Sinh lý sinh dục nữ

Một phần của tài liệu Giáo trình Giải phẫu sinh lý - Trường Tây Sài Gòn (Trang 115 - 119)

1. Chức năng buồng trứng.

1.1. Chức năng tạo trứng.

– Buồng trứng có nhiều nang trứng, trong quá trình phát triển phần lớn tự thoái hóa.

+ Bào thai: khoảng 6 triệu nang + Sau sinh: khoảng 2 triệu nang

+ Dậy thì: khoảng 300.000 – 400.000 nang

+ Đời sống sinh sản: khoảng 500 nang phát triển đến rụng trứng.

– Quá trình tạo trứng xảy ra từ lúc dậy thì đến mãn kinh Nang trứng nguyên phát

Nang trứng phát triển => hormone sinh dục

Nang trứng chin

Trứng Hoàng thể => hormone sinh dục

– Trứng rụng vào khoảng giữa chu kỳ kinh nguyệt

 Số lượng: thông thường mỗi chu kỳ chỉ phóng một noãn duy nhất.

 Cơ chế phóng noãn: vào khoảng gần giữa chu kỳ kinh nguyệt (CKKN), nồng độ estrogen trong máu tăng cao có tác dụng feedback (+) làm tuyến yên tăng bài tiết FSH và LH. Khi đạt đến đỉnh FSH/LH=1/3 thì nang trứng chín, đồng thời dưới tác dụng của LH nang trứng bắt đầu tăng bài tiết progesterone, progesterone sẽ gây ra một số biến đổi tại nang trứng dẫn đến phóng noãn

 Trứng rụng nằm trên bề mặt buồng trứng được loa vòi đón lấy. Nếu không thụ tinh, trứng sẽ tự thoái hoá sau khoảng 24-48 giờ.

 Hoàng thể được hình thành từ phần còn lại của nang trứng sau khi phóng noãn, có màu vàng. Hoàng thể bài tiết hormon progesterone và estrogen.

+ Khi không có thai: hoàng thể phát triển to nhất sau 7 – 8 ngày phóng noãn rồi giảm dần bài tiết hormon và thoái hoá. Đời sống hoàng thể khoảng 12 – 14 ngày.

+ Khi có thai: hoàng thể phát triển tối đa vào tháng thứ 3. Sau tháng thứ 4 hoàng thể ngừng hoạt động, nhau thai sẽ thay thế hoàng thể bài tiết progesterone và estrogen

– Điều hòa:

+ FSH kích thích nang trứng phát triển

+ LH phối hợp với FSH làm nang trứng chín và rụng trứng.

+ Yếu tố thần kinh (cảm xúc tâm lý) cũng có ảnh hưởng đến chức năng tạo trứng.

1.2. Chức năng nội tiết của buồng trứng.

Buồng trứng bài tiết 2 hormon sinh dục chính: estrogen và progesterone a. Estrogen:

– Nguồn gốc:

+ Tế bào hạt của lớp áo trong nang trứng bài tiết (nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt)

+ Hoàng thể (nửa sau chu kỳ kinh nguyệt) + Ngoài ra, còn có nhau thai, vỏ thượng thận.

– Tác dụng:

+ Buồng trứng: làm nang trứng phát triển

+ Vòi trứng: tăng hoat tính của lông, bài tiết và co thắt, giúp đẩy trứng vào buồng tử cung

+ Cổ tử cung: làm niêm dịch loãng, kiềm.

+ Âm đạo: sừng hóa tế bào âm đạo

+ Tuyến vú: tăng sinh ống dẫn sữa, làm vú phát triển lúc dậy thì + Làm xuất hiện, bảo tồn các đặc tính sinh dục nữ thứ phát + Tái hấp thu nước và Na+ vừa phải

b. Progesteron.

– Nguồn gốc:

+ Tế bào hạt lớp áo trong nang trứng bài tiết lượng nhỏ (nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt)

+ Hoàng thể bài tiết lượng lớn (nửa sau chu kỳ kinh nguyệt) + Ngoài ra, còn do nhau thai, vỏ thượng thận bài tiết.

– Tác dụng:

+ Vòi trứng: kích thích bài tiết dịch chứa chất dinh dưỡng

+ Tử cung: giảm co bóp tử cung, kích thích các tuyến dài ra, cuộn lại và bài tiết

+ Âm đạo: tăng sinh tế bào âm đạo

+ Tuyến vú: tăng sinh thùy tuyến các tế bào có khả năng bài tiết + Tăng tái hấp thu Na+ và nước ở ống lượn xa

+ Làm tăng thân nhiệt 0.3-0.50C ở nửa sau chu kỳ kinh nguyệt.

2. Tuổi dậy thì và tuổi mãn kinh 2.1 Tuổi dậy thì

 Tuổi dậy thì không phải là một thời điểm mà là một khoảng thời gian.

Khoảng thời gian này có thể thay đổi theo từng cá thể nhưng thường kéo dài 3 - 4 năm.

 Thời điểm bắt đầu dậy thì ở nữ thường được đánh dấu bằng biểu hiện tuyến vú bắt đầu phát triển, lông mu bắt đầu mọc, tử cung to lên… Ở Việt Nam, thời điểm này thường từ 8 - 10 tuổi.

 Thời điểm dậy thì hoàn toàn được đánh dấu bằng lần có kinh đầu tiên, ở Việt Nam hiện nay vào khoảng 13 - 14 tuổi, sớm hơn những thập kỷ của thế kỷ trước khoảng 2 năm. Có kinh lần đầu là dấu hiệu chắc chắn khởi đầu dậy thì, tuy rằng trong những vòng kinh đầu tiên không có rụng trứng.

2.2 Tuổi mãn kinh

 Ở người phụ nữ vào khoảng 45 - 50 tuổi, các nang noãn của buồng trứng trở nên không đáp ứng với kích thích của hormon tuyến yên. Quá trình này xảy ra từ từ dẫn đến giảm chức năng buồng trứng. Biểu hiện của sự suy giảm này là chu kỳ kinh nguyệt và chu kỳ phóng noãn trở nên không đều.

Sau vài tháng đến vài năm các chu kỳ buồng trứng, chu kỳ niêm mạc tử cung ngừng hoạt động, người phụ nữ không còn kinh nguyệt, không phóng noãn, nồng độ các hormon sinh dục nữ giảm đến mức thấp nhất, hiện tượng này gọi là mãn kinh.

 Nguyên nhân căn bản của sự mãn kinh là do buồng trứng, các noãn bào ngừng phát triển, buồng trứng không còn chịu sự kích thích của kích dục tố tuyến yên nữa nên tử cung, âm đạo, vú … đều thoái hoá../.

SINH LÝ HỆ NỘI TIẾT, CHUYỂN HÓA, ĐIỀU HÒA THÂN NHIỆT

Chức năng của cơ thể được điều hoà bằng hai hệ thống chủ yếu đó là hệ thống thần kinh và hệ thống thể dịch. Hệ thống thể dịch điều hoà chức năng của cơ thể bao gồm nhiều yếu tố như thể tích máu, các thành phần của máu và thể dịch như nồng độ các loại khí, nồng độ các ion và đặc biệt là nồng độ các hormon nội tiết. Chính vì vậy, hệ thống thể dịch còn được gọi là hệ thống nội tiết

Một phần của tài liệu Giáo trình Giải phẫu sinh lý - Trường Tây Sài Gòn (Trang 115 - 119)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(165 trang)