SINH HỌC CUỐNG RỐN

Một phần của tài liệu kl dang thi kim ngan 912145s (Trang 24 - 27)

2.2.1. Cấu trúc và s ự phát triển của cuống rốn

Cuống rốn được phát triển đầy đủ gồm có một tĩnh mạch và hai động mạch được bao quanh bởi mô nhầy và mô liên kết như gelatin hay còn gọi là Wharton’s jelly và sau đó được bao phủ bởi màng ối. Có ba vùng được xác định của tế bào nền và chất nền: lớp màng ối, Wharton’s jelly và môi trường, cuối cùng là ngoại mạc quanh các mạch. Cấu trúc và thành phần của dây rốn giàu chất nền đàn hồi và các nguyên bào sợi cơ, bảo vệ mạch khỏi sự nén, làm sự trao đổi giữa cuống rốn và dịch ối trở nên dễ dàng.

Cuống rốn được tạo từ trung mô ngoài phôi. Sau khi túi phôi phát triển, các tế bào từ lớp ICM hình thành epiblast. Các tế bào trung bì ngoài phôi được tạo ra từ epiblast gần, và là trung bì sớm di cư đi qua rãnh nguyên thủy. Trung bì ngoại phôi gia tăng tiếp ở giai đoạn phát sinh phôi, tạo vỏ phôi, ngoại bì màng ối và noãn hoàng nội bì. Do đó, trung bì ngoài phôi đã tham gia vào màng ối, túi noãn hoàng và sau này là cuống rốn.

Các tế bào mầm sinh dục (EG) và tế bào gốc tạo máu sớm tạo ra từ trung bì ngoài phôi. Sự tạo máu diễn ra trong các đ ảo máu túi noãn hoàng 8-8,5 ngày, sau khi thụ tinh. Các tế bào gốc máu trong túi noãn hoàng cung cấp cục bộ cho quá trình t ạo

9

máu sớm, trong suốt quá trình phát triển và tuần hoàn khắp phôi để cung cấp oxi, chất dinh dưỡng.

2.2.2. Một số thông tin về tế bào máu cuống rốn [1], [3], [4]

Máu cuống rốn hay còn gọi là máu dây rốn hay máu bánh nhau, chảy trong tuần hoàn máu thai nhi và cung cấp chất dinh dưỡng cho bào thai đang phát triển trong tử cung người mẹ. Phần máu còn lại trong dây rốn và bánh nhau khi sản phụ sinh em bé và dây rốn là chất thải sinh học trong các bệnh viện phụ sản. Ngày nay, nhờ sự tiến bộ trong khoa học, người ta đã sử dụng chất thải sinh học này như một trong những nguồn cung cấp dồi dào tế bào gốc.

- Theo nghiên cứu của Wintrobe (Clinical hematology – sixth edition) và Bệnh viện Truyền máu và Huyết học Tp. Hồ Chí Minh, máu cuống rốn có những chỉ số huyết học thông thường như bảng sau:

Bảng 2.1. Các chỉ số huyết học thông thường của máu cuố ng rốn [1]

Các chỉ số Wintrobe Bệnh viện Truyền

máu & Huyết học Đơn vị tính

Bạch cầu 8,0 – 16,5 14,5 k/àl

Bạch cầu hạt 13,0 – 15,0 8,6 k/àl

Lymphocyte 4,0 – 5,0 4,6 k/àl

Monocyte 1,0 – 2,0 1,2 k/àl

Hồng cầu 5,1 4,1 k/àl

Hồng cầu lưới 2 6 4,9 %

- Tế bào gốc máu cuống rốn: Người ta phát hiện trong máu cuống rốn có những tế bào gốc như sau:

 Tế bào gốc tạo máu (Hematopoiteic stem cell _ HSC)  Tế bào gốc trung mô (Mensenchymal stem cell _ MSC)

 Tế bào gốc sinh dưỡng không giới hạn (Unrestricted somatic stem cell _ USSC)

10

 Tế bào gốc giống phôi được thu nhận từ máu cuống rốn (Cord blood – derived embryonic – like stem cell _ CBE).

 Tế bào gốc tiền thân đa năng được thu nhận từ máu cuống rố n (Cord blood multipotent progenitor cell _ CBMPC).

 Tế bào tiền thân nội mô (Endothelial progenitor cell _ EPC).

2.2.3. Những ƣu thế từ tế bào gốc máu cuống rốn [1], [4]

Hiện nay, các nhà khoa học tập trung nghiên cứu tế bào gốc cuống rốn, trong đó có tế bào gốc trung mô bởi nó có những ưu điểm sau:

- Không vi phạm y đức và tín ngưỡng tôn giáo các nước hay gây tổn thương cho cả mẹ và con trong quá trình thu giữ dây rốn.

- Máu cuố ng rốn được thu nhận tại bệnh viện trước khi nhau thai bị bỏ đi vì thế chúng không gây tranh cãi về việc sử dụng tế bào gốc từ bào thai.

- Nguồn cung cấp máu cuống rốn là vô tận. Một năm có khoảng 100 triệu trẻ em sinh ra, nếu ta thu giữ tất cả, mỗi mẫu thu khoảng 100 ml máu thì chúng ta có thể thu giữ hàng tỷ tế bào gốc.

- Các tế bào từ cơ thể mới sinh này thường ít mang các mầm bệnh.

- Quá trình thu nhận, bảo quản đông lạnh thuận lợi và hiệu quả.

- Máu cuống rốn có thể được bảo quản hơn 15 năm và vẫn giữ được chức năng quan trọng.

- Chúng biểu hiện tương tự như các tế bào gốc tủy xương trong việc biệt hóa thành nhiều kiều tế bào khác.

- Kỹ thuật nuôi cấy không quá phức tạp và tốn kém nên các nước đang phát triển có thể sớm áp dụng công nghệ này. Máu cuống rốn còn là chất liệu tốt nhất để chuyển gen lành tính vào cho bệnh nhân bị mắc các bệnh di truyền.

- Tính kháng nguyên và miễn dịch của tế bào gốc cuống rốn thấp nên khả năng thải ghép thấp, phù hợp cho ghép đồng loại mà không phải sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch. Khi ghép tế bào gốc máu cuống rốn, tần suất và mức độ trầm trọng của bệnh thải loại mảnh ghép (Graft Versus Host Disease – GVHD) giảm đáng kể so với ghép với tủy xương.

11

Một phần của tài liệu kl dang thi kim ngan 912145s (Trang 24 - 27)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(119 trang)