng lo ngại trên toàn cầu, tới mức trung bình 30-60% bệnh nhân được kê thuốc kháng sinh và tỉ lệ này cao gấp đôi so với nhu cầu lâm sàng. Kết quả khảo sát của Bộ Y tế cho thấy từ năm 2007-2009 kinh phí mua thuốc kháng sinh chiếm tỷ lệ không đổi từ 32,3%
đến 32,4% trong tổng giá trị thuốc sử dụng [26]. Nghiên cứu tại 38 bệnh viện đa khoa (7 bệnh viện đa khoa tuyến trung ương và 14 bệnh viện tuyến tỉnh, 17 bệnh viện huyện, quận) đại diện cho 6 vùng trên cả nước cũng cho kết quả tương tự với tỷ lệ giá trị tiền thuốc kháng sinh ở 3 tuyến bệnh viện trung bình là 32,5%, trong đó cao nhất là ở các bệnh viện tuyến huyện (43,1%) [24].
16
1.3.2. Tình hình sử dụng thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu Trong năm 2012 Cục quản lý Dược đã tổ chức thành công diễn đàn
“Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”. Đây là một trong những giải pháp quan trọng hỗ trợ cho ngành Dược Việt Nam phát triển bền vững, bảo đảm nguồn cung ứng thuốc phòng, chữa bệnh cho nhân dân và không lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài. Tổng giá trị tiền thuốc ước sử dụng năm 2012 là 2.600 triệu USD tăng 9,1% so với năm 2011. Giá trị thuốc sản xuất trong nước năm 2012 ước tính đạt khoảng 1.200 triệu USD, tăng 5,26% so với năm 2011. Trị giá thuốc nhập khẩu năm 2012 là 1.750 triệu USD và bình quân tiền thuốc đầu người là 29,5 USD [30]. Qua khảo sát tình hình sử dụng thuốc nội năm 2006, 2007 ở 565 bệnh viện trong cả nước cho thấy, năm 2009, tỷ lệ thị phần giữa thuốc nội và thuốc ngoại là 50/50, đến tháng 6 năm 2010 là 46/54, thuốc nội chỉ chiếm 19-25% về giá trị tiền. Kết quả khảo sát tại bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy năm 2006 thuốc ngoại chiếm tỉ lệ 78,9%, thuốc nội 21,1% mặc dù so với năm 2002 tỉ lệ thuốc nội trong DMT đã tăng từ 13,6% lên 21,1%. Tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn - Hà Nội tỷ lệ thuốc nội tăng trong 3 năm, tỷ lệ thuốc nội năm 2006 là 28,5%, năm 2007 là 31,9%, đến năm 2008 đã là 33,4%.
1.3.3. Tình hình sử dụng thuốc biệt dược gốc, thuốc generic
Tại một số bệnh viện, các thuốc biệt dược thường chiếm tỷ lệ cao trong DMT bệnh viện. Nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2014 thuốc mang tên thương mại chiếm 11,13%; bệnh viện phụ sản Hà Nội năm 2012 số lượng thuốc tên biệt dược chiếm 83,03%; bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2012 thuốc tên biệt dược chiếm 54,21% trên tổng số thuốc sử dụng [31], [34], [28]. Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2014 tỷ lệ thuốc mang tên biệt dược gốc chiếm 7,2% số lượng và 4,5% giá trị sử dụng. Trong khi đó số thuốc mang tên thương mại chiếm 95,5% giá trị sử dụng [3]. Sử dụng các thuốc
17
mang tên gốc (generic) được xem là một trong những cách làm giảm chi phí điều trị và đây cũng là một trong những tiêu chí Bộ Y tế đưa ra trong việc lựa chọn thuốc sử dụng tại bệnh viện.
1.3.4. Tình hình sử dụng thuốc vitamin và thuốc hỗ trợ
Vitamin là hoạt chất thường được sử dụng và có nguy cơ lạm dụng cao.
Kết quả phân tích tại 38 bệnh viện trong cả nước năm 2009 cho thấy vitamin là một trong 10 nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nhất tại tất cả các tuyến BV [22]. Bên cạnh đó, nhóm thuốc này cũng được sử dụng nhiều tại BV Hữu Nghị từ năm 2008-2010 và tại BV E năm 2009 [21], [23]. Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2014 giá trị sử dụng vitamin và khoáng chất là 2,7 tỷ chiếm 2,7% [34].
Tóm lại vấn đề sử dụng thuốc ở nước ta đang tồn tại nhiều vấn đề bất cập cần quan tâm và đang từng bước có biện pháp giải quyết. Năm 2011 BYT ban hành thông tư số 23/2011/TT-BYT về hướng dẫn sử dụng thuốc tại các cơ sở y tế có giường bệnh [7]. Trong năm 2016 BYT ban hành danh mục thuốc sản xuất ở trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp [14].