Những khái niệm lý thuyết cơ bản liên quan đến đề tài

Một phần của tài liệu Câu cảm thán trong tiếng Việt (Trang 27 - 37)

1.2.1.Khái niệm "câu":

Nghiên cứu câu cảm thán là nghiên cứu câu theo mục đích phát ngôn.

Nhưng để đi đến giải thích về câu cảm thán phải đề cập đến vấn đề định nghĩa

"câu".

Cho đến nay vẫn có rất nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa "câu".

Phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất về một định nghĩa câu gồm các ý sau:

+ Câu là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ.

+ Về mặt hình thức: câu có cấu tạo ngữ pháp tự lập và có ngữ điệu kết thúc.

+ Về mặt nội dung: câu có nội dung là một tư tưởng tương đối trọn vẹn

hoặc một thái độ, một tình cảm, một cảm xúc của người nói.

+ Về mặt chức năng: câu có chức năng hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất.

Như vậy, có thể thấy rằng câu là một địa hạt, một cấp bậc của ngôn ngữ học. Câu là một đơn vị hội tụ các bình diện của ngôn ngữ học, biến các đơn vị ngôn ngữ thành đơn vị nói năng, đơn vị giao tiếp. Câu đã được chú trọng nghiên cứu trong ngôn ngữ học. Những nội dung cơ bản trong định nghĩa nêu trên sẽ là cơ sở về mặt lí thuyết cho việc nghiên cứu về câu cảm thán cả về mặt hình thức lẫn nội dung và chức năng của nó.

Từ khái niệm về câu nói trên và kết hợp với một số ý kiến khác, chúng tôi xác định nghiên cứu câu cảm thán đặt trong bối cảnh của việc nghiên cứu câu nói chung.

"Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn từ, trong đó cả ba bình diện đều được thể hiện "[26,tr.7]. Vì vậy, việc nghiên cứu câu phải chú ý đến cả ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Phải tìm được những cấu trúc ngữ pháp đặc trưng của kiểu loại câu cần phân tích phù hợp với những qui tắc của ngôn ngữ đó. Đây cũng là một vấn đề đặc biệt khó đối với câu cảm thán tiếng Việt, một kiểu loại câu cho đến nay vẫn còn ít được nghiên cứu nhất trong các kiểu loại câu. Về mặt nội dung ngữ nghĩa, rõ ràng câu không chỉ biểu thị một tư tưởng, thông báo một sự việc mà còn thể hiện thái độ, sự đánh giá hoặc tình cảm, cảm xúc của người nói mà câu cảm thán lại là kiểu loại câu mang sắc thái tình cảm, cảm xúc sâu đậm nhất và tinh tế nhất trong các kiểu loại câu.

"Câu là sự diễn đạt, là tượng trưng gây ra trong tâm lý người nghe sự kết hợp của một vài biểu tượng...,và cũng là phương tiện kích thích tâm lý ở người nghe sự kết hợp của các biểu tượng ấy."(ý kiến của H.Pao-lơ) [trích theo 45,tr.499].Như vậy nghiên cứu câu cảm thán phải chú ý đến những vấn đề về ngôn ngữ - tâm lý học. Đặc biệt là đối với câu cảm thán, việc phân tích tâm lý của chủ thể cảm thán và đối thể cảm thán sẽ giúp hiểu rõ nội dung ngữ nghiã của câu cảm thán.

Theo Vinogradop: "Trong câu không phải chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà còn có cả mối quan hệ của người nói với hiện thực"[trích theo 45,tr.500]. Vì vậy nghiên cứu về câu cảm thán cũng phải chú ý đến các vấn đề của ngôn ngữ - xã hội học. Đó cũng là vấn đề rất thú vị khi phân tích mối quan hệ giữa chủ thể cảm thán và khách thể cảm thán thể hiện qua câu cảm thán.

Theo Đỗ Hữu Châu: "...nhờ vào mối quan hệ qua lại tương tác với các câu khác và với chỉnh thể của cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn mà câu mới có "bộ mặt" cụ thể và thích hợp. " [9,tr.134].Như vậy, câu chỉ được nhận diện đầy đủ khi đặt nó trong mối quan hệ với các câu khác trong văn bản và với toàn văn bản. Đối với câu cảm thán thì vai trò của đồng văn bản lại càng đặc biệt quan trọng.

Từ những cơ sở lí luận đó, nếu đi sâu vào nghiên cứu câu cảm thán sẽ có được những kết quả thú vị về lí thuyết và bổ ích về thực tiễn giao tiếp ngôn từ.

1.2.2. Khái niệm“ cảm thán”

Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học, Nxb Đà Nẵng, HN - ĐN. 1997: “Cảm thán là biểu lộ tình cảm, cảm xúc” (tr.103).

1.2.3. Khái niệm “từ cảm thán”

1.2.3.1. Về nội dung của khái niệm

Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu thì đây là “lớp từ”, là “một từ loại” (từ dùng của Nguyễn Tài Cẩn [5, tr. 235]), là “một loại ngữ thái từ”

(thuật ngữ của Nguyễn Kim Thản [45, tr. 375]) chuyên dùng để biểu thị (hay bộc lộ, biểu đạt, biểu lộ, thể hiện …) trực tiếp cảm xúc, tình cảm của con người.

Những cảm xúc, tình cảm này là cảm xúc được “kích động” “của chủ quan người nói đứng trước hiện thực” (theo Nguyễn Tài Cẩn), là “cảm xúc cảm tính hoặc lý tính” (theo Nguyễn Kim Thản) và “có thể được thể hiện ở nhiều cung bậc khác nhau” (theo Nguyễn Anh Quế) [41, tr. 170].

Như vậy, tựu trung lại: Từ cảm thán là một từ loại được dùng để biểu thị trực tiếp những cảm xúc cảm tính hoặc lý tính, những tình cảm, trạng thái khác nhau của chủ quan người nói trước hiện thực khách quan bất ngờ.

Về thuật ngữ: luận án này dùng thuật ngữ “câu cảm thán” khi nghiên cứu về từ hoặc lớp từ trong cấu trúc câu và thống nhất với cách dùng thuật ngữ “từ cảm thán” khi nghiên cứu về từ hoặc lớp từ riêng biệt. Hơn nữa, vì cho dù cách gọi khác nhau: từ cảm thán, cảm thán từ, thán từ, cảm từ, từ than

… thì nội dung ý nghĩa của các thuật ngữ đó về cơ bản là giống nhau.

1.2.3.2. Về mặt hoạt động ngôn ngữ

Từ cảm thán là từ loại vừa có vai trò là từ, vừa có vai trò tương đương với câu. Chính vì vậy, nếu đứng trong một câu, từ cảm thán thường làm thành phần đơn lập, nằm ngoài đoản ngữ, không có một mối liên quan nào đối với tổ chức của đoản ngữ và thường đứng ở đầu câu.

Trong chuỗi lời nói, từ cảm thán thường đứng biệt lập, tách riêng ra một mình, tạo thành một khối riêng rẽ.

Từ cảm thán có thể tự làm thành một câu. Đây là dạng câu cảm thán đặc biệt.

Vấn đề vị trí của từ cảm thán trong hệ thống từ loại tiếng Việt cũng có nhiều ý kiến khác nhau:

Có ý kiến cho rằng: từ cảm thán là thực từ. Theo Hữu Quỳnh (1979), hệ thống từ loại được phân chia thành hai loại: thực từ và hư từ. “Trong các thực từ có một loại đặc biệt, thán từ là những từ dùng để biểu thị cảm xúc.

Các thực từ còn lại có thể chia ra danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, trạng từ” [42, tr. 81].

Có thể thấy rằng, bản thân các từ cảm thán không có chức năng định danh cảm xúc, nó chỉ làm tín hiệu biểu thị, đánh dấu cảm xúc của người nói, muốn gọi tên loại cảm xúc đó thì phải dùng một thực từ và như vậy thì không thể coi từ cảm thán là thực từ.

Lưu Vân Lăng (1994) trong bài viết: "Thành tố cấu tạo câu và phương pháp phân tích tầng bậc hạt nhân"đã đưa ra sơ đồ trong bảng sau:

Bảng 1.1 [nguồn 60, tr. 30]

Thật ra cách phân chia thành “cảm ngữ” và “thán ngữ” “cũng chưa hoàn toàn hợp lý mà nên xếp cảm ngữ, thán ngữ vào cùng một nhóm.

Theo Diệp Quang Ban, thán từ được xếp vào nhóm hư từ và có vị trí như trong bảng sau:

Câu

Phần cốt Phần thêm (Gia tố)

Loại hỗ trợ Loại gia tăng

Nhóm tiếp dẫn Nhóm trợ cảm Nhóm than gọi Nhóm chú giải

Khởi ngữ Chuyển ngữ Trợ ngữ Cảm ngữ Thán ngữ Hô ngữ

Đề Thuyết

Bảng1.2 [nguồn:3,1999]

Khái niệm hư từ (hiểu theo nghĩa rộng) thì có thể mở rộng đến mức như vậy, nhưng vì “thán từ không có khả năng làm thành tố đoản ngữ và cũng

Hư từ

Phụ từ Kết từ Tiểu từ

Định từ Phó từ Kết từ chính phụ

Kết từ đẳng lập

Trợ từ Tính thái từ (TTT)

TTT góp phần thực

hiện mục đích phát

ngôn

TTT biểu thị cảm xúc chủ quan hoặc khách quan

TTT dùng để

gọi đáp

Nhóm 1 (à, á, hứ,

hé …)

Nhóm 2 Thán từ (Cảm thán từ) (ôi, ối,

ái…

không có ngay cả khả năng kết hợp với các đoản ngữ để biến hóa như liên từ, giới từ, trạng từ …” (theo Nguyễn Tài Cẩn) và từ cảm thán lại có khả năng đứng độc lập, làm thành một câu nên từ cảm thán cũng không phải là hư từ (theo cách hiểu truyền thống).

Nguyễn Kim Thản cũng không xếp từ cảm thán vào nhóm thực từ hay hư từ. Ông đã đưa ra một bảng phân chia như hình sau:

Bảng1.3 [nguồn: 45,1997]

Trong nhóm thán từ ông lại chia thành hai nhóm nhỏ nữa là:

* Nhóm 1: Những thán từ thường dùng làm tín hiệu tình cảm.

* Nhóm 2: Những thán từ gọi - đáp.

Có lẽ, nhóm thứ 2 này không nên gọi là "Thán từ gọi - đáp" mà nên gọi là "từ gọi - đáp" hay "tình thái từ gọi - đáp" để phân biệt hẳn với nhóm thứ 1 mà Nguyễn Kim Thản gọi là "Thán từ dùng làm tín hiệu tình cảm".

Các từ

Phi ngữ thái từ Ngữ thái từ

Bán thực từ Bán hư từ

Thực từ Hư từ

Phó từ Trợ từ Thán từ

1.2.3.3. Từ những phân tích trên, luận án này nghiêng về quan điểm xác định từ cảm thán như sau:

a. Từ cảm thán là một từ loại được dùng để biểu thị những cảm xúc cảm tính hoặc lý tính, những tình cảm, trạng thái khác nhau của chủ quan người nói trước hiện thực khách quan bất ngờ.

b. Từ cảm thán không phải là thực từ, cũng không phải là hư từ - trong hệ thống từ loại tiếng Việt, từ cảm thán đứng tách riêng thành một khối, độc lập với thực từ và hư từ.

1.2.4. Khái niệm" yếu tố cảm thán":

Đây là những yếu tố ngôn ngữ dùng trong câu cảm thán để biểu thị cảm thán. Yếu tố cảm thán có thể là một từ, một ngữ hoặc phương tiện ngoài từ như ngữ điệu, trật tự từ được dùng để cấu tạo câu cảm thán.

1.2.5. Khái niệm "câu cảm thán" và vị trí của câu cảm thán trong tiếng Việt :

1.2.5.1. Khái niệm" câu cảm thán":

a. Về mặt nội dung biểu hiện:

Câu cảm thán là câu có chức năng biểu hiện và truyền đạt những cảm xúc cảm tính và lý tính, những tình cảm, trạng thái khác nhau của chủ quan người nói trước một hiện thực khách quan bất ngờ.

Câu cảm thán trong tiếng Việt là một loại câu đặc biệt về mặt nội dung và có giá trị biểu cảm rất lớn.

b. Về mặt hình thức biểu hiện: câu cảm thán cũng là một loại câu đặc biệt.

Trong câu cảm thán, ngoài sự biểu thị nội dung cơ bản,còn có sự thể hiện cảm xúc của người nói có liên quan với nội dung cơ bản đó.

Đây là dạng thức cơ bản của câu cảm thán, gồm có hai phần và có thể biểu thị qua mô hình tổng quát sau:

Trong đó: CCT là câu cảm thán

NCC là nòng cốt câu (kết cấu C+V) C là chủ ngữ

V là vị ngữ

YCT là yếu tố cảm thán.

Ví dụ: - Anh ấy giỏi thật ! C V

NCC YCT

Tuy nhiên, cũng có trường hợp câu cảm thán chỉ thể hiện cảm xúc.

Đây cũng là ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu khi cho rằng: câu cảm thán có một dạng thức rất đặc biệt là chỉ dùng từ cảm thán (từ chuyên dụng) và có thể

“làm thành một câu độc lập”.

Ví dụ:

- A ! Anh Bào!

Ở đây, từ cảm thán “A” đứng độc lập và tự làm thành một câu. Đây là câu cảm thán, bộc lộ sự ngạc nhiên, sự vui mừng của người nói. Đây là câu đặc biệt, không có bộ phận thể hiện nội dung thông báo một thông tin nào mà chỉ có bộ phận biểu thị cảm xúc.

Ta có:

Chúng tôi gọi loại câu cảm thán đặc biệt này là "Câu cảm thán-Từ ".

b. Vị trí của câu cảm thán trong Tiếng Việt:

CCT = YCT ) V C (

NCC 

CCT = YCT !

Khi phân loại câu theo mục đích phát ngôn, nhiều nhà nghiên cứu thường xếp câu cảm thán vào vị trí số 4 sau 3 loại câu khác là câu tường thuật, câu nghi vấn, câu mệnh lệnh (câu cầu khiến). Thậm chí có một số nhà nghiên cứu còn xếp câu cảm thán vào chung một nhóm với câu cầu khiến. Như vậy là không thoả đáng vì đây là hai loại câu có những đặc trưng khác nhau về hình thái cũng như nội dungđược biểu hiện.

Câu cảm thán là một loại câu đặc biệt trong Tiếng Việt và có vai trò quan trọng trong giao tiếp. Hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu để khẳng định về tỷ lệ phần trăm giữa câu cảm thán và 3 loại câu kia được sử dụng trong ngôn ngữ văn bản viết và ngôn ngữ nói nhưng có thể thấy câu cảm thán được sử dụng trong lời nói hàng ngày với số lượng không ít.

Vấn đề không phải là xếp câu cảm thán ở vị trí nào trong bảng xếp hạng câu phân loại theo mục đích phát ngôn mà cái chính là câu cảm thán thực sự là một kiểu câu độc lập, có những dấu hiệu hình thức xác định có thể giúp ta phân biệt câu cảm thán với 3 loại câu kia.

1.2.6. Ngữ điệu cảm thán.

Tất cả các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: Trong chuỗi lời nói, câu cảm thán có một ngữ điệu đặc biệt gọi là ngữ điệu cảm thán. Theo từ điển: "Giải thích thuật ngữ ngôn ngữ" (1996), thì ngữ điệu cảm thán (ngữ điệu than) thuộc "Ngữ điệu có đặc trưng là từ được tách ra, phát âm cao giọng hơn so với trong câu tường thuật nhưng lại thấp giọng hơn so với trong câu hỏi".

Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi không có điều kiện đi sâu khảo sát độ "cao" hay "thấp" đó của ngữ điệu cảm thán bằng các máy móc kỹ thuật nhưng chúng tôi muốn nhấn mạnh: Ngữ điệu cảm thán là một phương tiện hỗ trợ đặc biệt để biểu thị cảm xúc, thái độ của người nói, là dấu hiệu quan trọng để nhận biết câu cảm thán trong lời nói.

1.2.7. Dấu "!"

1.2.7.1. Dấu "!" thường được đặt ở cuối câu cầu khiến có mục đích ra lệnh và có mục đích chúc tụng tung hô.

Ví dụ:

- Đi đi!

- Hồ Chủ Tịch muôn năm!

1.2.7.2. Dấu "!" được đặt ở cuối câu cảm thán để nhấn mạnh ý cảm thán. Đây là dấu hiệu đặc trưng về mặt hình thức của câu cảm thán (Trong văn bản viết).

Ví dụ:

- Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi! (Tố Hữu).

- Ôi ! Đẹp quá!

1.2.7.3. Dấu "!" có thể được đặt ở cuối câu có ý nhấn mạnh, khẳngđịnh một cái gì đó.

Ví dụ:

- Trong hồi ký người ta thường viết chính xác tên địa danh đấy.

- Đây là tiểu thuyết chứ không phải là hồi ký !

(Thậm chí có thể đặt hai, ba dấu chấm than liên tục “!!!” để nhấn mạnh hơn).

1.2.7.4. Dấu “!” có thể được dùng cuối câu do thói quen của người viết muốn người đọc chú ý đến vấn đề nêu trong câu đó mà không nhằm mục đích ra lệnh hay cảm thán.

1.2.7.5. Như vậy, trong văn bản viết, không phải là câu nào có dấu “!”

cũng là câu cảm thán nhưng cuối câu cảm thán nào cũng phải có dấu “!”.

Luận án này gọi dấu “!” đặt cuối câu cảm thán là “dấu cảm thán”

Một phần của tài liệu Câu cảm thán trong tiếng Việt (Trang 27 - 37)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(206 trang)