Yếu tố nhân khẩu học

Một phần của tài liệu Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú tại bệnh viện hoàn mỹ bình dương 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng (Trang 20 - 23)

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh

1.3.1. Yếu tố nhân khẩu học

Giới tính - tuổi.

Các nghiên cứu tại Đông Ả Rập Saudi đã thể hiện quan hệ đáng kể giữa giới tính và khoảng cách, điểm trung bình của yếu tố hữu hình và sự tin tưởng. Các kỳ vọng của nữ về các điều này cao hơn so với nam. Và có mối liên quan đáng kể giữa nhóm tuổi và sự tin tưởng, sự đáp ứng và sự cảm thông. Nhóm tuổi trên 73 tuổi có kỳ vọng cao hơn về mọi mặt, nhưng có sự khác biệt đáng kể về sự tin tưởng (p=0,02), sự đáp ứng (p=0,03) và sự cảm thông (p=0,02) so với các nhóm tuổi khác (27).

Trong một nghiên cứu tại Trung Quốc, Linh Lưu và Jimmi Fang (2019) đã phân tích và nhận thấy rằng người bệnh ở các độ tuổi khác nhau sẽ có đánh giá khác nhau về CLDV y tế. Đối với người bệnh dưới 35 tuổi thì quan tâm nhiều hơn đến chất lượng chăm sóc sức khỏe và kỳ vọng về CLDV ít hơn. Đối với người từ 35-50 tuổi tình trạng bệnh phức tạp hơn và khoảng cách giữa hiệu quả điều trị với kỳ vọng lớn

HUPH

giá CLDV. Có ý kiến các chuyên gia CSSK nên tập trung quản lý các kỳ vọng khác nhau liên quan đến độ tuổi của người bệnh (21).

Trình độ học vấn.

Trong một nghiên cứu khảo sát kiểm tra sức khỏe dinh dưỡng Hàn Quốc của tác giả Ko KD và các cộng sự (2012) tiến hành trên 335 người lớn từ 20 tuổi trở lên được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường cho thấy rằng những người có trình độ học vấn thấp hơn hoặc thời gian mắc bệnh tiểu đường ngắn hơn ít có khả năng nhận được các dịch vụ chăm sóc dự phòng cho các biến chứng của bệnh tiểu đường. Phụ nữ hoặc những người có thời gian mắc bệnh tiểu đường lâu hơn ít có khả năng đạt được mục tiêu đường huyết hơn. Bệnh nhân tiểu đường béo phì ít có khả năng kiểm soát tốt huyết áp và LDL-Cholesterol.

Trong một nghiên cứu của Rahman MM, Shahidullah M cho thấy tuổi tác, thời gian chờ đợi và số năm đi học có quan hệ nghịch chiều với mức độ hài lòng cho thấy bệnh nhân trẻ hơn, ít thời gian chờ đợi hơn tỷ lệ hài lòng hơn và bệnh nhân có trình độ học vấn thấp hài lòng cao hơn. Trong khi thời gian đi khám, thu nhập có liên quan mật thiết với mức độ hài lòng của người bệnh, người bệnh đến khám tại các bệnh viện khu vực nội thành và giới tính nam cũng có liên quan đáng kể (29). Trong một nghiên cứu khác cho kết quả kiến thức của bệnh nhân về quyền của họ cũng làm giảm bớt kỳ vọng của họ về các dịch vụ y tế chất lượng: “Nếu bệnh nhân biết về quyền của họ, họ sẽ mong đợi nhiều hơn từ nhân viên y tế và tin tưởng chất lượng dịch vụ y tế tăng lên. “Người bệnh được trao đổi và hiểu rõ về bệnh của mình hơn thì sẽ có thái độ hợp tác tốt hơn với bác sỹ điều trị (30).

Tình trạng kinh tế.

CLDV khám chữa bệnh của các bệnh viện phụ thuộc rất lớn vào thu nhập và mức sống của người dân trong khu vực. Với những người có điều kiện thu nhập tốt sẽ đồng ý chi trả mức chi phí cao hơn đổi lại được chăm sóc tốt hơn và trải nghiệm các dịch vụ y tế chất lượng cao. Ngược lại người dân có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn thì việc thực hiện các dịch vụ y tế chất lượng cao đối với họ rất khó khăn.

Chính vì vậy, các cơ sở y tế phải có chiến lược phù hợp phát triển. Song song với

HUPH

việc nâng cao CLDV phải tính toán phù hợp để có thể đáp ứng được việc cân đối giữa nhu cầu của người bệnh về khám chữa bệnh và khả năng chi trả của họ.

Trong nghiên cứu của Ali Mohammad Mosadeghrad về các YTAH đến CLDV y tế cho kết quả người đến khám và điều trị tại các bệnh viện tư sẽ có kỳ vọng cao hơn vì họ trả tiền nhiều hơn cho các dịch vụ y tế (30).

Trong một nghiên cứu về hệ thống CSSK của Banglades được thực hiện trên 57 bệnh nhân ở thành phố Dhaka chỉ ra người bệnh có trình độ học vấn tốt hơn và giàu hơn sẽ tìm kiếm dịch vụ tại bệnh viện tư nhân, trong khi những người học vấn ít hơn và nghèo hơn có xu hướng chọn bệnh viện công. Điều này cũng ảnh hưởng đến việc đánh giá CLDV ở các CSYT khác nhau ở những bệnh nhân đến khám có nhận thức và điều kiện kinh tế khác nhau (31).

Sử dụng Bảo hiểm Y tế

Một nghiên cứu tiến hành tại Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc với 139 bệnh viện thuộc hệ thống y tế công lập tham gia cho ra các kết quả như sau: Người bệnh có BHYT cho dân thành phố không hài lòng về chi phí y tế, người bệnh không có BHYT và BHYT hợp tác xã nông thôn mới không hài lòng với chi phí y tế và thuận tiện y tế, người có BHYT cho nhân viên đô thị và miễn phí chăm sóc y tế không hài lòng với yếu tố CLDV. Từ đó cho thấy người bệnh được BHYT chi trả ở mức thấp hơn không hài lòng với chi phí y tế và người có tỷ lệ bồi hoàn BHYT cao hơn thì chú ý nhiều hơn về CLDV (21).

Khoảng cách tới bệnh viện

Một bệnh viện, nhà cung cấp dịch vụ và các dịch vụ của bệnh viện cung cấp cho người bệnh hoạt động có thực sự hiệu quả hay không, thông qua việc khảo sát CLDV dựa trên sự cảm nhận của khách hàng được xem như công cụ cơ bản nhất. Nghiên cứu tại các bệnh viện công lập ở Nam Punjab, Pakistan do tác giả Abid Hussain và cộng sự thực hiện năm 2019 nhằm đánh giá thông tin nhận được, trang thiết bị y tế, khoảng cách từ bệnh viện và cơ sở hạ tầng vật chất ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại các bệnh viện công. Nghiên cứu ngẫu nhiên trên 700 bệnh nhân và 579 đã đưa ra các câu trả lời thích hợp. Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và phân tích

HUPH

bị y tế, thông tin nhận được, khoảng cách từ bệnh viện và cơ sở hạ tầng vật chất có tác động tích cực đáng kể (p = 0,001) đến sự hài lòng của bệnh nhân trong nghiên cứu này tác giả chỉ ra rằng khoảng cách từ nhà bệnh nhân đến bệnh viện càng ngắn thì sự hài lòng sẽ cao hơn. Để thúc đẩy mức độ hài lòng cao hơn, cần có các bước cải tiến thích hợp (40).

Một phần của tài liệu Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú tại bệnh viện hoàn mỹ bình dương 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng (Trang 20 - 23)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(103 trang)