CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp
1.4.2 Các nhân tố từ môi trường bên trong doanh nghiệp
Các yếu tố bên trong doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp, nó tác động một cách trực tiếp và là yếu tố nội lực quyết định hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp có đạt hiệu quả hay không.
Các nhân tố đó bao gồm:
Một là, tổ chức hoạt động kinh doanh: Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Nếu như việc tổ chức kinh doanh càng phù hợp với chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp, phù hợp với yêu cầu kinh tế thị trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Làm tốt công tác tổ chức kinh doanh có nghĩa là doanh nghiệp phải làm tốt các khâu chuẩn bị trước khi giao dịch như nghiên cứu thị trường, khai thác nhu cầu tiêu dùng trong nước, lập phương án kinh doanh thận trọng...
Hai là, tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp: Bộ máy quản lý doanh nghiệp có ảnh hưởng một cách gián tiếp tới hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng và hoạt động kinh doanh toàn doanh nghiệp nói chung. Tổ chức bộ máy quản lý hợp lý, gọn nhẹ, làm việc có hiệu quả sẽ tạo thuận lợi cho công tác nâng cao hiệu quả kinh doanh. Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy của doanh nghiệp là một điều hết sức quan trọng trong kinh doanh xuất nhập khẩu.
Ba là, nhân tố con người: Đội ngũ cán bộ công nhân viên là một nhân tố quan trọng có tính chất quyết định đối với sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng. Nếu doanh nghiệp có đội ngũ cán bộ công nhân viên năng động, có năng lực, trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình, tích cực trong công tác kết hợp với việc bố trí nguồn nhân lực theo chiến lược “đúng
người, đúng việc, đúng lúc” của doanh nghiệp thì nhất định sẽ có ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả kinh doanh.
Bốn là, cơ sở vật chất và uy tín kinh doanh của doanh nghiệp: Nếu công ty có cơ sở vật chất kỹ thuật càng hiện đại bao nhiêu thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho công việc kinh doanh bấy nhiêu như: việc giữ gìn bảo quản hàng hoá được tốt hơn, tiết kiệm chi phí trong khâu vận chuyển, nâng cao chất lượng phục vụ.
1.5 Lý thuyết về phân tích ma trận SWOT 1.5.1 Khái niệm về ma trận SWOT
Mô hình phân tích SWOT là một công cụ hữu dụng được sử dụng nhằm hiểu rõ điểm mạnh ( Strengths), điểm yếu ( Weaknesses), cơ hội ( Opportunities) và nguy cơ ( Threats) trong một dự án hoặc tổ chức kinh doanh. Thông qua phân tích SWOT, doanh nghiệp sẽ nhìn rõ mục tiêu của mình cũng như các yếu tố trong và ngoài tổ chức có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Trong quá trình xây dựng kế hoạch chiến lược, phân tích SWOT đóng vai trò là một công cụ căn bản nhất, hiệu quả cao giúp người sử dụng có cái nhìn tổng thể không chỉ về chính doanh nghiệp mà còn những yếu tố luôn ảnh hưởng và quyết định tới sự thành công của doanh nghiệp đó.
1.5.2 Nội dung phân tích SWOT
SWOT được trình bày dưới dạng một ma trận gồm 2 hàng 2 cột và chia làm 4 phần. Mỗi phần tương ứng với những Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), và Nguy cơ (Threats).
PHÂN TÍCH SWOT TÍCH CỰC / CÓ LỢI TIÊU CỰC / GÂY HẠI Tác nhân bên trong
(phát sinh từ nội bộ)
ĐIỂM MẠNH (S)
Cần phải được duy trì, sử dụng chúng làm nền tảng và đòn bẩy
ĐIỂM YẾU (W)
Cần được sửa chữa, thay thế hoặc chấm dứt
Tác nhân bên ngoài
(phát sinh từ môi trường xung quanh)
CƠ HỘI (O)
Cần được tận dụng, ưu tiên, nắm bắt kịp thời, xây dựng và phát triển trên những cơ hội này
NGUY CƠ (T)
Cần đưa những nguy cơ vào kế hoạch nhằm đề ra các phương án phòng bị, giải quyết và quản lý Từ mô hình trên ta có:
Điểm mạnh là những tác nhân bên trong doanh nghiệp mang tính tích cực hoặc có lợi giúp đơn vị đạt được mục tiêu.
Điểm yếu là những tác nhân bên trong doanh nghiệp mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêu của chính doanh nghiệp đó.
Cơ hội là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp (thị trường kinh doanh, xã hội, chính phủ…) mang tính tích cực hoặc có lợi giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu.
Nguy cơ là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp (thị trường kinh doanh, xã hội, chính phủ…) mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêu.
Có thể thấy, mục đích của phân tích SWOT là nhằm xác định thế mạnh mà doanh nghiệp đang nắm giữ cũng như những điểm hạn chế cần phải khắc phục. Bên cạnh đó, SWOT là công cụ quan trọng để phát triển bốn loại chiến lược sau:
Các chiến lược kết hợp SO (điểm mạnh – cơ hội): sử dụng những điểm mạnh bên trong doanh nghiệp để tận dụng những cơ hội bên ngoài.
Các chiến lược kết hợp WO (điểm yếu – cơ hội): nhằm khắc phục những điểm yếu bên trong doanh nghiệp để nắm bắt những cơ hội bên ngoài.
Các chiến lược kết hợp ST (điểm mạnh – nguy cơ): sử dụng các điểm mạnh của doanh nghiệp để né tránh hay giảm thiểu những thiệt hại do ảnh hưởng của các mối đe dọa từ bên ngoài.
Các chiến lược kết hợp WT (điểm yếu – nguy cơ): là những chiến lược phòng thủ, khắc phục những điểm yếu bên trong doanh nghiệp để né tránh những mối đe dọa của môi trường bên ngoài.
Tổng kết chương I
Ở chương I, khóa luận đã trình bày một số cơ sở lý luận như: khái quát về hoạt động nhập khẩu, nội dung của hoạt động nhập khẩu cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu làm cơ sở để giải quyết những vấn đề trong chương tiếp theo. Chương I cũng giới thiệu phương pháp phân tích ma trận SWOT, phương pháp này sẽ được áp dụng để đánh giá hoạt động nhập khẩu các thiết bị hạ tầng mạng tại công ty cổ phần phân phối công nghệ Tân Tiến. Trong chương II, khóa luận sẽ giới thiệu tổng quan về công ty và thực trạng hoạt động nhập khẩu tại đơn vị này.