Các đặc điểm về hình thức (Đặc điểm cấu tạo)

Một phần của tài liệu Câu cảm thán trong tiếng Việt (Trang 39 - 129)

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ HÌNH THỨC CỦA CÂU CẢM THÁN TIẾNG VIỆT

2.1. Các đặc điểm về hình thức (Đặc điểm cấu tạo)

Câu cảm thán tiếng Việt là kiểu câu có các đặc trưng riêng về hình thức, phân biệt với các kiểu câu khác. Như đã giới thiệu trong chương I, mô hình tổng quát của câu cảm thán tiếng Việt là:

Trong mô hình này, yếu tố cảm thán ( YCT ) giữ vai trò quan trọng và có tính quyết định trong việc tạo lập câu cảm thán. Vì vậy, đi sâu vào nghiên cứu các yếu tố cảm thán sẽ giúp xác định được các đặc trưng về hình thức của câu cảm than. Các yếu tố cảm thán có thể là từ cảm thán và các phương tiện biểu thị cảm thán khác như: một số thực từ, phó từ, trợ từ, kết từ, một số từ dùng để gọi- đáp, từ tục, ngữ cảm thán, ngữ phủ định đặc biệt, một số hình thức hỏi, ngữ điệu và trật tự từ biểu thị ý cảm thán.

2.1.1. Các phương tiện biểu thị cảm thán trong câu cảm thán (Các yếu tố cảm thán).

Câu cảm thán dùng các phương tiện biểu thị sau:

2.1.1.1. Từ cảm thán :

a. Vai trò của từ cảm thán trong việc tạo lập câu cảm thán:

Như trên đã nói, từ cảm thán là lớp từ đặc biệt, chuyên dùng để biểu thị những cảm xúc cảm tính hoặc lý tính, những tình cảm, trạng thái khác nhau của chủ quan người nói trước một hiện thực khách quan bất ngờ.

Ví dụ:

(1a) [Bỗng cái vỉ buồm nó động đậy, lục đục. Ngheo … Bống

CCT = YCT ) V C (

NCC 

mở tròn mắt. Ngheo …] A! Con mèo, con mèo!

(Nguyễn Đình Thi, Cái tết của mèo con) Trong truyện, lúc bà đi chợ về, cái Bống đã đoán là trong cái thúng đậy vỉ buồm ấy chắc là “Có cái bánh đa đường, hay có một gói kẹo bột” hoặc là

một con “phòng phòng”,con gà bằng bột xanh đỏ, thổi kêu te te, chơi xong lại được ăn”.Vì vậy, “Cái vỉ buồm nó động đậy, lục đục” và cái tiếng kêu

Ngheo…Ngheo…” chính là một cái hiện thực khách quan bất ngờ làm nảy sinh một cảm xúc vui mừng, ngạc nhiên ở cái Bống. Chính từ cảm thán “A

đã gánh chức năng biểu thị cảm thán, biểu thị chính xác cảm xúc, tình cảm của cái Bống lúc đó.

Có thể thấy rõ điều đó qua một loạt ví dụ khác:

(2) [Lý Cường đã về! Phải biết…]A ha![ Một cái tát rất kêu].

(Nam Cao, Chí Phèo)

(3) [Kiến ở đâu kéo về đông đặc, đen sẫm như dòng sông mật quấn quanh trước mặt, sau lưng chúng tôi.] Ôi![Chẳng lẽ chịu

chết ở đất này?]

(Tô Hoài, Dế mèn phiêu lưu ký) (4) Ôi chao ôi, cái ngày mẹ nó xuống ổ vui thiệt là vui, hơn cả cái ngày nó ở đồng bằng mới về!.

(Nguyễn Quang Sáng, Con gà trống)

Trong các ví dụ đã nêu, ta thấy một điểm chung là: Các từ cảm thán

A”, “A ha”, "Ôi”, “Ôi chao ôi”, vừa có vai trò là từ, vừa có vai trò tương đương với câu.

Với vai trò là một từ trong câu, từ cảm thán có quan hệ đẳng lập với nòng cốt câu và không có một mối liên quan nào với tổ chức của đoản ngữ.

Trong các ví dụ (1), (2), (3),từ cảm thán “A”, “A ha”, “Ôi” đứng độc lập tạo thành một câu riêng biệt. Đây là kiểu loại câu đặc biệt, chỉ thể hiện cảm xúc và được cấu tạo bằng các từ chuyên dụng: từ cảm thán.

Đến đây dường như xuất hiện một điều mâu thuẫn với định nghĩa câu theo cách hiểu của ngữ pháp truyền thống: coi trọng mặt ý nghĩa của câu, cho rằng “câu là sự tổ hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn”, nhưng thực ra không phải chỉ có câu mới biểu thị được một tư tưởng trọn vẹn. Ở đây, ta nên xem xét câu theo quan điểm mới, hoàn chỉnh hơn: Câu được hình thành khi con người vận dụng ngôn ngữ để tư duy, giao tiếp, hay biểu thị một tư tưởng, tình cảm,cảm giác, ý chí, thái độ. Về mặt hình thức ngữ pháp, câu là một chỉnh thể ngôn ngữ và có ngữ điệu kết thúc.Vì vậy, trong các ví dụ (1), (2), (3) thì “A!”, “Ô!”, “A ha!” thực sự làm thành một câu, biểu thị tình cảm , cảm xúc, thái độ của người nói và kết thúc bằng một ngữ điệu cảm thán (trong văn bản viết được ghi bằng dấu cảm thán “!” ở cuối câu). Đó là câu cảm thán chính danh được cấu tạo bằng từ cảm thán.

Xem xét hai dạng thức sau:

(1a) A! Con mèo, con mèo!

(1b) A, con mèo, con mèo!

ta thấy : Thực chất sự chuyển tải cảm thán theo hai cách này là như nhau, chỉ khác ở mặt hình thức biểu hiện văn tự : (1a) đặt dấu cảm thán ngay sau từ cảm thán, còn ở (1b) từ cảm thán được ngăn cách với phần còn lại của câu trên hình thức văn tự là một dấu phẩy.

Để xem xét xem trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, hai dạng thức này có khác nhau hay không, chúng tôi đã ghi âm cách nói của khoảng 50 người và nhận thấy là có đến 80% số người được hỏi đã phát âm “A” trong (1a) với một ngữ điệu kéo dài hơn “A” trong (1b) nhưng độ cao của âm “A” ở cả hai trường hợp là tương đương nhau và có khoảng 20% số người được hỏi đã phát âm âm “A” trong (1a) ,(1b) như nhau (cả về độ dài và độ cao).

Vì vậy, có thể nói: cả (1a) và (1b) đều có giá trị biểu thị sắc thái cảm thán như nhau vì cùng sử dụng chung một phương tiện biểu thị cảm thán là từ cảm thán “A”.

Ở (1a) : ta có hai câu cảm thán : câu cảm thán dùng từ cảm thán “A!”

và câu cảm thán khuyết phần thuyết, chỉ dùng một thực từ định danh làm phần đề, kèm theo ngữ điệu cảm thán.

Ở (1b): ta có một câu cảm thán gồm có hai phần biệt lập: phần đầu là từ cảm thán “A” làm thành phần độc lập trong câu, ngăn cách với phần sau bằng một đoạn ngưng ngắn, được đánh dấu bằng một dấu phẩy.

Như vậy từ cảm thán là một phương tiện ngữ pháp dùng để cấu tạo câu cảm thán. Đó là những câu cảm thán chính danh.

Có ý kiến cho rằng: từ cảm thán là từ dùng để thêm vào câu tường thuật để biến đổi thành câu cảm thán. Cách nói đó chưa bao hàm hết được nội dung hoạt động của từ cảm thán.

Từ cảm thán là những từ được coi là lớp từ đầu tiên của loài người.

Nó được người nói phát ra một cách bột phát, bất ngờ khi đứng trước một hiện thực bất thường. Trong câu cảm thán, từ cảm thán thường xuất hiện trước bộ phận nòng cốt câu – bộ phận chuyển tải nội dung thông báo về cái nền hiện thực đã gây ra cảm xúc đặc biệt ở người nói. Từ cảm thán đứng biệt lập, tách riêng thành một khối và không có quan hệ ngữ pháp với bất kỳ bộ phận nào trong phần còn lại của câu hoặc câu đi theo nó.

Xem xét ví dụ sau:

(5) Ối giời ơi !... A , mẹ ! Sáng thì lạnh, trưa thì nóng!

YCT 1 YCT 2 NCC2 NCC1 (Khẩu ngữ)

Ở đây, có hai hành vi cảm thán, ta có thể sắp xếp lại như sau:

(5a) Ối giời ơi, sáng thì lạnh, trưa thì nóng! YCT

(5b) A, mẹ!

nhưng (YCT 1), (NCC1) bị cắt ra, câu cảm thán thứ nhất bị ngắt quãng vì có một hiện thực khác bất ngờ xảy ra và từ cảm thán “A” xuất hiện, cấu tạo nên một câu cảm thán mới chen ngang câu cảm thán trước.

Như vậy, rõ ràng, từ cảm thán không phải là từ dùng để thêm vào câu tường thuật để tạo thành câu cảm thán mà nó chính là lực ngôn trung của câu cảm thán.

b. Phân loại từ cảm thán tiếng Việt:

Tiếng Việt có một bộ từ cảm thán khá hoàn chỉnh. Dựa vào số lượng âm tiết có mặt trong từ cảm thán có thể phân các từ cảm thán tiếng Việt thành hai nhóm:

Nhóm 1: Từ cảm thán đơn tiết:

Trong nhóm 1, ta có thể chia thành hai tiểu nhóm dựa vào cấu tạo âm tiết của từ cảm thán đơn tiết có âm đầu là nguyên âm hay phụ âm:

+ Tiểu nhóm (1a): Từ cảm thán đơn tiết có âm đầu là nguyên âm như:

* a, , à, á, á à, ái, ...

* ấy, âu ...

* eo ...

* ê, ế , ...

* ơ, ớ...

* ô, ồ, ố...

* ôi, ối...

+ Tiểu nhóm (1b): Từ cảm thán đơn tiết có âm đầu là phụ âm như:

YCT2 NCC2

* chao, chà ...

* ha, hừ, hứ, hé, ...

* xì, ...

Xem xét tư liệu ta thấy: Tần số xuất hiện của các từ cảm thán thuộc tiểu nhóm (1a) cao hơn các từ cảm thán trong tiểu nhóm (1b). Các từ cảm thán thuộc lớp từ đầu tiên của loài người, được phát ra để biểu thị cảm xúc bất ngờ của con người khi đứng trước một hiện thực bất thường. Về lý thuyết, các nguyên âm bao giờ cũng được bật ra dễ dàng hơn và nhanh hơn các phụ âm.

Vì vậy trong thực tế sử dụng các từ cảm thán thuộc tiểu nhóm (1a) chắc chắn có tần số xuất hiện cao hơn các từ thuộc tiểu nhóm (1b)

Ngay cả các từ trong tiểu nhóm (1b), có lẽ dạng nguyên sơ của chúng được phát âm với những âm không hoàn toàn rõ như [“hừ”] hay [“xì”] hoặc [“chao”].

Nhóm 2: Từ cảm thán đa tiết:

Đó là những từ cảm thán song tiết hay tam tiết ở dạng kết hợp:

+ Trong đó có một âm tiết bắt đầu bằng một nguyên âm và âm tiết khác bắt đầu bằng một phụ âm như: a ha, ái chà, ơ kìa, ơ này, ơ hay, ô hay, ô hô, ô kìa, ô này, ôi chao, chao ôi , thương ôi, ôi dào, ôi thôi , ái chà chà, ôi thôi thôi .v.v...

+ Các âm tiết đều bắt đầu bằng nguyên âm như: á à, eo ôi, ối eo ôi v.v...

+ Các âm tiết đều bắt đầu bằng phụ âm như: chà chà, ha ha, hô hô . v.v...

c. Mô tả vị trí , cách dùng từ cảm thán trong câu cảm thán . Nhóm 1 : Từ cảm thán đơn tiết:

+ Tiểu nhóm (1a): các từ cảm thán đơn tiết có âm đầu là nguyên âm:

Trong nhóm này, chúng tôi chọn hai từ cảm thán " A " và " À " làm đại diện để khảo sát vì hai thán từ này có nét đặc trưng tiêu biểu nhất về các đặc điểm ngữ pháp và có sự hoạt động ngữ pháp đa dạng , phong phú. Trong khi khảo sát, chúng tôi cố gắng đi sâu vào các đặc điểm về hình thức ( tức là về các đặc điểm cú pháp ) nhưng đồng thời có phân tích dựa trên cơ sở ý nghĩa từ vựng - ngữ nghĩa của các từ cảm thán nhằm chỉ ra một cách tường minh về vị trí và cách dùng của chúng.

*Từ cảm thán " A " : Xét các ví dụ sau :

(6) - A , bà !

( Nam Cao , Từ ngày mẹ mất ) (7)- A ! [Thầy đã về !] A ![ Thầy đã về !]

( Ngô Tất Tố, Tắt đèn )

(8) - A ! [ Thầy bói . Cái giống này không làm cho no bụng , hắn lui ra ... ]

( Nam Cao, Xem bói )

(9) - A! [Con biết rồi! Không phải chè, cám mà! Cám mà bố bảo là chè.]

( Nam Cao, Nghèo ) (10) - A! [Ông cấm tôi nói à ?]

(Ngô Tất Tố, Tắt đèn) (11) - A ! [ Mày dám đánh tao hả ? ]

(Khẩu ngữ)

Như đã phân tích, các từ cảm thán " A " có thể đứng độc lập tạo thành câu cảm thán. Đây là một vị trí cố định.

Đó là xét ở cấp độ câu . Có thể có ý kiến cho rằng có dạng thức biến đổi như :

- ! A !

Nhưng ngay cả ở cấp độ trên câu cũng không thể chuyển đổi vị trí của câu cảm thán trong đoạn văn có chứa câu cảm thán đó. Ta thử biến đổi ví dụ (9a) thành các dạng sau:

(9b) - Con biết rồi ! A ! Không phải chè, cám mà ! (-) hay :

(9c) - Con biết rồi ! Không phải chè, cám mà ! A ! Cám mà bu bảo là chè ! (-)

Như vậy, sau khi chuyển đổi vị trí của câu cảm thán trong đoạn văn chứa nó, đích cảm thán đã bị thay đổi .

Tuy nhiên, khi đối tượng cảm thán được lặp đi lặp lại thì có thể chuyển đổi vị trí của thán từ trong câu hoặc vị trí của câu cảm thán (chỉ dùng thán từ) như trong các ví dụ sau :

(1b) - Con mèo ! A ! Con mèo ! (7b) - A ! Thày đã về !

(7c) - Thày đã về ! A ! Thày đã về !

Xét về ý nghĩa " từ vựng - ngữ pháp ": các từ cảm thán "A" trong tất cả các ví dụ trên đây là giống nhau vì đều là thành phần cú pháp độc lập trong câu .

Về ý nghĩa " từ vựng - ngữ nghĩa " có thể thấy:

- Từ cảm thán " A " trong các ví dụ (6), (7) là cùng nhóm, biểu thị sự ngạc nhiên, vui mừng, thích thú .

- Từ cảm thán " A " trong các ví dụ (8), (9) biểu thị sự ngạc nhiên thất vọng .

- Từ cảm thán " A " trong các ví dụ (10), (11) biểu thị sự ngạc nhiên, tức giận, đe doạ .

Điểm giống nhau trong cách sử dụng từ cảm thán "A" trong các ví dụ đó là ở nét nghĩa tố khái quát, bao trùm của từ cảm thán " A " được thể hiện trong mọi ngữ cảnh : đó là nét nghĩa " ngạc nhiên ", còn điểm khác nhau là các nét nghĩa tố khác chỉ được xác định bởi ngữ cảnh cảm thán và ngữ điệu cảm thán cụ thể phù hợp với từng ngữ cảnh.

Chẳng hạn, ở ví dụ (7) , với ngữ cảnh " Thày đã về " ( anh Dậu đã về nhà khi cái Tí và thằng Dần đã chờ mong mỏi mắt ) tất nhiên " A " là tiếng reo vui , sung sướng của hai đứa trẻ.

Còn ở ví dụ (10) , ngữ cảnh ở đây là : " Lý cựu đặt bát rượu vào mâm và đấm thật mạnh xuống sân đình ... " để gây sự với Chánh hội nơi " góc chiếu giữa đình ", nên ngoài nghĩa tố " ngạc nhiên " thì từ cảm thán " A " còn có cả nét nghĩa tố " tức giận, đe doạ " .

* Từ cảm thán " À " : Ví dụ :

(12) - À , thì ra là vậy . (Khẩu ngữ) (13) - À , đây rồi . [ Tìm mãi.]

(Khẩu ngữ)

(14a) - À , mày thách ông phải không !

( Ngô Tất Tố , Tắt đèn )

(15) - À ! [ Ông phó hội ! Ông bảo tôi say rượu phải không ? ] ( Ngô Tất Tố, Tắt đèn )

Trong các ví dụ trên, các từ cảm thán " À " cũng có thể đứng độc lập tạo thành câu cảm thán ( ví dụ 15 ) hoặc đứng đầu câu cảm thán, làm thành phần độc lập trong câu . Nét nghĩa chung của thán từ " À " cũng là : " ngạc nhiên " nhưng mức độ ngạc nhiên thấp hơn so với khi sử dụng thán từ " A ".

So sánh :

(7a) - A ! Thày đã về ! (7d) - À ! Thày đã về !

Xem xét các ví dụ đã nêu, ta thấy " À " trong ví dụ (12) và (13) biểu thị sự ngạc nhiên và vui vì đã hiểu ra , đã nhận ra , tìm ra hay phát hiện ra một cái gì đó. Còn " À " trong (14), (15) biểu thị sự ngạc nhiên, tức giận, đe doạ ...

Cũng cần so sánh phân biệt thán từ " À " đứng đầu câu cảm thán với từ đệm " À " ở đầu câu trong những câu như sau :

(16a) - [ Chào ông .]

- À , vâng , [ chào bà .]

(Khẩu ngữ) (17) - [Anh đang làm gì thế ? ] - À , đọc mấy tờ báo .

(Khẩu ngữ) (18) - [ Bố ơi , con đi chợ nhé . ]

- [] . À , mua thêm chai rượu cho bố nhé ! (Khẩu ngữ)

Trong các ví dụ này, từ đệm " À " không biểu hiện một sắc thái cảm thán nào mà chỉ là một từ " đưa đẩy " nên hoàn toàn có thể lược bỏ mà không làm ảnh hưởng đến nội dung cốt lõi của câu .

Một điểm khác biệt nữa là từ cảm thán " À " trong câu cảm thán có thể tách ra đứng độc lập làm thành một câu còn từ đệm " À " thì không thể . Ví dụ:

(14a) - À, mày thách ông phải không ! (+) (14b) - À ! Mày thách ông phải không ? (-) (16a) - À , vâng . (+) (16b) - À . Vâng . (-)

Đặt trong ngữ cảnh giao tiếp, một câu cảm thán dài có chứa từ cảm thán "À" có thể lược đến mức tối giản là chỉ còn lại từ cảm thán " À " mà vẫn bảo toàn được nét nghĩa cảm thán còn đối với từ đệm " À " thì không thể làm như vậy .

So sánh :

Ngữ cảnh 1 / - Tao đố mày đánh tao đấy . - À! Mày thách tao à?

và sau khi lược:

- Tao đố mày đánh tao đấy.

- À ! (+) ( vẫn bảo toàn nét nghĩa tức giận ) Ngữ cảnh 2 / - Chào ông .

- À ... (-)

( Trường hợp này, không thể tồn tại một từ đệm " À " độc lập làm một câu vì lúc đó nó không còn vai trò " đệm " cho bộ phận nào nữa. Tuy nhiên , cũng phải ngoại trừ trường hợp đặc biệt khi người nói muốn lảng tránh trả lời hoặc không thể trả lời được nên chỉ " à ", " ừ " cho xong chuyện như trong trường hợp sau :

- Mày đang làm cái gì mà cứ giấu giấu , diếm diếm thế ? - À , ờ ...

Có thể so sánh cách dùng của từ cảm thán "À" với tiểu từ " à " ở cuối câu hỏi :

Ví dụ :

(19) - Mày dám thách tao à ?

Tiểu từ " à " luôn có vị trí cố định ở cuối câu và quan hệ với nòng cốt câu theo quan hệ phụ thuộc trực tiếp, khác với từ cảm thán " À " có quan hệ

đẳng lập với nòng cốt câu.Chính vì vậy, ta có thể có một câu kết hợp cả từ cảm thán "À" và tiểu từ “à” với vai trò đánh dấu câu hỏi như câu :

(19') - À , mày dám thách tao à ?

Như vậy, có thể khái quát về vị trí và cách dùng các từ cảm thán tiếng Việt tiểu nhóm (1a) như sau :

 Từ cảm thán có thể đứng một mình làm thành một câu cảm thán độc lập .

 Từ cảm thán có thể đứng đầu câu , làm thành một vế câu và có quan hệ đẳng lập với nòng cốt câu .

 Vị trí của các từ cảm thán này là cố định trong câu cảm thán .

+ Tiểu nhóm (1b): các từ cảm thán đơn tiết có âm đầu là phụ âm:

Các từ cảm thán trong tiểu nhóm (1b) cũng giống các từ cảm thán ở nhóm (1a) về vị trí ngữ pháp trong câu , tức là :

 Có thể đứng độc lập làm thành một câu .

 Có thể đứng đầu câu , có quan hệ đẳng lập với nòng cốt câu .

Ví dụ :

(20a) - Chà ! Chà ! [ Béo ơi là béo ! ]

( Nguyễn Công Hoan , Đồng hào có ma ) (21a) - Hứ !

- !

( Nguyễn Quang Sáng ) (22a) - Hừ ! [ Coi thế mà buồn ! ]

( Nam Cao , Những chuyện không muốn viết ) (23a) - , cái ngữ nó mà làm được !

Một phần của tài liệu Câu cảm thán trong tiếng Việt (Trang 39 - 129)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(206 trang)