Câu cảm thán nhìn từ góc độ ngữ nghĩa

Một phần của tài liệu Câu cảm thán trong tiếng Việt (Trang 133 - 150)

3.2.1. Mối quan hệ giữa cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của câu cảm thán

Đã có nhiều nhà ngữ học quan niệm nội dung ngữ nghĩa của câu là: phần phản ánh (biểu hiện, miêu tả) những mảng hiện thực (hay một thế giới nào khác) ở bên ngoài ngôn ngữ.

Nhưng đó mới chỉ là một trong các bình diện nghĩa; được gọi là nghĩa biểu hiện. Cùng với sự phát triển của các trường phái ngôn ngữ khác nhau, việc nghiên cứu về bình diện nghĩa của câu cũng được mở rộng hơn và cụ thể hơn như các bình diện: nghĩa logic, nghĩa tình thái, nghĩa ngôn trung, nghĩa

xuyên ngôn v.v… với các thuật ngữ được đưa ra như: các tham tố, diễn tố, chu tố, các vai nghĩa, chủ thể nghĩa học, vị ngữ nghĩa học.v.v… Nhưng cho dù cách gọi tên bình diện nghĩa học là khác nhau như: "nghĩa học - sở chỉ"

(cách gọi của Hagège) hoặc "nghĩa - sự tình" (cách gọi của Stusareva) hay:

bình diện "biểu hiện" (cách gọi của Halliday) thì các nhà ngữ học hiện đại đều thấy rằng: nói đến nghĩa của câu thì không thể chỉ nói đến "phần phản ánh những mảng hiện thực" mà còn phải chú ý đến những phần quan trọng khác nữa như: "mặt cảm thụ" và "mặt tư duy" được phản ánh trong ngôn ngữ.

Đó chính là cơ sở để xác định những chức năng ngữ nghĩa của câu và từ đó có thể xem xét được mối quan hệ giữa cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của câu nói chung và câu cảm thán nói riêng.

Như đã trình bày ở chương I và chương II, luận văn đã đưa ra các mô hình cấu trúc cú pháp khái quát của câu cảm thán tiếng Việt là:

CCT = YCT + NCC (C+V) !

(Trong đó: CCT : câu cảm thán YCT : yếu tố cảm thán NCC : nòng cốt câu C : chủ ngữ V : vị ngữ)

Như đã phân tích ở chương II, kết cấu cú pháp của câu cảm thán tiếng Việt có thể có những dạng khác như:

  CT

CT Y

V C

C NCC 

  !

hay

V Y C

CCT   CT !

hoặc yếu tố cảm thán xen vào trong thành phần câu ghép

và: câu đặc biệt

Khi xem xét mối quan hệ giữa cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của câu, các nhà ngôn ngữ học hiện đại đều nhận thấy rằng:

Nói chung, mỗi hình thức biểu hiện của bình diện cú pháp đều có sự tương ứng với một chức năng biểu thị ý nghĩa của bình diện nghĩa học. Lúc đó, mối quan hệ giữa hình thức và ngữ nghĩa là mối quan hệ tương ứng (đối xứng). Nhưng không phải lúc nào cũng có sự tương ứng 1-1 như vậy. Đúng như Larson M.L đã nhận xét: "Ở bất kỳ ngôn ngữ nào, người ta cũng gặp hiện tượng chênh lệch giữa hình thức và ý nghĩa" (trích theo 7, tr.46). Lúc đó, mối quan hệ giữa hình thức và ý nghĩa là mối quan hệ không tương xứng (phi đối xứng).

3.2.1.1. Mối quan hệ tương ứng (đối xứng):

Nếu giữa hình thức biểu hiện và ý nghĩa của câu là tương ứng thì với câu cảm thán ta có thể có những mô hình cấu trúc ngữ nghĩa chính tương ứng với các mô hình cấu trúc cú pháp như sau:

*

CCT = chức năng cảm thán +

chức năng biểu thị sự

tình

* CCT = chức năng + chức năng

CCT = YCT !

biểu thị sự tình

cảm thán

*

v.v…

Một đặc điểm tất yếu là: câu cảm thán phải có yếu tố cảm thán trong cấu trúc cú pháp và tương ứng trong cấu trúc ngữ nghĩa là bộ phận biểu thị chức năng cảm thán; cho dù phần nòng cốt câu (phần chức năng biểu thị sự tình) là có mặt hay không có mặt trong câu và cái chức năng cảm thán là chức năng nổi trội trong câu cảm thán. Ta có thể thấy rõ điều đó qua phân tích ví dụ sau:

(2a) - Con mèo bắt con chuột rồi.

(2b) - A, con mèo bắt con chuột rồi!

Sự tương ứng 1-1 giữa hình thức và ngữ nghĩa của câu (2a) thể hiện trong bảng sau:

Câu ví dụ Con mèo bắt con chuột rồi

Vị trí (trật tự

từ trong câu) 1 2 3 4

Cấu trúc cú

pháp chủ ngữ vị ngữ - vị từ bổ ngữ phó từ

Cấu trúc ngữ

nghĩa tác thể hành thể đối thể chu tố

Ở đây cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa là tương ứng.

Đây là câu tường thuật mang nội dung thông báo và cái mà người nghe nhận được là thông tin về một sự tình xảy ra trong hiện thực: "Con mèo bắt con chuột rồi".

CCT = chức năng cảm thán

Với câu (2b) ta có bảng đối xứng sau:

Câu ví dụ A con mèo bắt con chuột rồi

Vị trí (trật tự từ

trong câu) 1 2 3 4 5

Cấu trúc cú pháp

yếu tố

cảm thán chủ ngữ vị ngữ bổ ngữ phó từ

Cấu trúc ngữ nghĩa

chức năng

cảm thán tác thể hành thể đối thể chu tố

Ở đây cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa là tương ứng. Đây là câu cảm thán gồm có hai phần chính:

Trong cấu trúc cú pháp: Yếu tố cảm thán + nòng cốt câu và trong cấu trúc ngữ nghĩa:

Nét nghĩa chính mà người nghe nhận được là nét sắc thái cảm thán: ngạc nhiên, vui mừng, thích thú trước một hiện thực bất ngờ: "Con mèo bắt được con chuột rồi". Về mặt ngữ nghĩa thì chức năng cảm thán vẫn là nổi trội hơn chức năng biểu thị sự tình trong câu.

Chức năng cảm thán + chức năng biểu thị sự tình

Tuy nhiên, khi phần chức năng biểu thị sự tình trong câu được cụ thể hoá bằng các hình thức ngôn ngữ ở các cấp độ khác nhau thì nội dung cảm thán, đối tượng cảm thán sẽ khác nhau, cho dù phần chức năng cảm thán được biểu thị bằng những yếu tố cảm thán tương đương nhau. Có thể thấy rõ điều đó qua việc xem xét các ví dụ là những câu trích từ tác phẩm: "Cái tết của Mèo con"

của Nguyễn Đình Thi sau đây:

(3)- Ối, mèo !

(4) - Ối eo ôi, có mèo ! (5) - Ối, nó là mèo thật rồi!

So sánh các phần chức năng biểu thị sự tình trong các câu cảm thán đó, ta thấy có sự khác biệt rõ ràng.

- Ở câu (3): phần biểu thị sự tình do một danh từ duy nhất đảm nhiệm.

Đây là một thông báo ngắn gọn, vì vậy "mèo" ở đây cũng có thể có vai trò nghĩa của một tác thể, nhưng cũng có thể có vai trò nghĩa của một đối thể.

- Ở câu (4): phần biểu thị sự tình có cấu tạo hình thức gồm một động từ và một danh từ thông báo về sự tình đã được mở rộng hơn; vì thế "mèo" ở đây đã được xác định rõ vai trò nghĩa trong câu là một đối thể. Thông báo về một sự tình tồn tại, thực hữu: "có mèo".

- Ở câu (5): phần biểu thị sự tình là thông báo về sự tình có cấu tạo hình thức là một mệnh đề: vì vậy nội dung thông báo rõ ràng hơn và chính xác hơn. Thông báo về sự tình là một thông báo có tính xác nhận về một thực tế:

"mèo thật".

Như vậy, khi phần biểu thị sự tình được mở rộng (trên bình diện hình thức) bằng các cấp độ ngôn ngữ cao hơn (từ  nhóm từ  mệnh đề) thì giá trị thông báo càng rõ ràng hơn. Vì thế, cấu trúc nghĩa của câu cũng sẽ tường minh hơn.

Điều đó được chứng minh qua vai trò nghĩa của phần chức năng biểu cảm trong mỗi câu cảm thán. Trong các câu (3), (4) và (5), nghĩa từ vựng của các từ cảm thán ở đây là tương đương nhau, nhưng đối tượng cảm thán là có khác nhau. Vì vậy, nội dung cảm thán cũng có khác nhau do cảm thán hướng vào các sự tình ở các cấp độ khác nhau.

3.2.1.2. Mối quan hệ không tương ứng (phi đối xứng):

Giữa cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa biểu hiện của câu xuất hiện sự không tương ứng khi một hình thức biểu hiện nhất định có thể tương ứng với nhiều ý nghĩa khác nhau và ngược lại, một ý nghĩa có thể được biểu hiện bằng nhiều hình thức và ý nghĩa đó phải dựa vào ngữ cảnh và tình huống giao tiếp.

Ví dụ: cùng có dạng thức là câu cảm thán dùng từ cảm thán:

(6) - A!

nhưng có thể được hiểu với những nét nghĩa cảm thán khác nhau như:

- Vui mừng, sung sướng:

(6a) - A ! [Mẹ về rồi]

- Tức giận:

(6b): - A ! [ Mày dám đánh tao à?]

v.v…

Ngược lại, cùng để biểu thị nét nghĩa cảm thán ngạc nhiên, sung sướng có thể có những hình thức khác nhau như:

(6a) - A ! [Mẹ về rồi.]

hay (7) - Ô ! [Mẹ về rồi]

hoặc (8) - Ôi ! [Mẹ về rồi]

v.v…

Sự không tương ứng giữa hình thức và nội dung còn xảy ra khi mệnh đề nòng cốt của câu được đặt ở dạng bị động; như trong ví dụ sau:

(2c) - Con chuột bị con mèo bắt rồi.

Trong câu (2c): đối thể "con chuột" trong câu (2a) đã đổi vai trò thành chủ ngữ và tác thể "con mèo" đã chuyển thành bổ ngữ. Do đó xuất hiện sự không tương ứng giữa hình thức ngữ pháp và cấu trúc nghĩa. Vì vậy, giữa hai câu cảm thán:

(2b): - A, con mèo bắt con chuột rồi!

và (2d): - A, con chuột bị con mèo bắt rồi!

thì nội dung cảm thán, đối tượng cảm thán là có khác nhau. Trong câu (2b) hành vi cảm thán hướng vào tác thể (chủ ngữ) là con mèo (vai chính và là tác thể thực hiện hành động "bắt" được biểu thị bằng vị ngữ vị từ) và hành động đó hướng tới một đối thể (bổ ngữ) là con chuột (vai phụ).

Còn trong câu (2d), hành vi cảm thán hướng vào đối thể (giữ vai trò chủ ngữ trong câu bị động) là con chuột (lúc này là vai chính), là đối thể chịu tác động của hành động "bắt" được thực hiện bởi một tác thể (bổ ngữ trong câu bị động) là con mèo (vai phụ). Cái vai phụ trong câu bị động ấy có thể bị lược bỏ và ta có câu sau:

(2e) - A, con chuột bị bắt rồi!

Chính việc có thể lược bỏ vai tác thể đó càng chứng minh rằng: hành vi cảm thán đã đổi hướng khi xuất hiện sự không tương ứng giữa hình thức ngữ pháp và cấu trúc nghĩa của câu.

Sự không tương ứng đó còn thể hiện trong những câu cảm thán không chính danh, chẳng hạn những câu có cấu trúc nghĩa của câu cảm thán được thể hiện bằng một hình thức hỏi hoặc phủ định đặc biệt. (như đã phân tích ở chương II)

Ví dụ:

- [Nếu nó chăm học thì đã không bị trượt]

(9) - Bây giờ biết làm sao đây?

(10 - Thế thì còn nói làm gì nữa !

Như vậy, khi xem xét mối quan hệ giữa cấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa của câu ta có thể thấy được sự đối xứng hay phi đối xứng trong quan hệ đó. Đó là vấn đề cần phải được chú ý khi phân tích câu cảm thán tiếng Việt từ góc độ ngữ nghĩa và ứng dụng thực hành khi dạy - học tiếng Việt, đặc biệt là khi dạy và học câu cảm thán trong tiếng Việt.

3.2.2. Các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau thể hiện qua câu cảm thán.

Con người biểu hiện cảm thán khi ở vào một tình huống đặc biệt và bất ngờ. Người ta có thể cảm thán về thế giới tự nhiên xung quanh mình, về cuộc sống xã hội, về cuộc đời, về quan hệ giữa con người với nhau, về bản thân mình.v.v… nghĩa là về tất cả những cái gì bất ngờ tạo nên một cảm xúc đặc biệt mạnh cho mình. Cảm xúc đó có thể mang tính tích cực hoặc tiêu cực.

Căn cứ vào ý nghĩa, ta có thể chia các câu cảm thán tiếng Việt thành hai nhóm lớn:

- Nhóm 1: Câu cảm thán biểu thị cảm xúc mang tính tích cực như: tự hào, hy vọng, ca ngợi, .v.v…

- Nhóm 2: Câu cảm thán biểu thị cảm xúc mang tính tiêu cực như: cam chịu, thất vọng, tức giận, lo sợ.v.v…

Trong mỗi nhóm lớn đó, căn cứ vào trường cảm xúc lại có thể chia thành những nhóm nhỏ hơn: nhóm đồng nghĩa và sắp xếp theo thang độ cảm xúc biểu thị từ thấp đến cao dựa vào các cung bậc cảm xúc, dựa vào mức độ gia tăng của cảm xúc được biểu thị bằng yếu tố cảm thán trong câu cảm thán .

Có thể đưa ra một số nhóm nhỏ tiêu biểu như sau:

- Chẳng hạn, với những câu cảm thán biểu thị cảm xúc tâm trạng có tính tích cực, có thể có chia thành nhóm nhỏ như:

a/

tự hào sung sướng vui

b/

yêu thương quí mến

c/

thương cảm đồng cảm thông cảm v.v…

- Những câu cảm thán biểu thị cảm xúc, tâm trạng có tính tiêu cực có thể chia thành các nhóm nhỏ như:

a/

đau đớn khổ sở buồn

b/

giận bực tức

c/

phẫn uất ta thán than thở

phàn nàn d/

hoảng hốt sợ

lo ngại e v.v…

Một số ví dụ sau có thể minh họa cho việc chia nhóm theo thang độ của cảm xúc, tâm trạng:

Ví dụ:

- Vui:

(11) Ôi! Cây Nôen sao mà đẹp thế !

(Khẩu ngữ)

- Sung sướng:

(12) Ôi! Bao nhiêu là quà !

(Khẩu ngữ)!

- Tự hào:

(13) Ôi ! Tổ quốc ! Vinh quang Tổ quốc!

hay: (Tố Hữu)

-Thông cảm:

(14) - Thế anh còn bố mẹ không ?

- Bẩm tôi bồ côi cả bố lẫn mẹ từ sớm.

- Tội nghiệp !

(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ) - Đồng cảm:

(15) Tội nghiệp thay ! Cũng là một loài người, sao nỡ coi nhau

như thù nghịch?

(Nguyễn Bá Học, Câu chuyện một tối tân hôn) - Thương cảm:

(16) - Đau đớn thay phận đàn bà !

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

hoặc:

- Tức tối:

(17) - Tức quá mà !

(Hồ Biểu Chánh, Con nhà nghèo)

- Bực bội:

(18) - Gớm ! Sao lại có thứ người đâu mà lì quá thế ! (Nam Cao, Chí Phèo) - Giận dữ:

(19) - Hừ ! Ba Bớp đấy à ? Giỏi? Giỏi lắm !

(Hồ Phương, Cỏ non)

Thực ra, việc phân chia nhóm hoặc các thang độ trong mỗi nhóm cho thật chính xác là rất khó. Bởi vì "cảm xúc", "tâm trạng" vốn là những cái rất khó phân xuất, xác định. Nó không hoàn toàn giống như khi phân định các sự vật cụ thể, để nói rằng: "đây là cái bàn, còn kia là cái ghế", hay: "cái bàn ở đây, còn cái ghế ở kia". Cảm xúc, tâm trạng thường có sự biến đổi. Có thể thấy rằng: ở thời điểm này, nó là cảm xúc tâm trạng A nhưng ở thời điểm ngay sau đó nó đã có thể chuyển thành cảm xúc, tâm trạng B.

Ví dụ:

(20) - Chị Dậu cau đôi lông mày

- Trời đất ơi ! Cắm cả nhà đất để làm chuồng xí ! Ăn nói như thế thì còn trời đất nào nữa?

(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

Cái hành vi "cau đôi lông mày" mới chỉ là dấu hiệu của sự khó chịu, bực tức nhưng cái tiếng kêu "Trời đất ơi !" đã thể hiện một sự tức giận. Và câu tiếp theo: "Cắm cả nhà đất để làm chuồng xí !" lại thể hiện một sự ngạc nhiên, trước một thực tế vô lí và không thể tin được. Câu sau đó: "Ăn nói như thế thì còn trời đất nào nữa ?" thể hiện một sự bất bình, phẫn uất. Điều quan trọng ở đây là phải thấy được quá trình nảy sinh và phát triển cảm xúc đến đỉnh điểm để làm xuất hiện cảm thán là một quá trình có tính biện chứng, logic nhưng cũng rất đa dạng. Đó có thể là một sự phát triển từ từ, từ mức độ thấp đến mức độ cao của cảm xúc, tâm trạng như ví dụ 20.. nhưng cũng có thể là một sự chuyển đổi có tính đột phát, bất ngờ, vì vậy, làm xuất hiện cảm thán:

Ví dụ:

(21) [ Chị Hiên thốt nhiên nói:]

- Chết tôi rồi ! [Gà nhà cậu !]

(Nhất Linh, Đầu đường xó chợ)

Như trên đã nói, không thể phân định rạch ròi, không thể chỉ rõ ra cái ranh giới của sự phát triển cảm xúc, tâm trạng. Bởi vì đó có thể là sự đan xen kế tiếp nhau, giống như có sự giao thoa giữa các thang độ cảm xúc, tâm trạng như trong ví dụ (20) mà ta có thể biểu diễn bằng hình vẽ sau:

Nhưng đó cũng có thể là sự hoà quyện vào nhau của cảm xúc, tâm trạng

ngạc nhiên phẫn uất

tức giận

bực tức

Ví dụ:

(22) - Hắn có vẻ vừa bỡ ngỡ, vừa cáu kỉnh. Bởi vì, vừa rồi, khi mới tới gần đây, hắn đã dọn mồm sẵn để ăn cơm. Thế mà người ta lại không còn bán ở nơi này nữa!

(Nam Cao, Xem bói)

Một điểm khá thú vị mà chúng tôi nhận thấy khi xem xét, phân loại các tư liệu về câu cảm thán tiếng Việt là: nét sắc thái "ngạc nhiên" dường như có mặt ở rất nhiều câu cảm thán trong cả hai nhóm lớn nói trên. Thực tế là người ta có thể ngạc nhiên trước một cái gì đó khiến cho người ta vui vẻ, sung sướng hay buồn bã, tức giận.

Ví dụ:

* Ngạc nhiên - vui sướng:

(23) - Sướng quá ! [ Lại được ăn chè kia chứ, có ngọt không u?]

(Nam Cao, Nghèo) * Ngạc nhiên - giận dỗi:

(24) - A ! Con biết rồi ! Không phải chè, Cám mà !

(Nam Cao, Nghèo)

Ở ví dụ (23), khi " cái Gái hớn hở chạy về, lôi thôi, lếch thếch trong mấy mảnh giẻ rách tả tơi " nó đã rất ngạc nhiên vì nhìn thấy "nồi chè", thấy cái điều trong mơ cũng không có được. Chính sự ngạc nhiên đó đã khiến cho nó thấy sung sướng đến mức phải "reo lên": "- Sướng quá !".

Nhưng, cũng chính một sự ngạc nhiên khác (khi nó "lấy tay di một cục

"chè" và phát hiện ra đó không phải là "chè") đã khiến cho nó phải giận dỗi mà "nói to lên": "A !…không phải chè, cám mà ! Cám mà bu bảo chè !"

Một phần của tài liệu Câu cảm thán trong tiếng Việt (Trang 133 - 150)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(206 trang)