3.1.1. Một số nét về lý thuyết tam phân trong ngôn ngữ học hiện đại:
Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học, tất cả các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng: ngôn ngữ là công cụ giao tiếp giữa người với người. Nhưng cách thức nghiên cứu khảo sát ngôn ngữ lại khác nhau, thậm chí có thể là mâu thuẫn với nhau. (Chẳng hạn giữa "chủ nghĩa hình thức" và "chủ nghĩa chức năng"). Theo chủ nghĩa hình thức, ngôn ngữ được coi là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học mà ngữ pháp là một hệ thống các qui tắc. Họ tập trung nghiên cứu mặt hình thức của ngôn ngữ và coi cái "hình thức biểu đạt" này qui định cái mặt "nghĩa", "mặt nội dung" của ngôn ngữ và như vậy, cái cơ chế hình thức của hệ thống ngôn ngữ đã bị tách ra khỏi hoạt động thực sự của nó.
Theo chủ nghĩa chức năng, ngôn ngữ "được sử dụng với mục đích chính là thiết lập các mối quan hệ giữa người nói và người nghe" [71, tr.1]. Ngôn ngữ được nhìn nhận như một hoạt động xã hội - tâm lý đặc thù.
Công cụ, phương tiện để đạt được mục đích cuối cùng của hoạt động ngôn ngữ chính là việc sử dụng ngôn từ. Hành động ngôn từ tác động thông qua cái nghĩa của nó. "Nghĩa chính là cái điều được truyền đạt trong lời nói"[27, tr.6]. Nhưng một câu có thể có phần nghĩa thứ nhất là nghĩa bề mặt (nghĩa nổi) thể hiện qua bản thân câu nói và phần nghĩa thứ hai là nghĩa bề sâu (nghĩa chìm) có được tuỳ từng tình huống và mục đích giao tiếp nhất định. Vì vậy, theo Cao Xuân Hạo: "….bên cạnh bình diện nghĩa học truyền thống, phải thêm cho ngôn ngữ học một bình diện dụng pháp và ta có được một mô hình gồm ba bình diện"[27, tr.7]. Đó là: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng.
Mô hình lý thuyết ba bình diện (hay còn gọi là lý thuyết tam phân) trong ngôn ngữ học hiện đại được các nhà ngữ học đưa ra với các cách gọi khác nhau như:
a. Ba bình diện: Kết pháp - Nghĩa học - Dụng pháp (theo Moris và trường phái ngôn ngữ học Mỹ).
b. Ba cấp độ: Cấu trúc ngữ pháp của câu - Cấu trúc nghĩa của câu- Cách tổ chức phát ngôn (theo F.Danes và Trường phái Praha) c. Ba quan điểm: Hình thái học cú pháp - Nghĩa học sở chỉ - Tôn ty phát ngôn. (theo C.Hagège)
d. Ba bình diện: Cú pháp - Nghĩa học - Logic thông báo (theo V.G.Gak)
e. Ba lĩnh vưc: Cú pháp học - Ngữ nghĩa học - Dụng học (theo George Yule)
….v.v…
Dù cách diễn đạt của các nhà nghiên cứu có khác nhau, nhưng rõ ràng trong mô hình tam phân đó, cả ba đều có "mối quan hệ khăng khít của hình thức với nội dụng, của phương tiện với mục đích" [27, tr.7]. Mối quan hệ giữa ba bình diện này có thể là tương ứng 1-1-1, nhưng cũng có thể là không tương ứng (hay phi đối xứng)
3.1.2. Sự cần thiết phải xem xét câu cảm thán từ góc độ ngữ nghĩa, ngữ dụng:
Như ở chương II đã trình bày, luận văn này đã cố gắng đưa ra những đặc điểm cơ bản về hình thức của câu cảm thán, về cấu trúc cú pháp của câu cảm thán trên cơ sở miêu tả và phân tích những phương tiện biểu hiện chúng.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu về câu, các nhà ngôn ngữ học hiện đại đều thấy rằng: không thể chỉ tập trung nghiên cứu cái hình thức của hệ thống ngôn ngữ được tách ra khỏi hoạt động thực sự của nó. Chính vì vậy, cần phải nhìn
nhận câu nói chung và câu cảm thán nói riêng cả ở góc độ ngữ nghĩa và ngữ dụng. Từ đó có thể thấy được mối liên hệ giữa các hình thức ngôn ngữ với các thực thể trong thế giới hiện thực, và với người sử dụng các hình thức đó, với các tình huống sử dụng chúng.
Thực chất, trong nghiên cứu ngôn ngữ, muốn hiểu rõ được một trong ba bình diện đó thì đều phải đặt nó trong mối liên hệ với hai bình diện kia. Thực tế khảo sát cho thấy rằng: để đảm đương được cái chức năng biểu thị cảm thán, không phải chỉ có một hình thức duy nhất là câu cảm thán dùng từ cảm thán mà còn có nhiều hình thức khác nữa (như đã phân tích ở chương II).
Nhiều công trình nghiên cứu cũng đã cho thấy rằng: một hình thức hỏi có thể dùng để hỏi nhưng cũng có thể được dùng để ra lệnh hay để cảm thán. Như vậy có nghĩa là: một bình diện nội dung có thể được biểu hiện bằng nhiều phương tiện hình thức khác nhau, và ngược lại một phương tiện hình thức có thể được sử dụng để biểu thị cho nhiều mục đích nói khác nhau. Vì vậy cần thiết phải kiểm tra, đối chiếu hình thức với nội dung, ý nghĩa với phương tiện biểu hiện trong ngôn ngữ. "Việc đi ngược trở lại từ mục đích (nghĩa ) đến phương tiện (hình thức) để bổ sung cho việc miêu tả hình thức là hoàn toàn phù hợp với quan niệm hiện đại về tính phổ quát của cách tư duy của con người và do đó cũng là của cách biểu hiện…" [Jakobson (1959), trích theo 27, tr.4]
Vấn đề quan trọng cần phải nhận thấy ở đây là: mặc dù ba bình diện (cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng) có mối liên hệ khăng khít với nhau nhưng vẫn phải thấy được sự phân giới giữa chúng để có được những kết quả nghiên cứu thoả đáng.
Chẳng hạn ví dụ sau:
(1)- Ô hay, trời chẳng nể ông Tây !
(Tú Xương, Mồng 2 tết viếng cô kí)
Xét về cú pháp học thuần tuý, ta sẽ có một mô hình cấu trúc câu cảm thán gồm hai phần biệt lập như sau:
Yếu tố cảm thán Nòng cốt câu
C V
Ô hay trời chẳng nể ông Tây
Đây là một mô hình cú pháp câu cảm thán đầy đủ. Nhưng xét về bình diện ngữ nghĩa thì trong phần nòng cốt câu (được biểu hiện bằng mệnh đề
"Trời chẳng nể ông Tây") lại có cái gì đó chưa ổn. Xuất phát từ nghĩa của các từ ngữ cơ bản, ta phải có một trật tự nghĩa logic là: "Ông Tây nể trời" chứ không thể bình luận gì về việc "Trời nể ông Tây" hay "Trời chẳng nể ông Tây", bởi vì có một cái tiền ước giữa mọi người: "Trời" là cao nhất và chắc chắn là cao hơn cái "ông Tây" nào đó. Vậy thì cái ngữ nghĩa được biểu thị bằng hình thức là các từ ngữ cụ thể đó, sắp xếp theo một tổ chức cú pháp như vậy sẽ không biểu thị đúng cái sự tình nào trong hiện thực khách quan. Như vậy quá trình hiểu đúng ngữ nghĩa câu sẽ bị cản trở nếu không xét đến mặt dụng học trong việc sử dụng các hình thái ngôn ngữ. Điều đó có nghĩa là nếu ta thấy được cái ý nghĩa của ngữ cảnh, thấy được những phần ý nghĩa không biểu lộ trong thông báo, thấy được sự ngầm hiểu giữa người đưa ra thông báo và người nhận thông báo đó thì mới xác định được cái giá trị đích thực của câu cảm thán này.
Như vậy, rõ ràng là: câu cảm thán, cũng như bất kỳ kiểu loại câu nào đều phải được xem xét cả từ góc độ ngữ nghĩa và ngữ dụng.
3.1.3. Một số vấn đề về câu cảm thán nhìn từ góc độ ngữ nghĩa và ngữ dụng:
Khi xem xét câu cảm thán về bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng ta sẽ thấy được nhiều vấn đề thú vị nhưng do khuôn khổ của một luận án, chúng tôi chỉ đề cập đến hai vấn đề có liên quan.
Một là, nhìn từ góc độ ngữ nghĩa, ta có thể đề cập đến vấn đề về cấu trúc ngữ nghĩa, về nội dung cảm thán, về các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau thể hiện qua câu cảm thán.v.v… Và những điều đó có thực sự phù hợp với cái cấu trúc cú pháp được sử dụng để biểu thị nó hay không.
Hai là nhìn từ góc độ ngữ dụng là phải xét đến mối liên hệ giữa các hình thái cấu trúc của câu cảm thán với người sử dụng với tình huống, với ngôn cảnh v.v…, nghĩa là nghiên cứu trực tiếp cách sử dụng câu cảm thán trong sinh hoạt xã hội. Vì vậy có thể xem xét về mối quan hệ giữa "cái chủ quan" và
"cái thực tại khách quan" trong cảm thán; về các cặp đối lập tương ứng; về vai trò của đồng văn bản trong việc tạo lập và làm xuất hiện câu cảm thán.v.v…
Hai vấn đề trên đây được phân tích trên cơ sở các ngữ liệu cụ thể là những câu cảm thán đã được xác định về mặt cấu trúc cú pháp chứ không phải là sử dụng các kết quả phân tích đó để nhận diện câu cảm thán.