Tận dụng ưu đãi về thuế nhập khẩu

Một phần của tài liệu kl le thi kim thuy 2015 658 (Trang 81 - 85)

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÂN PHỐI CÔNG NGHỆ TÂN TIẾN

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động nhập khẩu thiết bị hạ tầng mạng tại công ty cổ phần phân phối công nghệ Tân Tiến

3.2.5 Tận dụng ưu đãi về thuế nhập khẩu

Tiết kiệm đến mức tối đa chi phí cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa. Qua đó, doanh nghiệp có thể hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Nội dung thực hiện giải pháp

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) và đang đàm phán một loạt các FTA mới quan trọng khác.

Đến nay, nhiều hiệp định thương mại tự do đa phương và song phương giữa Việt Nam với các quốc gia khác đã có hiệu lực. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn còn chưa hiểu rõ về vấn đề này để tận dụng những ưu đãi thuế quan mà các hiệp định này mang lại.

Tương tự như các doanh nghiệp khác, công ty Tân Tiến cũng chưa tận dụng được các ưu đãi thuế quan do các FTA mang lại. Hiện tại, hàng hóa mà công ty nhập về từ Singapore của nhà cung cấp Emerson có xuất xứ từ Trung Quốc và một số nước trong khối ASEAN. Do đó căn cứ theo các hiệp định thương mai tự do mà Việt Nam ký kết như ACFTA, ATIGA thì hàng hóa của công ty có đủ điều kiện để được hưởng thuế suất ưu đãi. Việc chưa áp dụng được lợi thế này xuất phát từ việc chưa nắm vững được hiệp định của cả Tân Tiến và nhà cung cấp do đó mà trong quá trình đàm phán, thương lượng để trở thành nhà phân phối của Emerson công ty không đề cập đến vấn đề này để ràng buộc trách nhiệm của Emerson trong việc xin cấp C/O ưu đãi về thuế quan để cung cấp cho Tân Tiến. Một khi Tân Tiến vận dụng được ưu đãi thuế quan thì công ty sẽ giảm bớt được lượng thuế nhập khẩu mà hiện nay công ty đang phải chi trả cho cơ

quan nhà nước. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc cắt giảm chi phí, tăng lợi nhuận, giảm giá hàng bán và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Bảng 3.1 cho ta cái nhìn rõ nét về những mặt hàng mà công ty đang phải chịu thuế nhập khẩu cao hơn mức thuế suất ưu đãi được quy định trong các hiệp định thương mại tự do.

Bảng 3.1: Mức thuế NK ưu đãi đặc biệt đối với một số hàng hóa tại công ty Tân Tiến

Tên SP Mã HS Xuất xứ Thuế NK ưu

đãi

Thuế NK ưu đãi đặc biệt 2015 2016 2017 2018

Thiết bị làm lạnh (Cooling)

Công suất không quá 26.38kw

84158291 Trung Quốc

27% 5% 5% 5% 0%

Công suất trên 26.38kw

84158299 Trung Quốc

15% 10% 10% 10% 0%

Tủ rack 85381019 Thái

Lan

15% 0%

Thanh phân phối điện 85366999 Trung Quốc

25% 0%

Dựa vào bảng 3.1, ta thấy rõ ràng, công ty Tân Tiến sẽ hưởng lợi rất nhiều một khi vận dụng được các ưu đãi về thuế nhập khẩu trong các hiệp định FTA. Để thực hiện được điều này, việc trước tiên là công ty Tân Tiến phải liên hệ trực tiếp với đơn vị cung cấp hàng hóa cho công ty, tiến hành đàm phán, thương lượng, yêu cầu bên cung cấp sản phẩm xin được C/O ưu đãi. Việc xin cấp C/O ưu đãi sẽ phức tạp hơn so với xin cấp C/O thường, do đó mà để công cuộc đàm phán diễn ra thuận lợi, Tân Tiến có thể chấp nhận mua hàng với giá cao hơn. Tuy nhiên, mức thuế nhập khẩu mà công ty được giảm khi

xin được C/O ưu đãi phải đảm bảo cao hơn chi phí mà công ty bỏ ra để mua sản phẩm sau khi tăng giá.

3.3 Kiến nghị với nhà nước

- Kết quả cuộc khảo sát của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore (ISEAS) vào cuối 2014 cho thấy hiểu biết của đa số các doanh nghiệp Việt Nam về AEC và các hiệp định thương mại tự do nói chung còn rất hạn chế. Theo đó, 80% số doanh nghiệp được hỏi thiếu hẳn các kiến thức về hội nhập, không hề biết những gì đang chờ đợi mình phía trước trong khi cánh cửa hội nhập đang mở dần; 76% doanh nghiệp Việt Nam không biết và không hiểu gì về Cộng đồng kinh tế ASEAN; 94% doanh nghiệp không biết về nội dung đàm phán trong AEC; 63% doanh nghiệp không hiểu gì về thách thức và cơ hội khi Việt Nam tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN. Với các hiệp định thương mại tự do FTA đã ký kết, cũng chỉ có khoảng 30% doanh nghiệp đã tận dụng được các ưu đãi thuế quan. [12]

Nguyên nhân của những con số đáng buồn trên xuất phát một phần từ chính bản thân các doanh nghiệp, bên cạnh đó, nhà nước cũng đóng vai trò không nhỏ dẫn đến tình trạng này. Hiện nay, một số doanh nghiệp rất cần thông tin nhưng chưa biết tìm thông tin ở đâu. Trong khi đó, hệ thống thông tin từ Chính phủ lại chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Do đó, nhà nước phải mở rộng thông tin, thông tin phải mang tính chấtquảng bá một cách rộng rãi, như thế doanh nghiệp mới có thể tiếp cận một cách dễ dàng, đó là điều rất quan trọng. Ngoài ra, nhà nước cũng nên thường xuyên tổ chức các buổi hội nghị, hội thảo, tập huấn để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trực tiếp tiếp cận với nguồn thông tin chính thức đồng thời trực tiếp giải đáp các thắc mắc của các doanh nghiệp để họ nắm rõ hơn các quy định mới, các cơ hội và thách thức trong thời kỳ hội nhập.

- Hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp luôn gắn chặt với cơ quan hải quan. Tuy nhiên, hải quan luôn là nỗi lo của các doanh nghiệp khi tham gia hoạt động xuất nhập

khẩu. Tình trạng nhũng nhiễu, gây khó khăn cho doanh nghiệp vẫn còn tồn tại ở một số cán bộ hải quan. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự chậm trễ, tăng chi phí trong quá trình giao nhận làm giảm hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì vậy, nhà nước cần xây dựng các chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ hải quan có đạo đức, giỏi nghiệp vụ; xử lý nghiêm các trường hợp cán bộ hải quan gây phiền hà, sách nhiễu cho các doanh nghiệp. Đồng thời, nhà nước nên xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động của từng cán bộ hải quan, cho phép các doanh nghiệp đã và đang trực tiếp làm việc với đơn vị hải quan tại mỗi khu vực có cơ hội trực tiếp đánh giá các cán bộ hải quan đó.

Tổng kết chương III:

Chương III đã dựa trên mục tiêu và định hướng phát triển của công ty cũng như việc phân tích thực trạng hoạt động nhập khẩu các sản phẩm hạ tầng mạng của công ty cổ phần phân phối công nghệ Tân Tiến giai đoạn 2012 – 2014 để đề ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu tại đơn vị này. Có 5 giải pháp mà tác giả đưa ra gồm: đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực; hạn chế rủi ro của sự biến động tỷ giá, tạo nguồn vốn kinh doanh; nâng cao khả năng nhận biết, thu thập thông tin; tận dụng ưu đãi về thuế. Ngoài ra, tác giả còn đưa ra một số đề xuất đối với nhà nước nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói chung và công ty cổ phần phân phối công nghệ Tân Tiến nói riêng có điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh, phát triển hoạt động kinh doanh của đơn vị mình.

Một phần của tài liệu kl le thi kim thuy 2015 658 (Trang 81 - 85)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(87 trang)