Về phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương năm 2021 theo phương pháp ABC, ma trận

Một phần của tài liệu TRẦN văn TRUNG PHÂN TÍCH DANH mục THUỐC sử DỤNG tại BỆNH VIỆN điều DƯỠNG PHỤC hồi CHỨC NĂNG TRUNG ƯƠNG năm 2021 LUẬN văn dược sĩ CHUYÊN KHOA cấp i (Trang 75 - 81)

4.2.1. Phân tích ABC

Kết quả phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp phân tích ABC cho thấy: Các thuốc hạng A chiếm 79,61% ngân sách gồm 16,12% khoản mục, còn lại thuốc hạng B tương ứng 15,31% tổng GTSD chiếm 19,13% số khoản mục, các thuốc hạng C chiếm 64,75% số khoản mục. Kết quả này tương đồng với bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang năm 2016, thuốc hạng A chiếm 79,9% ngân sách và 19,9% khoản mục, thuốc hạng B chiếm 15% ngân sách và 22,2% khoản mục, thuốc hạng C chiếm 5,1% ngân sách và 57,9% khoản mục [33]. Theo thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 8/8/2013 của Bộ Y tế Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện: thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10-20% tổng số sản phẩm, hạng B chiếm 10- 20% và còn lại là hạng C chiếm 60-80%. Như vậy tỷ lệ thuốc hạng A của Bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương hợp lý so với khuyến cáo của Bộ Y tế. Các thuốc hạng B có số KM chiếm tỷ lệ phù hợp với khuyến cáo là

67

hợp lý. Các thuốc hạng A chiếm giá trị sử dụng lớn trong danh mục (79,61%

GTSD) cần được xem xét và phân tích sâu hơn.

Phân tích cơ cấu các thuốc hạng A theo nhóm TDDL cho thấy, các thuốc hạng A gồm 15 nhóm TDDL, trong đó chiếm giá trị sử dụng nhiều nhất có 5 nhóm TDDL là: nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn đứng đầu về GTSD chiếm 26,66%, tiếp theo là nóm thuốc hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết. Kết quả này phù hợp với phân tích cơ cấu toàn DMT theo nhóm TDDL và cũng tương đồng với kết quả phân tích nhóm A tại các bệnh viện đa khoa tỉnh trong nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương năm 2012 với 4 nhóm thuốc đứng đầu là nhóm kháng sinh, tim mạch, tiêu hóa, hormon-nội tiết tố [5]. Đáng lưu ý trong DMT các thuốc hạng A, có nhóm vitamin và khoáng chất có 3 khoản mục đứng thứ 7 về giá trị sử dụng, nhóm thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền có 7 khoản mục đứng thứ 11 về giá trị sử dụng. Điều này cho thấy bệnh viện lạm dụng vitamin và khoáng chất và thuốc dược, thuốc cổ truyền.

Nhóm A chiếm tỷ lệ lớn ngân sách mua thuốc trong bệnh viện, phải được quản lý chặt chẽ. Chính vì vậy nếu quá nhiều khoản mục thuốc nhóm A trùng nhau về hoạt chất, hàm lượng và đường dùng với mức giá khác nhau, sẽ gây khó khăn cho quản lý, đồng thời lãng phí ngân sách.

4.2.2. Phân tích VEN

Kết quả phân tích VEN cho thấy: Các thuốc nhóm E có tỷ lệ số khoản mục và giá trị sử dụng cao nhất (56,83% SKM và 53,20% GTSD). Thuốc nhóm V chiếm 22,68% SKM và 25,51% GTSD, thuốc nhóm N chiếm 20,49% SKM và 21,29% GTSD. So sánh với các nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và tuyến trung ương, đều cho kết quả nhóm E là nhóm có SKM và GTSD chiếm tỷ lệ cao nhất trong DMT và tỷ lệ 2 nhóm V, N có sự khác nhau giữa các bệnh viện. DMT tại BVĐK tỉnh Bắc Giang, thuốc V chiếm 30% SKM và 38,8%

68

GTSD, thuốc nhóm N chỉ chiếm 3,9% SKM và 1,5% GTSD [6]. DMT tại BVĐK tỉnh Hà Tĩnh, thuốc nhóm V chiếm 8,91% SKM và 11,7% GTSD, thuốc nhóm N chiếm 12,55% SKM và 9,0% GTSD [8]. DMT tại bệnh viện Bạch Mai có 14,8% SKM và 29,4% GTSD là thuốc nhóm V và nhóm N chiếm 13,2%

SKM tương ứng 9,1% GTSD [27].

Sự khác nhau về tỷ lệ các thuốc nhóm V giữa các bệnh viện là do khi xếp loại phân biệt các thuốc nhó V và E, các bệnh viện có sự đánh giá khác nhau do mô hình bệnh tật khác nhau, chuyên khoa đầu ngành khác nhau và mức độ quan trọng của cùng 1 loại thuốc khác nhau. Bên cạnh đó, việc phân loại VEN trong nghiên cứu là do các dược sĩ trong khoa Dược phân loại, không tránh khỏi sai khác so với các bệnh viện khác có sự phân loại VEN của HĐT&ĐT.

Kết quả phân tích VEN của khoa Dược sẽ được đưa ra xin ý kiến đồng thuận của HĐT&ĐT, từ đó có các đề xuất đối với HĐT&ĐT để phân loại VEN cho các năm kế tiếp. Tỷ lệ các thuốc nhóm N của bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương cao hơn so với BVĐK tỉnh Bắc Giang, BVĐK tỉnh Hà Tĩnh và bệnh viện tuyến trung ương là bệnh viện Bạch Mai. Đây là nhóm thuốc HĐT&ĐT cần phải xem xét lại nhu cầu điều trị trong những năm kế tiếp, từ đó cân nhắc hạn chế mua hoặc loại bỏ khỏi danh mục thuốc.

4.2.3. Ma trận ABC/VEN

Kết hợp hai phương pháp phân tích ABC và VEN trong ma trận ABC/VEN cho thấy: Bệnh viện đã phân bổ lượng ngân sách lớn cho các thuốc AV và AE trong nhóm A (AV chiếm 22,16% GTSD và AE chiếm 41,50%

GTSD). Riêng thuốc nhóm E luôn chiếm lượng ngân sách lớn nhất trong cả 3 nhóm A, B, C. Thuốc nhóm BV và CV lại chiếm lượng ngân sách thấp hơn thuốc nhóm BN và CN (BV chiếm 2,83% GTSD và CV chiếm 0,52% GTSD).

Bệnh viện cần cân đối ngân sách để ưu tiên hơn cho các thuốc nhóm BV và CV

69

so với nhóm BN, CN; đồng thời quản lý chặt chẽ nhóm thuốc AV và AE không để thiếu thuốc cũng không dư trữ tồn kho quá nhiều.

Trong phân tích ma trận ABC/VEN, các nghiên cứu quan tâm chủ yếu đến nhóm AN là nhóm thuốc không thiết yếu nhưng lại chiếm giá trị sử dụng cao trong danh mục thuốc. Bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương có 17 khoản mục nhóm AN chiếm 4,64% SKM và chiếm 15,94% GTSD, cao hơn nhiều so với BVĐK tỉnh Bắc Giang (chỉ có 2 thuốc nhóm AN chiếm 0,9% GTSD [25], BVĐK tỉnh Lạng Sơn (nhóm AN gồm 3 khoản mục chiếm 4,6% GTSD) [33]. Đối với bệnh viện có mô hình bệnh tật đa dạng, tỷ lệ ngân sách bệnh nhân nặng cao như Bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương, khi cần tập trung ngân sách cho các thuốc thiết yếu thì tỷ lệ các thuốc AN trên cần phải xem xét lại. Vì vậy, cần thiết tiến hành đi sâu phân tích cụ thể các thuốc nhóm AN.

Phân tích cụ thể các thuốc nhóm AN tại bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương gồm 17 khoản mục, nhận thấy chủ yếu là các thuốc có tác dụng tăng cường tuần hoàn não, giãn cơ trong đó có nhiều thuốc có cùng hoạt chất. Thuốc AN chiếm giá trị sử dụng cao nhất (250,5 triệu đồng) là Nupigin 800mg (Piracetam) do Việt Nam sản xuất, dùng cho các bệnh nhân để cải thiện nhờ điều trị như mất trí nhớ, rồi loạn chú ý và thiếu động lực; phối hợp trong chứng rung giật cơ do nguyên nhân vỏ não; điều trị chóng mặt và các rối loạn thăng bằng đi kèm, phòng ngừa và làm giảm các đợt cấp nghẽn mạch ở bệnh hồng cầu hình liềm,...Đây là thuốc ống uống có thể sử dụng cho các bệnh nhân liệt, việc sử dụng thuốc này cần được xem xét tính kinh tế, đánh giá chi phí -hiệu quả.

Hoạt chất piracetam đường uống nằm trong nhóm AN cũng có tới 3 biệt dược với hàm lượng khác nhau là Nupigin 1200mg/10ml; Saihasin 600mg/5ml;

70

A.T Cetam 400mg với giá trị sử dụng chiếm 32,2% tổng GTSD các thuốc nhóm AN.

Trong danh mục thuốc AN có 7 khoản mục thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền chiếm 34,52% tổng GTSD các thuốc nhóm AN là (Mediphylamin;

Biofil; Quy tùy an thần hoàn P/H; Lumbrotine; Boganic Forte; Phong tê thấp huy đan; Hoạt huyết dưỡng não Cebraton S). Các thuốc này chỉ có tác dụng bổ trợ nhưng lại được sử dụng nhiều trong kê đơn cho bệnh nhân khám ngoại trú, chiếm GTSD không nhỏ trong danh mục các thuốc AN. Bệnh viện cần lựa chọn thay thế bằng các thuốc có giá thành thấp hơn, hạn chế kê đơn thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền dưới tác động bởi marketing đen của các công ty dược. Ngoài ra, danh mục thuốc AN còn có các hoạt chất: Vitamin B6+Magnesi lactac;

Panax notoginseng saponins; Magnesi aspartat+ Kali aspartat; Vitamin B1+

Vitamin B2+ Vitamin B12; Mecobalamin chỉ có tác dụng bổ trợ và sử dụng có điều kiện cần phải xem xét hạn chế sử dụng.

Kết quả phân tích sâu hơn về nhóm thuốc AN đã cho thấy một vài hoạt chất, không thiết yếu, có xu hướng bị lạm dụng trong bệnh viện, từ đó gây lãng phí nguồn ngân sách. Để khắc phục tình trạng này, HĐT&ĐT của bệnh viện cần phải phân tích DMT sử dụng hàng năm theo phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN, đặc biệt phân tích các thuốc AN để có định hướng hạn chế sử dụng các thuốc này, hoặc đưa ra họp và để xuất loại bỏ nếu thực sự không cần thiết.

Thuốc Nhóm BN gồm có 20 thuốc, trong đó có 03 thuốc có tác dụng với đường tiêu hóa, 04 thuốc có tác dụng đối với máu, 08 thuốc có nguồn gốc dược liệu, thuốc cổ truyền, 05 thuốc là vitamin và khoáng chất.

Hội đồng thuốc và điều trị nên xem xét cụ thể 20 thuốc thuộc nhóm BN là các thuốc dược liệu, thuốc cổ truyển, thuốc nhóm vitamin và khoáng chất có

71

chỉ định nhiều trong các trường hợp chỉ định chỉ mang tính hỗ trợ điều trị, cần hạn chế sử dụng hoặc loại bỏ.

4.3. Một số hạn chế của đề tài

Việc phân loại nhóm thuốc V, E, N chưa tiến hành họp thông qua Hội đồng thuốc và điều trị cũng chưa lấy ý kiến đồng thuận của các khoa lâm sàng trong bệnh viện mà mới chỉ thực hiện tại khoa Dược.

Trong quá trình thực hiện, do thời gian có hạn nên đề tài chưa đi sâu phân tích nhằm đưa ra được các giải pháp can thiệp rõ ràng, cụ thể hơn để giải quyết một số vấn đề còn tồn tại.

72

Một phần của tài liệu TRẦN văn TRUNG PHÂN TÍCH DANH mục THUỐC sử DỤNG tại BỆNH VIỆN điều DƯỠNG PHỤC hồi CHỨC NĂNG TRUNG ƯƠNG năm 2021 LUẬN văn dược sĩ CHUYÊN KHOA cấp i (Trang 75 - 81)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(111 trang)