NGÀNH XUẤT BẢN NƯỚC TA
A- Phân chia các loại biện pháp
Các biện pháp phát triển đồng bộ và hiện đại hoá hoạt động xuất bản có thể được phân chia thành bốn nhóm biện pháp sau.
- Biện pháp tăng cường hiệu lực lãnh đạo và quản lý hoạt động của ngành xuất bản ,
- Các biện pháp thuộc chính sách tài chính và cán bộ.
- Các biện pháp tác động từ phía văn hoá - xã hội đến sự phát triển ngành - Các biện pháp tác động trong bản thân hoạt động xuất bản.
Các loại biện pháp trên có liên quan chặt chẽ với nhau và sự phân chia chỉ mang tính tương đối. 'Tuy nhiên sự phân chia là cần thiết để chỉ rõ các đối
tượng nào tác động với nhau và có tác đụng như thế nào.
Sơ đồ tác động các biện pháp lên hoạt động xuất bản .
Đảng : Nhà nước
BITVHTW Cuc XB - B6 VH - théng tin
Chi thi .Các văn bản
Nghị quyết pháp qui
i
Các biện pháp {ác biện pháp
LD va quan ly Tài chính và Cbộ
} i
Ngành xuất bản
Xuất bản | | In | Phát hành
t I
Hoat déng Hoạt động Hoạt động
văn hoá giáo dục xã hội khác
4 -44-
B- Các biện pháp nâng cao hiệu quả lãnh đạo và quản lý ngành xuất
ban. .
- Quán triệt các tư tưởng chỉ đạo của các chỉ thị và nghị quyết của Đảng trong những năm gần đây, và các định hướng lớn trong công tác xuất bản .
+ Chỉ thị 63 của Ban bí thư "Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí xuất bản" ngày 25-7-1990.
+ Nghị quyết 384 HĐBT về "Tăng cường quản lý công tác báo chí xuất bản"
+ Chỉ thị 08-CT/TW ngày 31-3-1992 của Ban bí thư (khoá VID : "Tang cường sự lãnh đạo và quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác báo chí - xuất bản"
+ Luật xuất bản được Quốc hội thông qua ngày 7-7-1993,
+ Chỉ thị 22-CT/TW "Tiếp tục đối mới và tăng cường sự lãnh đạo quản lý
công tác báo chí, xuất bản" ngày 17-10-1997. _
Quán triệt nguyên tắc Đảng lãnh đạo xuất bản báo chí là nguyên tắc hàng đâu, được thể hiện qua ba phương điện :
+ Định ra chiến lược phát triển, định hướng thông tin tuyên truyền.
+ Lãnh đạo công tác cán bộ, bố trí các cán bộ chủ chốt;
+ Kiểm tra, uốn nắn khắc phục khuyết nhược điểm trong hoạt động xuất bản báo chí,
- Phát triển hoạt động xuất bản cần phải tiến hành song song với công tác quản lý, nhất là làm tốt công tác quản lý chất lượng chính trị, văn hoá khoa học của sách báo, hạn chế hiện tượng thương mại hoá hoạt động xuất bản ...
Các biện pháp cụ thể tăng cường sự lãnh đạo quản lý như cần căn cứ vào
chủ trương của Đảng và nhà nước:
+ Lập quy hoạch tổng thể phát triển báo chí, xuất bản , xây dựng chiến lược truyền thông quốc gia, tổ chức lại hệ thống phát hành, quy hoạch sắp xếp lại hệ thống đào tạo cán bộ, chủ yếu là đào tạo trong nước.
+ Lập ban cán sự Đảng hoặc giao trách nhiệm lãnh đạo cho cấp uỷ cơ
-45-
quan. Kiện toàn các cơ quan lãnh đạo, quản lý; bố trí sắp xếp cán bộ cho các ban, bộ, sở; đặc biệt là bổ nhiệm và đề bạt, thay đổi các tổng và phó tổng biên tập các báo, giám đốc; phó giám đốc các NXE. Cần thiết sửa đổi bổ sung một số điểm của Luật Xuất bản, ban hành các qui định thực hiện giao lưu, hợp tác với nước ngoài - trên lĩnh vực báo chí - xuất bản. Về mặt ngân sách, xét cấp vốn và tài trợ thông qua chương trình mục tiêu của những cơ quan hay tài trợ cho các loại sách cụ thể.
Thông qua khảo sát những NXB được hỏi ý kiến cho biết có những khó khăn sau đây trong iãnh đạo, quản lý.
- Có quá nhiều cơ quan quản lý xuất bản .
- Chính sách hỗ trợ của nhà nước vừa ít vừa thiếu nhất quán.
- Vị trí các NXB bị xem nhẹ so với các cơ quan trong cùng khối tư tưởng và báo chí.
- NXB phải tự trang trải về tài chính và lương, trong khi không được kinh
doanh đơn thuần.
- Tinh trang in nhái sách, in nối bản, tuồn sách cho tư nhân còn tiếp tực
diễn ra. :
- Chưa có công nghệ làm sách chất lượng cao phục vụ trong nước và xuất
khẩn.
- Thanh tra chồng chéo, ít hiệu quả.
- Đội ngũ cán bộ quản lý, kinh doanh còn yếu...
Với ngành phát hành có những khó khăn sau :
- Có sự cạnh tranh của tư nhân trong PHS, in sách. (50/93 ý kiến) - Sách in lậu không có phép bản quyền (sách địch)
- Thiếu vốn mở cửa hàng mới 67/93 (ý kiến).
- Thiếu vốn lưu động 72/93 (ý kiến).
1- Về mặt quản lý nhà nước trước hết cần giải thích, thanh tra việc tiếp ` tục thực hiện Luật Xuất bản 1993. Để cho luật được thực thi đầy đủ cần hoàn thiện các văn bản đưới luật. Trước mắt cần rà soát lại những điểm chưa rõ chưa thống nhất trong luật để sửa đổi theo ngôn từ chuẩn xác. Khái niệm xuất bản
t
-46 -
phẩm chưa thống nhất giữa luật và nghị định 79/CP. Nên mở rộng khái niệm xuất bản phẩm ra cho-cả băng, đĩa từ, và trong thực tế đã có khái niệm "sách
điện tử”, đĩa CD-ROM. Những khái niệm như xuất bản nhất thời, chịu trách
nhiệm bản thảo, sách tham khảo, sách giáo khoa... chưa có trong luật. Để tăng cường trách nhiệm của giám đốc nhà xuất bản , nên bỏ ở điểm 17.phần "thẩm định nội dung” mà xuất bản cái gì là do giám đốc chịu trách nhiệm. Việc điểu chỉnh hoạt động xuất bản của người nước ngoài ở Việt Nam cần phải có nghị định của chính phủ, thay cho các điều trong thông tư 38/TT-VH. Cần ban hành nghị định về hoạt động in như vấn để cổ phần hoá, hoạt động in 100% vốn nước ngoài. Theo nghị quyết 90/CP (21-8 1997) đã mở rộng phạm vi tham gia của tư nhân vào ngành,in nhưng nghị: định 79/CP chưa có sự thay đổi đồng bộ.
Cần có sự tăng cường quyền hạn cho bộ chủ quản quản lý ngành in. Cần xem xét lại phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp đối với các cơ sở xuất bản , phát hành sách vì các cơ sở ấy không đơn thuần là kinh doanh. |
Để cơ quan quản lý thanh tra làm việc được hiệu quả hơn cần tăng cường năng lực cho đội ngũ này bằng cách nâng cao trình độ,tinh thần trách nhiệm trang bị phương tiện kỹ thuật hỗ trợ cho việc chấm dứt tình trạng ¡n lậu, in chồng chéo, in nối bản... và để lọt ra ngoài xã hội những cuốn sách xấu, độc hại. Xử phạt nghiêm minh những cuốn sách vi phạm điều 22 của Luật xuất bản và các vi phạm khác. Xử phạt đối với các nhà xuất bản cơ sở xuất bản không nộp lưu chiểu kịp thời hạn 7 ngày theo Luật . Hạn chế lại hoặc giữ nguyên chức năng nhà xuất bản (19/39 ý kiến). để tránh hiện tượng "thay tên” xuất bản phẩm khi đăng ký để tài phải có bản thảo.
Việc xét duyệt kế hoạch cần linh hoạt hơn (30/39 ý kiến ) đề nghị xét duyệt thường xuyên hay chậm nhất cũng hai tháng một lần (hiện nay điều chỉnh 3 tháng một lần)
Để tăng cường hợp tác quốc tế nước ta nên sớm tham gia công ước Berne _ để tạo cơ sở pháp lý cho việc địch sách nước ngoài và xuất khẩu sách. Đây là van dé mới nhưng cũng được 19/39 ý kiến ủng hộ. Ở nước Trung Quốc láng
AT.
giềng đã có luật bản quyển từ 1990 và tham gia công ước Berne năm 1992.
Nước ta, chậm hơn 5 năm, 1995 mới đwọ: quyền tỏc giả vào chương I, phần VI của Luật dân sự và mới ký Hiệp định quyền tác giả với Mỹ năm 1997,
C.Các biện pháp chính sách về tài chính và công tác cán bộ
1) Xuất bản là một ngành văn hoá đăc thù có vai trò nâng cao tri thức về mọi mặt, sản xuất ra các giá trị tinh thần và phổ biến, lưu trữ chúng .Để ngành xuất bản tồn tại và phất triển cần phải gắn hoạt động xuất bản với hoạt động
kinh tế. Các biện pháp kinh tế có thể được phân thành hai loại.
- Loại biện pháp tăng cường hiệu quả hoạt động sản xuất kinh đoanh của ngành xuất bản
- Loại biện pháp đầu tư, cấp vốn, tài trợ cho những loại sách, cho những nhà xuất bản mà mục tiêu phục vụ nhiệm vụ chính trị nổi trội hơn mục tiêu sản xuất kinh doanh.
Từ khi chuyển sang cơ chế mới, hoạt động xuất bản phải tự hoạch toán kinh doanh để tồn tại. Mặt tích cực của chủ trương này là phát huy được tính năng động của các nhà xuất bản góp phần cùng đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế. Song mặt trái của chủ trương đó ngày càng bộc lộ và khó khắc phục làm ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu phục vụ sự nghiệp văn hoá, tư tưởng và giáo dục của ngành.
Qua việc thăm đò ý kiến 39 nhà xuất bản thì có trên 50% các ý kiến chủ yếu ở phía bắc có khó khăn về vốn lưu động; nhiều nhà xuất bản (30) cho rằng thuế doanh thu còn cao và 24/39 nhà xuất bản cho rằng thuế lợi tức cao; 19/39 các nhà xuất bản cho rằng mức nhuận bút còn thấp. Cần quán triệt lợi ích mà ngành xuất bản đem lại không chỉ là lợi nhuận thu được từ buôn bán sách mà là lợi ích xã hội mà hiệu quả của nó là vô cùng to lớn. Ở các nước đang phát triển hầu hết các chính phủ đều đầu tư cho hoạt động xuất bản , ở các nước tư bản chủ nghĩa cũng có chính sách tài trợ cho sách ( sách giáo khoa, tri thức
phổ cập).
Theo ý kiến điều tra thì có 22 NXB muốn trở thành doanh nghiệp công
.48-
ích, còn doanh nghiệp nhà nước còn lại chỉ có 7 NXB. Điều đó phản ánh khó khăn khách quan do chủ trương "không phải hoạt động đơn thuần kinh doanh”
gây nên. Đã là doanh nghiệp tất phải tuân theo luật doanh nghiệp và qui luật thị trường, nếu không cần phải có chính sách đặc biệt.
Một biện pháp cẩn thực hiện là rà soát lại các NXB để phân định ra thành nhiều loại theo chức năng hoạt động xuất bản để có chính sách thích đáng.
- Với NXB là doanh nghiệp nhà nước thì không cần tài trợ song phải được cấp vốn ban đầu, được ưu đãi về thuế doanh thư và thuế lợi tức (mà hiện nay
còn cao : 45%) .
Có 23/39 các NXB chủ yếu là ở phía Bắc có nhu cầu bổ sung vốn cố định từ đưới 500 triệu đến 4 tỷ đồng, với mục đích chính là mua sắm thiết bị, xây đựng cơ bản.
Toàn ngành có 24/39 NXB có nhu câu bổ sung vốn lưu động đến 2 tỷ đồng cần được cấp 60% vốn định mức, nếu không đủ vốn lưu động sẽ không
chiến được thị phần, tư nhân sẽ thao túng. Đề nghị cho giữ lại thuế lợi tức để
tái đầu tư. Phần lớn các NXB đều nhất trí : 35/29 ý kiến tăng mức đầu tư cho ngành văn hoá, trong đó có hoạt động xuất bản từ 2% hiện nay lên 3%, như để nghị của ỦNESCO. Mức thuế doanh thu nên qui định từ 1-2% (20 ý kiến). Nếu thu thuế theo GTGT thì thu mức thấp nhất. Tập trung đầu tư cho các NXB trọng điểm như Giáo duc, Chính trị quốc gia, Khoa học kỹ thuật (24 ý kiến) và giải thể các NXB quá nhỏ (18 ý kiến) hoặc gom lại thành các NXB có gần chức năng thành một NXEB khu vực (12 ý kiến). Không mở rộng thêm chức
năng cho NXB ,
Về tài trợ : Kinh nghiệm cho thấy thị trường chỉ khai thác "ăn ngay”
không có ai đầu tư cơ bản theo định hướng; nhiệm vụ này chỉ có nhà nước quan tâm theo định hướng của Đảng. Từ mức trợ giá cho xuất ban 8 tỷ đồng (1998) nâng lên mức 13 tỷ (năm 2000) và cao hơn ở những năm sau.
Cân đâu tư cho chương trình xuất bản sách với chất lượng cao để xuất
khẩu (khoảng 10% số lượng sách theo chương trình của Bộ văn hoá thông tin)
-40-
Với cỏc loại sỏch cần tài trợ thỡ nờn tài trợ cho ẹNXB để giảm giỏ bỏn lẻ (30/39)ý kiến, theo đề tài cụ thể. Với sách xuất bản theo chương trình của các tố chức thì tài trợ trực tiếp cho cơ quan đặt hàng với NX.
Về chính sách nhuận bút cần được cải tiến như sau:
- Theo từng cuốn đo thoả thuận với tác giả (26/39 ý kiến)
- Theo hướng nâng cao % nhuận bút hơn mức hiện nay (10-15%)
- Phải có văn bản qui định của nhà nước làm căn cứ, cho phép NXB vận dụng thoả thuận với tác giả. Nếu không có mức chuẩn, các NXB sẽ trả nhuận bút khác nhau gây bất lợi cho các NXB nhỏ.
2) Khắc phục thực trạng đội ngũ cán bộ ngành xuất bản vừa thiếu lại vừa
yếu. - ;
Trả lời phiếu điều tra, 12 NXB cho biét còn thiếu lao động. Nơi có đủ lao động thì cho rằng đội gũ cán bộ biên tập , quản lý còn rất yếu. Còn có vấn để chất lượng cán bộ chưa thể vươn ra cạnh tranh với thị trường nước ngoài được.
Trong số 3151 lao động của các NXE thì chỉ có 1433 người có trình độ từ đại học trở lên 46%) & ngành PHS tỷ lệ còn thấp hơn (24%) . Để hiện đại hoá ngành , công việc đào tạo, thay thế cán bộ trở nên cấp bách.
Về loại hình cán bộ còn thiểu thì đa số 47/93 ý kiến cho rằng thiếu cử nhan PHS (biểu 56) 19/39 ý kiến cho rằng còn thiếu BTV giỏi. Nhận thức như thế là đáng mừng vì khâu biên tập đã được coi trọng. Ngoài ra, các ý kiến khác cho là thiếu cán bộ kinh đoanh, nhân viên tiếp thị và chuyên gia chế bản.
Nâng cao số lượng và chất lượng cho cán bộ xuất bản là yêu cầu bức xúc bởi vì đây là những người góp phần cung cấp trí tuệ cho xã hội để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài như văn kiện Dai hoi VIII của Đảng đã khẳng định. Tri thức đã trở thành nguồn lực để xây dựng đất nước.
Cân thiết phải đào tạo ba loại cán bộ .
+ Cán bộ làm công tác xuất bản . + Lao động kỹ thuật như chế bản, in ấn.
+ Lao động phát hành sách.
Theo phiếu điều tra, có những ý kiến cho rằng cần bổ sung lao động từ số các cộng tác viên giỏi về xuất bản .
- Lấy từ đại học kinh tế quốc dân và từ xã hội.
- Lấy người du học về nước làm biên tập sách địch.
Ngành PHS bổ sung từ nguồn tuyển dụng đào tạo lại, bồi đưỡng thêm, lấy từ các trung tâm đạy nghề, các trường đại học khác (44/93 ý kiến - biểu 57).
Các ý kiến trên ft nhiều có lý song chưa đầy đủ bởi phẩm chất quan trọng nhất của người biên tập là lập trường tư tưởng, nhận thức chính trị, đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ. Mà các phẩm chất đó chỉ có thể có được khi đào tạo chuyên sâu. Chỉ thị 22-CT/TW của Bộ chính trị ngày 17-10-1997 đã chỉ rõ
"Khẩn trương qui hoạch và sắp xếp lại hệ thống trường lớp, nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng phóng viên, biên tập viên... Đào tạo bồi dưỡng cán bộ báo chí chủ yếu là trong nước dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và sự quản lý chặt chế của Nhà nước. Không mở các khoa, lớp báo chí, xuất bản ở các trường đại học dân lập, tư thục” (Tiếp tục đổ mới và tăng cường lãnh đạp quản lý công tác báo chí xuất bản H-1997 trang 15).
Hiện nay có các cơ sở đào tạo sau :
1- Khoa xuất bằn:hàng năm đào tạo chính qui 40-50 cử nhân BT-XB sách ở Phân viện Báo chí và Tuyển truyền.
2- Khoa kinh doanh XBP (Trường Đại học văn hoá) 3- Khoa công nghệ ín (Đại học Bách khoa)
4- "Trường trung học kỹ thuật in Hà Nội.
5- Trung tâm in ở Công ty in Trần Phú, công ty in Tiến Bộ.
Các cán bộ được đào tạo ra nhìn chung có lập trường tư tưởng tốt, có
nghiệp vụ. Tuy nhiên họ còn thiếu hiểu biết và thói quen thao tác với kỹ thuật công nghệ mới: BTV chưa sử đụng thành thạo vi tính để biên tập và trình bày sách, chưa khai thức được các công nghệ thông tin hiện đại. Công nhân in.
cũng chưa tiếp cận tốt với công nghệ in hiện đại, chưa khai thác hết khả năng máy in ốp xét tiên tiến. Cán bộ PHS còn thiếu khả năng cần thiết của người bán hàng trong cơ chế thị trường (khả năng giao tiếp, ma két tỉnh, ngoại
-51-
hình...)
Trước mắt cần tạo ra cơ chế đào tạo 2 bằng đại học (chuyên môn và nghiệp vụ) cho biên tập viên, khoa phát hành sách cải tiến chiêu sinh với tiêu chuẩn toàn diện hơn. Riêng với ngành in song song với đào tạo kỹ sư, thạc sĩ, tiến si cãn đào tạo một lượng đồng bộ các công nhân in mới, kỹ thuật viên cao cấp. Mời các chuyên gia in tiên tiến của các nước sang giúp ta đào tạo lại các.
công nhân cũ. Với các tổ chức đại lý sách, xưởng in tư nhân phải có bằng cấp mới được phép kinh doanh (tương tự như ngành y, dược)