Nhân tố bên ngoài

Một phần của tài liệu kl le thi kim thuy 2015 658 (Trang 60 - 63)

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÂN PHỐI CÔNG NGHỆ TÂN TIẾN TRONG THỜI GIAN QUA

2.4 Đánh giá thực trạng hoạt động nhập khẩu tại công ty cổ phần phân phối công nghệ Tân Tiến

2.5.1 Nhân tố bên ngoài

Tăng trưởng tín dụng:

Theo Chính phủ, mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2015 ở mức 13% - 15%, cao hơn so với mục tiêu năm 2014 là ở mức 12%-14% [8]. Chính phủ còn nêu rõ thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng; tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh;

tiếp tục triển khai các chương trình gắn kết tín dụng ngân hàng với chính sách ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên theo chủ chương của Chính phủ. Như vậy, với chính sách tăng trưởng tín dụng vào năm 2015, doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận nguồn vốn để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.

Lãi suất và tỷ giá:

Mức lạm phát thấp năm 2014 và quý I/2015 đang mở ra khả năng tiếp tục giảm thêm lãi suất điều hành để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên các cơ hội đầu tư khác đang mở ra như bất động sản, vàng… khó khăn thanh khoản của một bộ phận tổ chức tín dụng thuộc diện yếu kém phải cơ cấu lại, biến động tỷ giá của USD… sẽ buộc ngân hàng nhà nước phải rất thận trọng trong việc giảm lãi suất.

Dự báo mức giảm có thể chỉ khoảng 0,5-1% trong 2015. Bên cạnh đó, ngân hàng nhà nước sẽ cố giữ cam kết chỉ điều chỉnh tỷ giá không quá 2% cho năm 2015, nghĩa là trần tỷ giá đến cuối 2015 sẽ dưới 22.000 VND/USD. [9]

Việc nhà nước giữ cho tỷ giá giao động ở biên độ cố định giúp các doanh nghiệp được tạm thời yên tâm, có thể chủ động trong việc lập ra kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhất là đối với các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh doanh quốc tế.

Thủ tục hành chính:

Ngay từ đầu quá trình đổi mới, mở cửa nền kinh tế, việc cải cách nền hành chính nói chung, các thủ tục hành chính nói riêng đã được đặt ra và thực hiện, với nhiệm vụ cụ thể là phát hiện, loại bỏ hoặc chỉnh sửa thủ tục hành chính không phù hợp, phức tạp, phiền hà…; tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Liên tục trong hai năm 2014 và 2015, Chính phủ đã ban hành 2 Nghị quyết số 19/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, với những chỉ tiêu và biện pháp rất cụ thể. Trong đó có các thủ tục hành chính ở các lĩnh vực thuế, hải quan như:

- Cải cách quy trình, hồ sơ và thủ tục nộp thuế và rút ngắn thời gian các doanh nghiệp phải tiêu tốn để hoàn thành thủ tục nộp thuế đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6 (gồm Indonesia, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Brunei, Singapore), mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6 về thời gian nộp thuế là 171 giờ/năm, trong khi đó thời gian nộp thuế của doanh nghiệp ở Việt Nam là 876 giờ trong năm 2013.

- Đơn giản hóa quy trình, hồ sơ và thủ tục xuất nhập khẩu, thủ tục hải quan và giảm thời gian thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cho doanh nghiệp, phấn đấu thời gian xuất khẩu và thời gian nhập khẩu bằng mức trung bình của các nước ASEAN-6, mức trung bình thời gian xuất khẩu của nhóm nước

ASEAN-6 là 14 ngày và thời gian nhập khẩu là 13 ngày, còn Việt Nam thời gian xuất khẩu năm 2013 là 21 ngày và nhập khẩu cũng 21 ngày. Qua một năm thực hiện, quy trình thủ tục hải quan đã đạt được một số kết quả thực tế như sau: đã rà soát, đơn giản hóa quy trình thủ tục và chính thức triển khai Cơ chế một cửa quốc gia tại cảng biển quốc tế, phấn đấu đến năm 2015 thời gian thông quan hàng hóa giảm bình quân từ 21 ngày xuống còn 14 ngày đối với xuất khẩu, 13 ngày đối với nhập khẩu, giảm được 10 - 20% chi phí và 30%

thời gian thông quan hàng hóa xuất, nhập khẩu cho doanh nghiệp. [10]

Quan hệ kinh tế quốc tế

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, mở rộng tự do hóa thương mại, làn sóng ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đang trở nên mạnh mẽ trên khắp thế giới và trở thành một xu thế mới trong quan hệ kinh tế quốc tế. Không nằm ngoài xu thế đó, trong những năm qua Việt Nam đã rất nỗ lực, tích cực tham gia ký kết nhiều Hiệp định FTA, mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội.

Đến nay, Việt Nam đã chính thức tham gia, ký kết và thực hiện 8 Hiệp định FTA gồm: khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), ASEAN – Nhật Bản (AJFTA), ASEAN- Australia/New Zealand (AANZFTA), ASEAN - Ấn Độ (AIFTA), Khu vực thương mại Việt Nam – Chile, Việt Nam – Liên minh kinh tế Á Âu (EEU). [11]

Bên cạnh sự thành lập các khu vực mậu dịch tự do, cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) cùng hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ được thành lập trong thời gian tới sẽ mang đến nhiều cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp trong nước.

Cơ hội dễ dàng nhận thấy nhất cho các doanh nghiệp là hàng rào thuế quan được bãi bỏ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự lưu thông hàng hóa trong khu vực, mở rộng thị trường,... Tuy nhiên, thị trường càng rộng lớn thì đối thủ càng nhiều, cạnh

tranh càng khốc liệt. Do đó các doanh nghiệp trong nước cần biết cách tận dụng các lợi thế và đưa ra chiến lược để đối đầu với các khó khăn, thử thách.

Một phần của tài liệu kl le thi kim thuy 2015 658 (Trang 60 - 63)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(87 trang)