Phương thức hoạt động của ngành PHS

Một phần của tài liệu Phát triển đồng bộ và hiện đại hóa ngành xuất bản phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Trang 112 - 127)

Hiện nay, ngành' PHS quốc doanh đang phải đương đầu với hàng loạt những thử thách lớn như : sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế tham gia lĩnh vực này, đặc biệt lực lượng tư nhân; thị trường xuất bản phẩm vốn đã đa dạng, phong phú song ngày càng phức tạp hơn bởi khuynh hướng thương mại hoá trong hoạt động xuất bản, in, phát hành sách ngày càng phat triển; sự ảnh hưởng nặng nề về khủng hoảng tài chính, tiền tệ của các nước trong khu vực; việc thực hiện thuế VAT chưa phù hợp với tính chất và đặc thù của hàng hoá sách cũng như hoạt động PHS đã ảnh hưởng trực tiếp và làm giảm sút hiệu quả kinh tế nói chung của toàn ngành.

Hiện nay, để khấc phục tình trạng thiếu vốn kinh doanh các đơn vị phải khai thác kinh doanh từ nhiều nguồn : vay ngân hàng, huy động từ cán bộ CNV, liên kết, liên doanh với đồng nghiệp ngành xuất bản (nhà xuất bản, cơ

sở in, PHS), trao đổi hàng hoá với các thành phần kinh tế để tạo ra nguồn vốn

bằng hàng hoá phong phú, đa dạng và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả.

Hầu hết các đơn vụ PHS đã cải tiến phương thức phục vụ, kinh doanh tổng hợp, đa dạng hoá các mặt hàng, áp dụng nhiều hình thức nghiệp vụ thương nghiệp linh hoạt. Mở rộng hình thức bán sách tự chọn, phục vụ tại nhà... giảm bớt thời gian của khách cũng như cường độ lao động của nhân viên bán hàng. Cùng lúc đáp ứng nhiều nhu cầu về văn hoá tỉnh thần như : sách;

văn hoá phẩm, văn phòng phẩm, quà lưu niệm, một số đơn vị đã có phòng đọc

sách, xem phim miễn phí, mở các dịch vự văn hoá ngay tại nơi bán sách, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng như : Công ty PHS thành phố Hồ Chí Minh , công ty văn hoá tổng hợp quận 11 (nay là công ty văn hoá cổ phần phương

Nam)... °

Toàn ngành PHS hiện rất chú trọng, chủ động tìm kiếm và tạo ra thị trường sách với nhiều hình thức linh hoạt như : thường xuyên tiếp thị bằng.

cách gửi các danh mục sách mới tới các cơ quan đoàn thể, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, kể chuyện theo sách với nhiều chủ đề; bám sát nhiệm vụ trọng tâm của Trung ương và địa phương để nắm bắt thị trường và đáp ứng kịp thời các

- 102 -

nhu cầu vừa có tính thời sự, vừa có tính ổn định lâu dài; tổ chức các ngày hội sách, tuần sách, triển lãm sách phục vụ các ngày lễ lớn song cũng là cơ hội để đẩy mạnh bán ra; tạo lập quan hệ với khách hàng mang tính chiến lược như học sinh, sinh viên, hệ thống thư viên văn hoá, thư viện các Bộ, ngành, trường học, tủ sách pháp luật, tủ sách bưu điện phường, xã ... Dẫn đầu trong hoạt động này là Công ty PHS Nghệ An, Công ty PHS thành phố Hồ Chí Minh.

Nhờ có sự thay đổi tích cực về phương thức hoạt động nên trong 2 năm 1998 - 1999 toàn ngành đã phát hành được 73.3712.468 bản sách, trong đồ có.

1.876.000 bản sách đến các thư viện trường học vùng sâu vùng xa; 89.958.616 bản văn hoá phẩm ; 15.110.000 Biốc lịch với tổng doanh số 1.199 tỷ đồng (xem biểu 2). Riêng mặt hàng Blốc lịch 2000 đã dán tem chống giả, bước đầu khắc phục tình trạng ế động do in lậu như một số năm trước, bởi vậy toàn ngành đã phát hành được 8.150.000 Blốc vượt 117% so với năm 1998

(6.960.000 Biốc năm 1999).

Ngoài việc phat hành sách xuất bản trong nước ngành PHS (chủ yếu là công ty xuất nhập khẩu sách báo) đã làm tốt công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại. Đẩy mạnh xuất khẩu sách, báo, tạp chí với nhiều thể loại : văn hoá - xã hội, kinh tế, pháp luật, du lịch... có nội dung giới thiệu về đất nước, con

người Việt Nam đến nhiều nước trên thế giới : Mỹ, Anh, Đức, Đông Âu, Liên

Xô cũ... Hai năm 1998 - 1999 , riéng công ty Xunhasaba đã xuất được 396.840 tờ báo, tạp chí và 127.660 bản sách với tổng kim ngạch 706.000 USD. Ngoài ra, công ty Xunhasaba và Công ty PHS thành phố Hồ Chí Minh đã nhập khẩu các thể loại sách học ngoại ngữ, vi tính, y học, mỹ thuật, kinh tế, sách thiếu nhi... với tổng số 390.031 bản sách và 2.633.406 tờ báo, tạp chí với tổng kim ngạch là 4.781.000USD (số liệu 2 năm 1998 - 1999 Xem biểu 4).

Có thể nói, hiện nay ngành PHS đã có những tiến bộ rõ rệt trong việc đẩy mạnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Song vẫn chỉ đảm nhận phát hành được từ 25-30% tổng số sách xuất bản hàng năm, trong đó lại có gần 1/2 bản

sách trong chương trình nhà nước đặt hàng và tài trợ. Trừ một vài đơn vị có thị trường lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội hoạt động có lợi nhuận đáng

' - 103 -

kể, đời sống cán bộ đảm bảo, còn hầu hết các tỉnh chỉ đảm bảo lấy thu bù chỉ,

không đủ điều kiện để có thể cạnh tranh với lực lượng PHS tư nhân.

4. Công tac quan lý nhà nước đối với hoạt động PHŠS

Thờ gian qua, công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực PHS đã có nhiều tiến bộ. Một số văn bản dưới luật được ban hành kịp thời như: Quy chế quản lý hoạt động phát hành xuất bản phẩm (15/8/1997), quy chế liên doanh về in và phát hành xuất bản phẩm (8/11/1999), quy định về in giá bán lẻ đốt với các xuất bản phẩm (1/5/1999), quản lý Blốc lịch năm 2000 bằng biện pháp dán tem chống giả,...Các văn bản này đã góp phần tích cực cho việc ốn định thị trường xuất bản phẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động phát hành sách. Tuy nhiên công tác quản lý vẫn còn nhiều hạn chế. Cụ thể:

- Quản ký thị trường xuất bản phẩm thiếu tính nhạy bén, không nắm bắt tình hình thường xuyên, thiếu thực tế nên các văn bản thường mang tính sự vụ, thụ động .

- Hệ thống văn bản quản lý vốn không đồng bộ nên tính hiệu lực chưa cao, chưa phù hợp với sự phát triển của cơ chế thị trường.

- Chưa tích cực đầu tư nghiên cứu về mô hình tổ chức, về chế độ chính sách cho hoạt động PHS, cũng như chưa tập trung vào việc quản lý thị trường xuất bản phẩm một cách toàn điện.

- Việc kiểm tra, thanh tra, xử lý các vi phạm trong hoạt động phát hành

xuất bản phẩm thiếu sự phối hợp đồng bộ, chặt chế giữa các cơ quan chức.

năng từ trung ương đến địa phương. Khi phát hiện ra các vụ việc vi phạm thường xử lý mang tính hành chính, chưa kịp thời và nghiêm minh.

Từ phân tích, đánh giá trên đây ta có thể tóm tắt thực trạng ngành PHS hiện nay như sau :

Ưu điểm :

Vẻ cơ bản, hoạt động PHS đã có những bước tiến rõ rệt, đổi mới tích cực trong cả phục vụ và kinh doanh, tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng, hoạt động phục vụ kinh doanh đúng định hướng, đúng pháp luật , đống góp vào việc nâng cao dân trí, đáp ứng yêu cầu về xuất bản phẩm ngày càng tăng

104

của nhân dân, phục vự thiết thực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước duy trì và phát triển được sự nghiệp truyền thống của ngành PHS.

Han chế :

Bộ máy tổ chức PHS chưa ổn định, chưa thống nhất. Tồn tại đồng thời nhiều hệ thống PHS quéc doanh (PHS van hoá, PHS giáo dục) có cùng chức . năng, tổ chức phân tán, hoạt động chia cắt và chồng chéo, trùng lặp, lãng phí về lao động và cơ sở vật chất, không huy động được sức mạnh tổng hợp.

+ Công tác PHS phát triển thiếu qui hoạch, chưa có định hướng rõ ràng dẫn đến sự phát triển của các đơn vị trong cùng một hệ thống không nhất quán về chức năng nhiệm vụ.

+ Hệ thống mạng lưới cửa hàng chậm phát triển, đặc biệt ở các vùng nông thôn, miền núi, gin như xuất bản sách không đến được các vùng này hoặc nếu có thì rất nghèo nàn. Trong khi đó ở các trung tâm tỉnh, thành phố đặc biệt Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh mạng lưới PHS của nhà nước và tư nhân dày đặc, đôi lúc sách dư thừa, cung vượt quá cầu.

+ Cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu thốn, lạc hậu, không dap ứng được nhu cầu thông tin hiện đại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá,.

+ Cơ chế sách không đồng bộ, đặc biệt chưa xây dựng được thiết chế cho PHS nằm trong thiết chế văn hoá cơ sở nên chưa có chính sách đầu tư cơ sở vật chất, phát triển sự nghiệp ngành PHS. Các chính sách thuế áp dụng cho ngành PHS hiện nay như các ngành thương nghiệp khác, thiếu sự bình đẳng

giữa lực lượng PHS quốc doanh với các thành phần kinh tế khác.

+ Đội ngũ cán bộ quản lý và nghiệp vụ còn thiếu và yếu cả về trình độ văn hoá- chính trị , trình độ chuyên môn, hạn chế lớn đến sự phát triển của mỗi đơn vị cũng như sự nghiệp chúng của toàn ngành.

105

+ Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động PHS chưa kịp thời, các văn bản thường thiếu tính pháp qui, chưa đáp ứng định hướng và quản lý các công ty PH§ cổ phẩn-ra sao ? Quản lý các công ty PHS đã sáp nhập như thế

nào ? ị

Thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động PHS một cách thiếu khoa học, chưa quản lý được các thành phần kinh tế tham gia lĩnh vực này....

H/- Định hướng và giải pháp cho hoạt động PHS những năm đầu thế.

ký2lL — "

Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã định hướng rất cụ thể về phát triển nền văn hoá Việt Nam đặc biệt là tư tưởng của Nghị quyết TW 5 của Ban chấp hành TW khoá 8. "... phải xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”... "phải tăng nhanh số lượng các sản phẩm văn hoá, báo chí, xuất bản có chất lượng cao về nội dung tư tưởng và giá trị văn hoá nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, nhằm phổ biến sâu rộng trong toàn nhân dân, để vừa có tác dụng giáo dục, định hướng tư tưởng, vừa nâng cao không ngừng trình độ mọi mặt cho mỗi con người". Như vậy, những năm đầu của thế kỷ 21, hoạt-động xuất bản nói chung và phát hành xuất bản phẩm nói riêng giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Để thoả mãn nhu cầu của khách hàng, tất yếu ngành xuất bản phải có sự đổi mới mạnh mẽ cả về chủng loại mẫu mã cũng như chất lượng nội dung từ đó đòi hỏi các nhà phát hành phải có trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ cao mới có khả năng để tổ chức các hoạt động lưu thông xuất bản phẩm trên thị trường, thoả mãn mọi nhu cầu của khác hàng.

1- Mục tiêu của hoạt động PHS những năm đầu thế kỷ 21.

Trong những năm tới, ngành PHS phải cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu chủ yếu sau đây :

- Phát hành XBP phải thực sự là hoạt động tuyên truyền, phổ biến kịp thời.

các nhiệm vụ chính trị của đất nước, chủ trường đường lối chính sách của quốc gia đến với mọi người dân thông qua việc chuyển tải các XBP có nội dung

3%

- 106 -

khoa học, tiên tiến, hiện đại mang đậm tính dân tộc với hình thức, mẫu mã phù hợp nhu cầu của khách hàng.

- Củng cố, hoàn thiện về tổ chức, mạng lưới PHS, đầu tư kinh phí để xây dựng các điểm bán XBP theo phương châm đều khắp và hiện đại. Tổ chức các hình thức, biện pháp bán XBP phong phú, sử dụng thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, nhằm đưa nhanh, nhiều, kịp thời và đáp ứng đúng các XBP mà khách hàng cần.

- Qui hoạch đào tạo, bồi đưỡng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành PHS, không ngừng nâng cao về lượng và chất đội ngũ cán bộ quản lý và người bán XBP để thực hiện mục tiêu văn hoá, văn minh trong quá trình phổ biến XBP.

Cán bộ hoạt động ở lĩnh vực này phải có trình độ chuyên môn giỏi, có phẩm

chất đạo đức tác phong tốt, phù hợp với xã hội Việt Nam .

- Thực hiện triệt để việc xã hội hoá hoạt động phát hành XBP, phát huy nội lực của mọi người thuộc các thành phần kinh tế, đổi mới toàn điện hoạt động PHS quốc doanh nhằm mục đích thu hút nhiều nhân lực, vật lực cũng như tiền mặt vào quá trình phổ biến xuất bản phẩm.

- Góp phần tích cực trong công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng, cần đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu XBP với các nước khu vực và thế giới.

- Đẩy mạnh công tác quản lý hoạt động phát hành XBP thông qua việc xây dựng một hệ thống luật pháp và các văn bản dưới luật chặt chế. Ban hành một số chính sách quốc gia về đầu tư cơ sở vật chất, tiền lương, khen thưởng...

có tính chất ưu đãi, nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân tham gia phổ biến XBP có hiệu qua, đồng thời đảm bảo việc đáp ứng nhu cầu XBP cho nhân dân đúng định hướng XHCN.

HII/- Một số giải pháp và kiến nghị bộ máy tổ chức và lực lượng lao

động,

- Về bộ máy tổ chức và mạng lưới.

Do nhu câu vẻ XBP của xã hội ngày càng phát triển nên hoạt động phát hành XBP tất yếu phải có sự chuyển biến mạnh mẽ, nhất là lực lượng quốc đoanh. Vì vậy cần phải qui hoạch về mô hình tổ chức ngành PHS phù hợp với

- 107 -

sự phát triển kinh tế - xã hội những năm đầu thế kỷ XXI, trong những năm tới toàn ngành PHS tập trung giải quyết những điểm chính như sau :

- Các đơn vị PHS'phải căn cứ vào khả năng thực tế của mình và điều kiện cụ thể của địa phương mà xác định rõ hướng đi của đơn vị theo loại hình doanh nghiệp nào (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp công ích, sự nghiệp có thu). Trên cơ sở đó để ra mô hình tổ chức và vận dụng các hình thức, biện

pháp kinh doanh phù hợp.

- Kiện toàn, sắp xếp lại về tổ chức bộ máy và hoạt động của Tổng công ty PHS Việt Nam. Bổ sung cán bộ có năng lực vào Ban lãnh đạo Tổng công ty.

Khi có đủ điều kiện tiến hành mở rộng thêm các thành viên để Tổng công ty

phát triển và thực sự là trung tâm điêu phối xuất bản phẩm lớn nhất trong toàn

quốc. :

- Kiên trì để nghị chính phủ cho sáp nhập hệ thống phát hành sách văn hoá và hệ thống phát hành sách giáo khoa theo hướng : Bộ giáo dục - đào tạo (NXB giáo dục) chuyên lo về nội dung, hoàn thiện sản phẩm còn phần phát hành sách tập trung vào một mối, Như vậy chắc chắn hoạt động PHS quốc doanh sẽ vững mạnh và tổng công ty PHS Việt Nam sẽ là một Tổng công ty

mạnh. |

- Huy động moi nguồn vốn để tập trung nâng cấp các cửa hàng bán XBP tại trung tâm tỉnh, thành phố, trang bị các phương tiện kỹ thuật tiên tiến, khoa học và sử dụng phương pháp bán hàng đa dạng, hiện đại. Đồng thời cải tạo, xây dựng mới một số cửa hàng bán sách ở địa bàn huyện ly. Đối với vùng miền núi, vùng xa có thể tổ chức các đội PHS lưu động, kết hợp với thư viện cơ sở, tủ sách pháp luật , tủ sách Bưu điện văn hoá phường xã để tạo thành các điểm bán sách cố định.

- Về lao động PHS.

+ Trên cơ sở qui hoạch tổng thể về tổ chức, mạng lưới cửa hàng, các đơn.

vị xác định yêu cầu về lao động, từ đó có kế hoạch sử dụng, đào tạo lại, đào tạo mới, đào tạo nâng, cao về các chuyên môn : quản lý, nghiệp vụ, kinh tế, ngoại ngữ ... Kế hoạch đào tạo cần được phân theo nhóm,,ngành công việc như

+

- 108 -

: bộ phận quản lý nghiệp vụ, kinh tế và kinh doanh trực tiếp (bán hàng,

Marketing...)

+ Xây dựng và hoàn thiện chức danh, tiêu chuẩn cho lao động ngành PHS, cả đội ngũ lãnh đạo, quản lý và những người trực tiếp kinh doanh. Việc tuyển dụng cán bộ, thi tuyển viên chức PHS phải tuân thủ theo tiêu chuẩn chức

danh này.

Sơ đồ tổ chức doanh nghiệp xuất bản phẩm.

Đối tác Đối tác

Ban giám đốc DN

Đối tác Đối tác

Phòng kinh doanh Phòng tổ chức - HC

Cửa hàng l| — |Cửa hàng 2 Cửa hàng 3 Cửa hàng 4

2-Về cơ chế chính sách và công tác quản lý nhà nước Về chính sách, pháp luật :

- Nhà nước bổ sung các qui định, qui chế quản lý và các chính sách, chế độ cho hoạt động “nhát hành XBP như : ban hành chính sách về giá cả và qui định mức chiết khấu thương nghiệp đối với các XBP đặc biệt là sách nhằm tạo sự ổn định trong thị trường sách, hạn chế tới mức thấp nhất sự cạnh tranh không lành mạnh bằng cách tăng, giảm giá tuỳ tiện.

- Nhằm đẩy mạnh lưu thông các XBP lên miền núi, vùng sâu, vùng xa Nhà nước cần xây đựng chương trình “sách cho miền núi”, tăng cường đầu tư cho các hoạt động xuất bản, in, phát hành, thư viện ở các vùng này.

- Đề nghị nhà nước ban hành các qui định về việc đầu tư cơ sở hạ tầng cho các công trình trụ sở, cửa hàng bán XBP tại các tỉnh, thành phố (trong đó

- 109 -

Một phần của tài liệu Phát triển đồng bộ và hiện đại hóa ngành xuất bản phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Trang 112 - 127)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(130 trang)