Đây có lẽ là khái niệm được người dùng quan tâm nhất, tuy nhiên có người thắc mắc về cách gọi tên, đối với DDR thì có hai cách gọi theo tốc độ Mhz hoặc theo băng thông mà nó cung cấp, ví dụ khi nói DDR333 tức là thanh RAM đó mặc định hoạt động ở tốc độ 333Mhz những cũng thanh RAM đó theo cách gọi PC2700 thì lại nói về băng thông RAM tức là khi RAM chạy ở tốc độ 333Mhz thì nó sẽ đạt được mức băng thông là 2700MB/s (trên lý thuyết). Tương ứng như thế chúng ta sẽ có bảng sau:
Gọi tên theo băng thông____Gọi tên theo tốc độ Mhz PC1600__________________DDR200
PC2100__________________DDR266 PC2700__________________DDR333 PC3000__________________DDR366 PC3200__________________DDR400 PC3500__________________DDR433 PC3700__________________DDR466 PC4000__________________DDR500 PC4400__________________DDR533 PC4800__________________DDR600 PC5300__________________DDR667 PC6400__________________DDR800
Thường thì ở Việt Nam thông dụng các loại RAM bus 333 và 400,533,667,800, những loại có bus cao hơn thường xuất hiện ở những series RAM cao cấp như Kingston HyperX, Corsair , Mushkin LV những nói chung khá hiếm tại Việt Nam ngày trước, song bây giờ cũng khá phổ biến.
2. Cache memory
Là loại bộ nhớ có dung lượng rất nhỏ (thường nhỏ hơn 1MB) và chạy rất nhanh (gần như tốc độ của CPU). Thông thường thì Cache Memory nằm gần CPU và có nhiệm vụ cung cấp những dữ liệu thường (đang) dùng cho CPU. Sự hình thành của Cache là một cách nâng cao hiệu quả truy cập thông tin của máy tính mà thôi. Những thông tin bạn thường dùng (hoặc đang dùng) được chứa trong Cache, mỗi khi xử lý hay thay đổi thông tin, CPU sẽ dò trong Cache Memory trước xem có tồn tại hay không, nếu có, nó sẽ lấy ra dùng lại còn không thì sẽ tìm tiếp vào RAM hoặc các bộ phận khác. Lấy một ví dụ đơn giản là nếu bạn mở Microsoft Word lên lần đầu tiên sẽ thấy hơi lâu nhưng mở lên lần thứ hai thì nhanh hơn rất nhiều vì trong lần mở thứ nhất các lệnh (instructions) để mở Microsoft Word đã được lưu giữ trong Cache, CPU chỉ việc tìm nó và dùng lại thôi.
Lý do Cache Memory nhỏ là vì nó rất đắt tiền và chế tạo rất khó khăn bởi nó gần như là CPU (về cấu thành và tốc độ). Thông thường Cache Memory nằm gần CPU, trong nhiều trường hợp Cache Memory nằm trong con CPU luôn. Người ta gọi Cache Level 1 (L1), Cache Level 2 (L2)... là do vị trí của nó gần hay xa CPU. Cache L1 gần CPU nhất, sau đó là Cache L2...
3. BUS
Gồm nhiều dây dẫn điện nhỏ gộp lại, là hệ thống hành lang để dẫn dữ liệu từ các bộ phận trong máy tính (CPU, memory, IO devices). BUS có chứa năng như hệ thống ống dẫn nước, nơi nào ống to thì nước sẽ chạy qua nhiều hơn, còn sức nước mạnh hay yếu là do các bộ phận khác tạo ra. FSB (Front Side Bus) hành lang chạy từ CPU tới main memory.
– Trung tâm đào tạo bác sĩ máy tính thực hành Chuyên khoa PC
BSB (Back Side Bus) hành lang chạy từ memory controller tới L2 (Cache level 2).
Cách tính dung lượng của RAM
Thông thường RAM có hai chỉ số, ví dụ, 32Mx4. Thông số đầu biểu thị số hàng (chiều sâu) của RAM trong đơn vị Mega Bit, thông số sau biểu thị số cột (chiều ngang) của RAM. 32x4
= 32 MegaBit x 4 cột = 128 Mega Bit = 128/8 Mega Bytes = 16MB. Có nhiều bạn có thể lầm tưởng thông số đầu là Mega Bytes nhưng kỳ thực các hãng sản xuất mặc định nó là Mega Bit, bạn nên lưu nhớ cho điều này khi mua RAM. Ví dụ, 32Mx64 RAM tức là một thanh RAM 256MB.
4. CAS Latency:
CAS là viết tắt của “Column Address Strobe” (địa chỉ cột theo chiều dọc). Một thanh DRAM có thể được coi như là một ma trận của các ô nhớ (bạn có thể hình dung như một bảng tính excel với nhiều ô trống) và dĩ nhiên mỗi ô nhớ sẽ có địa chỉ ngang và dọc. Như vậy bạn có thể đoán ngay ra khái niệm RAS (Row Adress Strobe) nhưng do nguyên lý hoạt động của DRAM là truyền dữ liệu xuống chân nên RAS thường không quan trọng bằng CAS.
Khái niệm độ trễ Latency biểu hiện quãng thời gian bạn phải chờ trước khi nhận được thứ mình cần, theo từ điểm Merriam-Webster thì Latency có nghĩa là “khoảng thời gian từ khi ra lệnh đến khi nhận được sự phản hồi lại”. Vậy CAS sẽ làm việc như thế nào ? và CAS Latency có ý nghĩa gì ? Để hiểu khái niệm này, chúng ta sẽ cùng điểm nhanh qua cách thức bộ nhớ làm việc, đầu tiên chipset sẽ truy cập vào hàng ngang (ROW) của ma trận bộ nhớ thông qua việc đưa địa chỉ vào chân nhớ (chân RAM) rồi kích hoạt tín hiệu RAS.
Chúng ta sẽ phải chờ một lát khoảng vài xung nhịp hệ thống (RAS to CAS Delay) trước khi địa chỉ cột hàng dọc được đặt vào chân nhớ và tín hiệu CAS phát ra. Sau khi tín hiệu CAS phát đi, chúng ta tiếp tục phải chờ một khoảng thời gian nữa (đây chính là CAS Latency) thì dữ liệu sẽ được tìm thấy. Điều đó cũng có nghĩa là với CAS 2 chipset phải chờ 2 xung nhịp trước khi lấy được dữ liệu và với CAS3 thời gian chờ sẽ là 3 xung nhịp hệ thống.
Bạn sẽ thắc mắc như vậy phải chăng CAS2 nhanh hơn CAS3 tới 33%, không đến mức như vậy đâu bởi có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu năng tổng thể của bộ nhớ điển hình như:
+ Chuỗi xử lý thông tin: kích hoạt RAS, chờ khoảng thời gian trế RAS-to-CAS Delay và CAS Latency.
+ Truy cập bộ nhớ theo chuỗi: đôi khi chipset sẽ đọc dữ liệu trong bộ nhớ RAM theo chuỗi (burst) như vậy rất nhiều dữ liệu sẽ được chuyển đi một lần và tín hiệu CAS chỉ được kích hoạt một lần ở đầu chuỗi.
+ Bộ vi xử lý có bộ đệm khá lớn nên sẽ chứa nhiều lệnh truy cập và dữ liệu do đó thông tin sẽ được tìm kiếm trên bộ đệm trước khi truy cập vào RAM và tần số dữ liệu cần được tìm thấy trên bộ đệm (hit-rate) khá cao (vào khoảng 95%).
Nói tóm lại việc chuyển từ CAS 3 sang CAS 2 sẽ tăng hiệu năng xử lý cho tất cả các ứng dụng. Những chương trình phụ thuộc vào bộ nhớ như game hay ứng dụng đồ họa sẽ chạy nhanh hơn. Điều này đồng nghĩa với việc những thanh RAM được đóng dấu CAS2 chắc chắn chạy nhanh hơn những thanh RAM CAS3, nếu bạn dự định mua đồ chơi cho một cuộc đua ép xung hay đơn giản chỉ cần hệ thống đạt tốc độ tối ưu, hãy chọn RAM CAS2 nhưng nếu chỉ là công việc văn phòng, CAS 3 hoàn toàn vẫn đáp ứng được yêu cầu.
5. RAM Refresh Rate:
Thường thì khi nhắc tới khái niệm tần số làm tươi, người ta sẽ nghĩ ngay đến màn hình máy tính CRT tuy nhiên bộ nhớ DRAM (Dynamic Random Access Memory) cũng có khái niệm này. Như bạn đã biết module DRAM được tại nên bởi nhiều tế bào điện tử, mỗi tế bào này phải được nạp lại điện hàng nghìn lần mỗi giây bởi nếu không dữ liệu chứa trong chúng sẽ bị mất. Một số loại DRAM có khả năng tự làm tươi dữ liệu độc lập với bộ xử lý giúp tiết kiệm điện năng thường được sử dụng trong những thiết bị di động (ví dụ như Laptop hay Notebook).
– Trung tâm đào tạo bác sĩ máy tính thực hành Chuyên khoa PC
6. SDRAM Access Time:
Việc cho ra đời cách đọc dữ liệu theo từng chuỗi Burst Mode đã giúp khắc phục nhiều nhược điểm và tăng hiệu năng cho RAM, chu kì của chuỗi ngắn hơn rất nhiều chu kì trang của RAM loại cũ. Chu kì của chuỗi cũng được coi như là chu kì xung nhịp của SDRAM và chính vì thế nó được coi như thang xác định cho tốc độ của RAM bởi nó là khoảng thời gian cần thiết giữa các lần xuất dữ liệu theo chuỗi của RAM, những con số -12, -10. -8...
ghi trên các chip RAM là đánh dấu khoảng thời gian tối thiểu giữa mỗi lần truy xuất dữ liệu. Nhãn -12 xác định chu kì truy cập dữ liệu của RAM là 12ns (nano-giây) đồng nghĩa với việc tốc độ họat động tối đa của RAM sẽ là 83Mhz. Thường thì RAM có tốc độ cao sẽ sử dụng chip ram có chu kì truy xuất thấp nhưng với chu kì truy xuất thấp thì chưa chắc RAM đã có thể hoạt động ở tốc độ cao do còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Do đó đôi khi bạn sẽ gặp trường hợp thanh RAM có tốc độ thấp nhưng khi đem vào “thử lửa” ép xung thì lên được tốc độ cao hơn nhiều so với những loại RAM mặc định dán nhãn tốc độ cao.