Theo George Yule (1997), ngữ dụng học "nghiên cứu phần ý nghĩa thuộc về người nói", "nghiên cứu ý nghĩa của ngữ cảnh", "nghiên cứu những ý nghĩa không biểu lộ", "nghiên cứu về việc thể hiện khoảng cách tương đối giữa người nói và người nghe". [21, tr 20-21].
Và như trên đã nói, xem xét câu cảm thán từ góc độ ngữ dụng là phải thấy được mối liên hệ giữa các hình thức cấu trúc của câu cảm thán với các
thực thể trong thế giới hiện thực, với người sử dụng và người tiếp nhận các hình thức đó, với các tình huống sử dụng chúng v.v…
Khi xem xét câu cảm thán tiếng Việt từ góc độ ngữ dụng, chúng tôi thấy có một số vấn đề sau:
- Cảm thán là một hình thức ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống. Cảm thán có lúc ẩn, lúc hiện, lúc thực, lúc giả. Có lúc người ta cảm thán một mình, cho mình, vì mình. Có lúc người ta cảm thán với người, cho người vì người. Từ thực tế sử dụng đó, chúng tôi phát hiện ra các cặp đối lập tương ứng trong cảm thán.
- Một cảm thán xuất hiện và tồn tại phải có 3 yếu tố:
+ Yếu tố "cảm xúc"
+ Yếu tố "cái chủ quan"
+ Yếu tố "cái thực tại khách quan"
Trong đó yếu tố cảm xúc là yếu tố quan trọng nhất. Mối quan hệ giữa hai yếu tố còn lại sẽ quyết định tính chất của yếu tố cảm xúc trong cảm thán.
- Nghiên cứu câu cảm thán trong tiếng Việt về mặt cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa là nghiên cứu trong văn cảnh, trong phạm vi câu. Nhưng về mặt dụng học, ta có thể mở rộng đến cấu trúc bậc trên câu và xem xét vai trò của đồng văn bản trong việc tạo lập và làm xuất hiện cảm thán.
3.3.1. Các cặp đối lập tương ứng trong cảm thán
3.3.1.1. "Cảm thán hiển ngôn" và "cảm thán hàm ngôn":
Hiển ngôn và hàm ngôn là những khái niệm thường được nói đến trong ngữ dụng học. Khi sử dụng ngôn ngữ, người ta muốn truyền đạt đến người tiếp nhận những gì mình muốn nói. Cái muốn nói ấy có thể được thể hiện trực tiếp qua ngôn từ trong câu nhưng cũng có thể phải qua suy đoán mới cảm
nhận thấy được. Vì vậy mới có vấn đề về nghĩa của từ, ý của lời và ý nghĩa của câu. Chúng ta có thể xem xét ví dụ sau:
(29) - Thế đê không sao cự lại với thế nước !
(Phạm Duy Tốn, Sống chết mặc bay) Nếu xét nghĩa từng từ, ta có thể xác định được nghĩa đen của mỗi từ:
- đê: là cái khối đất được đắp cao lên dọc theo bờ sông để ngăn nước sông lên cao vào mùa mưa lũ tràn vào đồng ruộng, làng xóm.
- nước: là chất lỏng không màu, không mùi, không vị - cự: là chống đỡ.
- thế: là vị thế, là khả năng, là sức mạnh của ai đó hay cái gì đó.
Ý của lời ở đây là: con đê yếu đã không ngăn cản được nước lũ mạnh.
Nhưng mặt khác, ta cũng thấy được cái ý tiền giả định là: trước đó, con đê ấy đã từng cự lại được bao lần nước to. Còn cái ý hàm ẩn ở đây là: con đê sẽ bị vỡ, nước sẽ tràn vào và đồng ruộng, nhà cửa sẽ bị ngập lụt. Từ đó có thể suy ra, cái ý nghĩa hàm ẩn của câu: đó là sự lo lắng, sợ hãi và bất lực trước một thực tế: đê vỡ. Đó chính là cái nét nghĩa cảm thán tiềm ẩn trong câu. Nếu nhìn nhận câu (29) trong cả đoạn văn bản 6 câu kế tiếp nhau:
(30) - Than ôi ! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời ! Thế đê
không sao cự lại với thế nước ! Lo thay ! Nguy thay ! Khúc đê này, khúc đê này hỏng mất !
ta sẽ thấy rằng: câu: "Than ôi !", "Lo thay !", "Nguy thay !" là ba câu cảm thán, dùng từ cảm thán. Nét nghĩa cảm thán biểu lộ rất rõ ràng trong câu. Đó là cảm thán hiển ngôn. Những câu còn lại cũng là hai câu cảm thán nhưng dùng phương tiện biểu hiện là ngữ điệu cảm thán, nét nghĩa cảm thán không hiển lộ mà hàm ẩn trong câu. Ta gọi đó là cảm thán hàm ngôn.
Có thể xác định hai khái niệm đó như sau:
- Cảm thán hiển ngôn: Nét nghĩa cảm thán hiển lộ trực tiếp qua ngôn từ được sử dụng trong câu cảm thán.
Thuộc về loại này là những câu cảm thán chính danh dùng phương tiện biểu thị cảm thán là các từ cảm thán.
- Cảm thán hàm ngôn: Nét nghĩa cảm thán không hiển lộ trực tiếp mà hàm ẩn trong ngôn từ được sử dụng trong câu cảm thán.
Thuộc về loại này là những câu cảm thán không chính danh như: câu cảm thán dùng một số dạng thức hỏi hoặc phủ định đặc biệt hay dùng ngữ điệu cảm thán.v.v…
Có thể thấy rõ hơn về những điều đó qua các ví dụ sau:
(31) [Tầm tầm giời cứ đổ mưa
Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm ! Cô đơn, buồn lại thêm buồn ]
Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi ?
(Nguyễn Bính, Người hàng xóm)
(32) - Khốn nạn, chè đâu mà ăn, cơm còn không có nữa là chè ! (Nam Cao, Nghèo)
(33) - [Bác già tôi cũng già rồi]
Biết thôi thôi thế thì thôi mới là !
(Nguyễn Khuyến - Khóc Dương Khuê) Trong ví dụ (31), ta thấy được cái nỗi buồn, lo, phấp phỏng, cái hy vọng mong manh đến mức gần như là thất vọng vì không biết có còn được nhìn thấy cô hàng xóm ra hiên hong tơ nữa hay không chứ không phải là sự mong đợi, buồn, lo về con bươm bướm trắng trong cái nghĩa nguyên văn của câu.
Con bươm bướm ấy chỉ như là một cái cớ, một sợi dây liên lạc tình cờ giữa hai người hàng xóm ấy mà thôi. Cái hàm ý cảm thán đã được suy ra nhờ các phương tiện cảm thán.
Trong ví dụ (32), thực từ "khốn nạn" đã nói lên được cái thực tế cuộc sống khổ sở, thiếu thốn của một gia đình nghèo, của những con người khốn khổ, khốn nạn theo đúng nghĩa đen của những từ này. Nhưng cái sự khốn nạn
ấy không chỉ là về vật chất mà cả về tinh thần. Trong câu chuyện, khi người bố hỏi:
" - Lúc nãy mẹ con mày ăn cám phải không?"
và "cái Gái gượng cười, cãi:
- Ăn chè đấy chứ !"
Chính câu trả lời không đúng sự thật của đứa con gái còn bé đã làm cho người bố thấy đau lòng. Đau lòng vì thương con, đau lòng vì thấy đứa con đã nói dối để bố khỏi buồn, nhưng đau lòng hơn cả là nỗi đau tự dày vò, tự trách mình của người bố. Cái hàm ý cảm thán chính là đã ẩn trong cái nỗi đau không thể nói hết ra được ấy của người cha. Trong hình thức ngôn ngữ biểu hiện, chính cái ý nghĩa cảm thán hàm ẩn trong thực từ "khốn nạn" càng được bộc lộ rõ hơn, khi được dùng trong câu, với tính chất là ý nghĩa cảm thán hàm ẩn của câu.
Với ví dụ (33), cái hàm ý cảm thán của câu càng đặc biệt hơn.
Trước hết, ta hãy xét ý nghĩa từ vựng ngữ pháp của từ "thôi" qua một số ví dụ trích trong tác phẩm tắt đèn của Ngô Tất Tố:
(34) - Thôi, liệu mà vay mượn, bán chác mau lên, cố lo cho đủ tiền
sưu, rồi đem anh ấy về nhà. (trang 55) (35) - Thôi ông ! Làm gì mà nóng tính thế. (trang 59) (36) - Thôi ! Con lạy ông ! (trang 59) (37) - Thôi ! Em xin ông quyền. (trang 65)
Từ "thôi" trong tiếng Việt thường được sử dụng rất thông dụng khi người nói muốn truyền đạt một nội dung thông báo có ý nghĩa như muốn dừng lại một hoạt động nào đó đang được tiến hành trước đó. Từ "thôi"
thường đứng đầu câu, hay nói cụ thể và chính xác hơn là đứng trước nòng cốt
câu và làm thành một bộ phận độc lập với nòng cốt câu hoặc có thể đứng tách ra làm thành một câu độc lập.
Có thể chính với những đặc điểm cú pháp tương đồng với từ cảm thán như vậy mà nhiều khi nó được dùng với hàm ý cảm thán. Ví dụ như trong các câu sau:
(38) - Thôi, cứ gọi là tan xương !
(Nam Cao, Chí Phèo) (39) - Thôi thôi, vốn liếng đi đời nhà ma!
(Nguyễn Du, Truyện Kiều) (40) Thôi đành tạm biệt nuốt sầu gượng vui!
(Tú Mỡ, Khóc người vợ hiền)
Trong những trường hợp này, phần nòng cốt câu thường có nội dung thông báo về một cái gì đó mất mát, buồn bã, tiếc thương cao độ v.v… gây nên cảm xúc bất thường cho người nói. Chính vì vậy mà câu có hàm ý cảm thán. Khi sử dụng kết hợp với từ cảm thán thì hàm ý cảm thán đó sẽ được nhận biết rõ hơn.
Ví dụ:
(41) - Ôi thôi, chú mày ơi !
(Tô Hoài, Dế mèn phiêu lưu ký) (42) - Ôi, thôi thôi !
(Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) Từ "thôi" với hàm ý cảm thán còn xuất hiện ở vị trí khác trong câu dưới dạng kết hợp "…thì thôi", "…là thôi" biểu thị ý bất lực, chấp chận một sự thật đau buồn, bất khả kháng.
Ví dụ:
(43) - Đã tu, tu trót, qua thì, thì thôi !
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
(44) - Cũng là thôi, cũng là đành.
(Nguyễn Bính, Lỡ bước sang ngang) Đặc biệt, những câu sử dụng kết hợp: "Thôi thì thôi", "Thôi thế thì thôi" với nội dung cực kỳ súc tích và nét nghĩa vô cùng phong phú của từ
"thôi" đã khiến cho cái hàm ý cảm thán của câu trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết.
Ví dụ:
(45) - Thôi thì thôi có tiếc gì !
(Nguyễn Du, Truyện Kiều) (46) - Kiếp này, thôi thế thì thôi còn gì !
(Nguyễn Du, Truyện Kiều) (33) - Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là !
(Nguyễn Khuyến, Khóc Dương Khuê) Trong ví dụ (33) cách sử dụng từ "thôi" của Nguyễn Khuyến quả là đặc sắc, độc đáo và cũng rất tài tình, thâm thuý. "Biết thôi": bởi vì "bác già tôi cũng già rồi", đôi bạn tri kỷ, vui buồn có nhau, đã cùng nếm trải mọi thăng trầm trong cuộc đời thế sự, hiểu biết về cái quy luật muôn đời của sự sinh tồn và mất mát - thế thì vào cái thời điểm cuối đời ấy, chỉ cần biết cho nhau thôi, hiểu cho nhau thôi là đủ và mọi lời nói đều là thừa. Đây là lời tâm sự của Nguyễn Khuyến với Dương Khuê. Người ngoài cuộc, nếu không biết được những sự kiện không vui trong quan hệ giữa hai người thì sẽ không hiểu hết hàm ý của hai từ "biết thôi". Cái ý tiền giả định ở đây là rất rộng. Giữa hai người trước đây đã từng có sự bất đồng về thái độ chính trị trước thời cuộc và khi Dương Khuê cộng tác với tân triều thì Nguyễn Khuyến cảm thấy xót xa, đau đớn. Nhưng vào cái giây phút chia lìa đôi ngả âm dương ấy, người ta dễ thông cảm cho nhau mọi sự trên đời và bỏ qua cho nhau tất cả cho nên " biết (cho nhau) thôi" và "thôi, thế thì thôi" (không nhắc lại những gì không vui
nữa) - chỉ giữ lại những gì tốt đẹp thì như thế "mới là" tình bạn chân thành.
Thật là một câu thơ đầy súc tích và chất chứa bao nỗi niềm tình cảm - Và cái hàm ý cảm thán của câu chỉ có thể được nhận biết nếu hiểu được cái ý tiền giả định đó.
Tựu trung lại, vấn đề cần nhận thấy ở đây là: lí do cần thiết phải sử dụng hình thức cảm thán hàm ngôn là gì?
Việc sử dụng ngôn ngữ nói chung có một đặc điểm rất khái quát là: "ý tại ngôn ngoại". Trong hoạt động giao tiếp xã hội, có những điều có thể nói thẳng ra được, có những điều lại không thể nói thẳng vì nhiều lí do: Có những lí do thuộc về ngôn ngữ (chẳng hạn do cơ chế ngôn ngữ), có những lí do nằm ngoài ngôn ngữ (chẳng hạn do phải lịch sự, tế nhị trong giao tiếp, do xu hướng thẩm mỹ, .v.v…) Trong một câu, ngoài những điều đã được nói rõ ra (những ý nghĩa biểu lộ, nghĩa nguyên văn) còn có những điều không nói ra mà vẫn được người ta nhận ra (đó là những tiền giả định, những hàm ý của câu). Với câu cảm thán cũng thế. Ta có thể có những câu cảm thán thuộc loại cảm thán "nổi" - cảm thán hiển ngôn và những câu cảm thán thuộc loại cảm thán "chìm", cảm thán ở dạng tiềm ẩn- cảm thán hàm ẩn. Bởi vì trong việc sử dụng ngôn ngữ trong cuộc sống, không phải lúc nào người ta cũng có thể bộc lộ cảm thán một cách rõ ràng, trực tiếp được. Cảm thán phải được bộc lộ đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ thì mới có hiệu quả. Có nhiều lí do buộc người ta phải sử dụng hình thức cảm thán hàm ngôn tuỳ theo từng tình huống. Chẳng hạn:
- Để biểu thị cảm xúc buồn bã, cô đơn và cả tâm trạng phân vân, hồ nghi, người ta có thể dùng câu cảm thán có dạng câu hỏi (như ví dụ 31).
- Để biểu thị một cách vừa cụ thể, vừa khái quát một tâm trạng phức tạp, đa chiều, người ta có thể dùng câu cảm thán có thực từ biểu thị ý cảm thán (như ví dụ 32).
- Để biểu thị một cảm xúc tế nhị, kín đáo người ta có thể dùng câu cảm thán với ngữ điệu cảm thán và cách dùng từ, chơi chữ tinh tế (như ví dụ 33)..v.v…
Như vậy, các hình thức cảm thán hàm ngôn là rất đa dạng phong phú và giàu ý nghĩa. Những hình thức này thường được dùng nhiều trong các văn bản nghệ thuật như thơ ca, truyện, tiểu thuyết.v.v…
3.3.1.2."Cảm thán chân" và "cảm thán ngụy" ("cảm thán thật" và "cảm thán giả") Trong việc sử dụng ngôn ngữ, có những hình thức ngôn ngữ không được sử dụng cho một mục đích giao tiếp phù hợp với hình thức ngôn ngữ đó, chẳng hạn: một số hình thức hỏi biểu thị cảm thán như đã phân tích ở chương II. Nhưng đó là nói về mặt hình thức sử dụng. Còn ở đây, khi đề cập đến vấn đề "cảm thán chân" và "cảm thán ngụy" là chúng tôi muốn nói đến mặt ý nghĩa của câu cảm thán và hiệu lực của nó trong sử dụng ngôn ngữ.
Khi một người sử dụng một câu cảm thán để bày tỏ cảm xúc, tâm trạng thực của mình và muốn người nghe hiểu và tiếp nhận được cảm xúc, tâm trạng ấy chính là cảm xúc, tâm trạng thực thì đó là cảm thán chân.
Ví dụ:
(47) - Chao ôi ![Những ngày mưa rét hồi ấy vui quá nhỉ?]
(Nam Cao, Từ ngày mẹ mất) (48) - Ối ối, cậu nói làm tôi sợ toát cả mồ hôi!
(Nguyễn Đình Thi, Cái Tết của Mèo con) (49) - Mẹ kiếp, con Giời với chả con Phật !
(Vũ Trọng Phụng, Số Đỏ)
Trong các trường hợp này, sự tiếc nhớ (ví dụ 47), sự sợ hãi (ví dụ 48), sự khinh bỉ, mỉa mai (ví dụ 49) là những cảm xúc, tâm trạng có thật của chủ ngôn. Những cảm xúc, tâm trạng đó xuất hiện trong những tình huống bất thường và đặc biệt. Ở đây, chủ thể phát ngôn muốn thể hiện và truyền đạt đến
người nghe, muốn giãi bày cái cảm xúc, tâm trạng thực của mình. Và hiệu quả là người nghe tiếp nhận câu cảm thán đó đúng với giá trị tự thân của nó.
Ngược lại, khi một người sử dụng một câu cảm thán như một hành vi mượn lời (theo cách gọi của Austin), nghĩa là, do tình huống giao tiếp cụ thể nào đó mà người nói buộc phải (hay cố tình) dùng hình thức cảm thán mà không xuất phát từ cảm xúc, tâm trạng tự nhiên và có thật để tỏ ra là có thông cảm với người nghe, nhằm đạt được một mục tiêu nào đấy thì đó là cảm thán ngụy.
Ví dụ:
(50) [- Thế anh còn bố mẹ không?
- Bẩm, tôi bồ côi cả bố lẫn mẹ từ sớm]
- Tội nghiệp ! [ Thế anh đã có vợ con gì chưa?
- Bẩm chưa…]
- Tội nghiệp !
(Vũ Trọng Phụng, Số Đỏ) (51) [ Rồi bà Nghị vui vẻ nhìn mặt ông Nghị: ]
- Ấy, tôi cứ hay thương người thế đấy !
(Ngô Tất Tố, Tắt đèn) (52) [ Rồi vừa xốc Chí Phèo, cụ vừa phàn nàn]:
- Khổ quá ! Giá có tôi ở nhà thì đâu đến nỗi ! (Nam Cao, Chí Phèo) (53) [ Chàng chép miệng như người thất vọng:]
- Biết bao giờ mới được đi !
(Nhất Linh, Thế rồi một buổi chiều ) Trong ví dụ (50), câu cảm thán: "Tội nghiệp !" thứ nhất có thể tạm coi là cảm thán chân vì có thể là bà Phán muốn an ủi Xuân tóc đỏ, muốn bày tỏ một sự thông cảm với Xuân vì đã "bồ côi cả bố lẫn mẹ từ sớm". Trước hoàn cảnh như vậy của một người, có lẽ ai cũng sẽ thấy cảm thông, chia sẻ với sự bất
hạnh của người đó. Nhưng đến câu cảm thán: "Tội nghiệp !" thứ hai thì tình hình không còn mập mờ như câu thứ nhất nữa. Mặc dù vừa mới nói "Tội nghiệp !" để thể hiện sự thông cảm với Xuân vì chưa có vợ con gì cả, nhưng ngay sau đó, bà Phán đã nói luôn: "Thế là tốt lắm !" bởi vì thực sự bà Phán thấy vui khi biết Xuân chưa có vợ và chính điều đó đã lật tẩy cái chủ định cảm thán không chân thực của nhân vật bà Phán. Từ đầu bà Phán đã muốn thiết lập một quan hệ thân mật, gần gũi với Xuân để sử dụng Xuân nên bà ta đã chú ý dùng hình thức câu cảm thán nhằm tạo ra sự xúc động ở Xuân Tóc đỏ. Vì vậy, cả hai câu cảm thán: "Tội nghiệp !" trong đoạn thoại của ví dụ (50) đều là cảm thán ngụy.
Trong ví dụ (51), hai vợ chồng Nghị Quế, sau một hồi diễn kịch vừa đấm vừa xoa đã đẩy chị Dậu đến chân tường của sự bế tắc. Lúc đó, bà Nghị mới chủ ý dùng một câu cảm thán với một ngữ điệu cảm thán đưa đẩy, một giọng điệu ngọt như mía lùi:
- "Ấy, tôi cứ hay thương người như thế đấy !"
Thực tế là bà Nghị nói với ông Nghị nhưng thực chất là để cho chị Dậu nghe mà "hiểu ra" cái lòng tốt, cái tính "hay thương người" của bà Nghị, để rồi dù còn chút phân vân, đắn đo nào nữa thì cũng chỉ còn một cách là bán cả con lẫn chó cho bà Nghị, đổi lấy hai đồng bảy bạc mà nộp sưu cho chồng.
Dồn ép chị Dậu để mua rẻ cái Tí và đàn chó là mục tiêu của vợ chồng Nghị Quế. Vì vậy, một câu cảm thán tung ra đúng lúc sẽ có một hiệu quả đáng giá.
Câu cảm thán đó không xuất phát từ một cảm xúc, tâm trạng thực dù được biểu hiện rất thành thực một cách điêu luyện và đầy nghệ thuật. Đó là cảm thán ngụy.
Câu cảm thán trong ví dụ (52) cũng thuộc loại cảm thán ngụy. Bá Kiến về đến nhà, thấy cảnh tượng Chí Phèo ăn vạ, người làng kéo tới xem - biết là chuyện không hay nên đã giải quyết vấn đề một cách rất nhanh chóng, rất gọn