Tính đông bộ trọng sự phát triển của ngành xuất bẩn

Một phần của tài liệu Phát triển đồng bộ và hiện đại hóa ngành xuất bản phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Trang 47 - 54)

NGÀNH XUẤT BẢN NƯỚC TA

1. Tính đông bộ trọng sự phát triển của ngành xuất bẩn

Như ta đã biết ngành xuất bản bao gồm ba lĩnh vực : xuất bản, in, phát hành. Trong đó hoạt động xuất bản của các nhà xuất bản có nhiệm vụ tổ chức ra các bản thảo tác phẩm, biên tập, hoàn thiện và thiết kế bản thảo để In thành sách. Nhà in hợp đồng với nhà xuất bản để thực hiện khâu in sản lượngtheo

mẫu in mà nhà xuất bản đã thiết kế hay chế bản, theo đúng qui cách qui định bởi luật xuất bản và các qui chế ngành in. Công việc phát hành thực hiện việc buôn bán sách, đưa sách đến cho người đọc. Nếu như hai công đoạn trên (xuất

bản và in) đảm bảo chất lượng và số lượng sách cần thiết theo nhu cầu xã hội,

thì khâu cuối cùng , phát hành sách, hoàn thành nốt qui trình xuất bản, quyết định "đầu ra” của sân phẩm. Ba khâu này liên quan mật thiết với nhau. Nếu

một số khâu phát triển kém sẽ làm ảnh hưởng chung đến hoạt động của ngành:

thiếu sách, in không kịp thời, kém chất lượng hay để sách ứ động không phát huy được hiệu quả và dẫn đến tình trạng đình trệ.

Ngành in trước đây trang bị kém, thường không ¡in sách đảm bảo chất lượng. Hiện nay đã được ôpxét hoá, in đẹp, song lại thừa công suất gây ra lãng phí và giá công in cao, Ngành phát hành thời bao cấp "bao" hết sách của các

NXB, sau khi chuyển đổi cơ chế lại bỗ rơi các NXB. Đến nay tuy đã được củng

cố nhưng chỉ phát hành được một phần sách. Như vậy sự đồng bộ của ba khâu:

xuất bản, in, phát hành là một nhu cầu khách quan, cấp bách. , b- Đảm bảo sự đẳng bộ giữa sự lãnh dạo, quản lý ngành xuất bản đối với sự phát triển của ngành.

_~-37-

Hoạt động xuất bản ở bất kỳ thời đại và chế độ nào luôn được đặt dưới sự lãnh đạo, quản lý, giám sát của chính đẳng cầm quyền và nhà nước. Sự lãnh đạo, quản lý này thể hiện khác nhau ở từng quốc gia và từng thời kỳ , với mức độ, phương pháp khác nhau. Sự cần thiết của sự lãnh đạo quản lý đó được giải thích bởi tính giai cấp, tính đẳng của hoạt động xuất bản, bởi vai trò to lớn của nó trong phát triển văn hoá, giáo dục, kinh tế, trong thực hiện các mục tiêu chiến lược của quốc gia, khẳng định chế độ chính trị, uy tín, tính độc lập tự chủ của từng nước. Về đạt thể sách là hàng "nội hoá”, "quốc gia hoá". Việc nhập sách báo được quản lý chặt chẽ và chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng lượng ban sách; nhìn chung nhập khẩu sách không thể đáp ứng được những nhu cầu cụ thể, đa dạng của từng vùng đân cư, từng loại bạn đọc, với những truyền thống đọc sách, ngôn ngữ, khả. răng mua sách rất khác nhau. Theo số liệu của Công ty PHS thành phố Hồ Chí Minh, một công ty đầu đàn có đoanh thu cao nấu {170 tỷ đồng) thì sách ngoại văn (trơng đó có sách nhập khẩu) bán ra cũng chủ chiếm 6,24% lượng sách được bán.

Có hiện tượng phổ biến ở các nước đang phát triển là nhà nước tham. gia

sâu, rộng vào hoạt động. xuất bản. Điều đó là cần thiết bởi vì phải quản Lý và phát triển ngành xuất bản. phục vụ trực tiếp chơ các mục tiêu giữ vững nền độc

lập vừa giành lại được từ bàn tay của chủ nghĩa thực dân, phát triển kinh tế,

văn hoá, giáo dục trowe điều kiện còn nghèơ nàn lạc hậu. Xuất bản là ngành sản xuất đặc biệt thoả mãn như cầu van hod tinh than là chính, là ngành kinh doanh khó xác định được khách hàng và thường gặp nhiều trắc trở. Nếu không;

có sự hỗ trợ của nhà nước thì ngành này khó có thể tồn tại được . Ở một nước

như nước ta, với mục tiêu phấn đấu cho dân giàu nước mạnh theo định hướng.

xã hội chủ nghĩa thì vai trò của Đảng và nhà nước chỉ đạo hoạt động xuất bám:

lại càng quan trọng. Giữ vững định hướng, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội là mục tiêu có tính chất sống còn. Xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là mục tiêu chiến lược lâu đài, tạo nên tang tỉnh thần cho xã hội để CNH, HDH đất nước. Phát triển sự nghiệp giáo dục, tạo nêm:

-38-

nguồn lực con người để xây dựng đất nước và tiến tới mục tiêu phát triển con

người Việt Nam toàn diện. Sách báo sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo nên sự thống nhất về chính trị, sự phong phú về đời sống văn hoá, tạo ra mặt bằng tri thức và tiểm năng trí tuệ cho sự phát triển đất nước.

Trước đây do hậu quả chiến tranh Nhà nước bao cấp toàn bộ hoạt động xuất bản. Do áp dụng lâu cơ chế bao cấp đã không phát huy được động lực, tính năng động của ngành làm cho hoạt động xuất bản trì trệ. Đến khi xoá bỏ bao cấp thì nhiều NXE lúng túng và có lúc đi chệch hướng. Đến nay, thực tế chứng tỏ việc xoá bỏ hoàn toàn bao cấp cũng chưa phải là hợp lý 'vì có những loại sách, nhất là sách giáo dục lý luận - chính trị, sách giáo khoa, sách khoa học phổ cập... vẫn cần sự tài trợ của nhà nước. Chính sách trợ giá , nhuận bút còn chậm được cải tién.

Chúng ta còn chậm trong việc phân định các NXB là doanh nghiệp nhà

nước hay sự nghiệp có thu. Hiện nay có 17 doanh nghiệp nhà nước chiếm 44%, 18 cơ sở xuất bản là cơ sở sự nghiệp có thu, chiếm 46% số doanh nghiệp. 10%

là doanh nghiệp công ích. (Số liệu điều tra khảo sát ngành xuất bản) . Tỷ lệ trên đã thoả đáng chưa còn cần phải xem xét.

Vẻ mặt quản lý, trước kia quản lý chặt về đề tài dẫn đến hạn chế tính

năng động của NXB. Khi đã ban hành luật xuất bản (7-1993) nhưng luật chưa được cụ thể hoá, và có những điều nhanh chóng bị lạc hậu trước thực tế luôn biến động. Việc quản lý, thanh tra không tốt sẽ để lọt những tác phẩm độc hại, đi ngược lại mục tiêu của hoạt động xuất Bản.

Như vậy giữa sự lãnh đạo, quản lý và phát triển ngành xuất bản cần thiết phải có sự đồng bộ : kịp thời ban hành các chính sách tạo ra hành lang pháp lý phù hợp nhu cầu phát triển khách quan. Về phía cơ quan quản lý cũng cần đủ nhân lực, phương tiện để nâng cao năng lực kiểm tra, quản lý kịp thời, hiệu

quả. s - .

c- Thiết lập sự đồng bộ giữa sự phát triển của ngành xuất bản với yêu cầu phát triển văn hoá, giảo đục, với sự nghiệp C NH, HĐH đất nước, với nhụ cầu

_-39-

đọc sách của xã hội, với sức mua của nhân dân.

Sự đồng bộ này đòi hỏi thực hiện rất đa dạng và phức tạp. Một mặt nhu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng đất nước đòi hỏi phải có nhiều sách

thuộc tất cả các lĩnh vực KHKT, văn học nghệ thuật, chính trị xã hội, giáo

khoa. Một mặt khác ngành xuất bản chỉ có khả năng hạn chế đáp ứng các nhu cầu trên. Nhưng nếu khi ngành xuất bản phấn đấu đáp ứng đủ sách thì lại gặp trở ngại như sức mua của nhân đân có hạn. Sự có hạn của sức mua do thu nhập cha dan cư thấp (bình quân 363 $/ngudi.nam-1998), do nhu cau doc han chế (trình độ văn hoá, thói quen đọc sách chưa phù hợp...).Ở nước là còn 6% dân số trong độ tuổi mù chữ (Xây Dựng Đảng 1-2000 trang 7). Trong khi đó trên thế giới phổ biến quan niệm giáo dục học tập suốt đời và mở rộng cho toàn xã hội, dân chủ hoá giáo dục.

Với sự nghiệp giáo dục ngành xuất bản đã có những nỗ lực rất cao. Năm 1998 in 3176 đầu sách, với 156,4 triệu bản, nhưng cũng chưa đủ sách cho học sinh (thoả mãn 60% nhu cầu), Việc thơả mãn nhu cầu đọc sách còn được thực hiện nhờ hệ thống thu-vién. Nhưng ngay trong ngành giáo dục, mới được nhà nước quan tâm là "quốc sách hàng đầu" thì mới có 60% trong tổng số hai vạn trường học có thư viện. (số liệu của nhà xuất bản giáo dục). Ngoài vài ba thư viện trung ương thì số thư viện công cộngtrong cả nước chỉ có 61 thư viện cấp tỉnh, hơn 500 thư ivien huyện, hai ngàn phòng đọc, cả năm chỉ mua được 5%

tổng số lượng bản sách phát hành. Điều đó thể hiện sự chưa đồng bộ giữa hoạt động xuất bản và hoạt động thư viện.

Hiện nay có hiện tượng thiếu sách chuyên ngành đùng cho học tập và nghiên cứu, thiếu sách văn nghệ nhất là cho thiếu nhí do tác giả Việt Nam viết, song lại có quá nhiều truyện tranh ngoại quốc, còn có sách mm lậu, in nối.

bản, sách không có phép xuất bản (sách mê tín, một số sách tôn giáo...), thiếu sách xuất khẩn, Song lại nhiều sách dịch chưa thật cần thiết, hoặc có hại (như

"Khám phá nguồn cảm xúc bản thân ” dịch từ tiếng Pháp).

- Ngoài ra còn phải tính đến sự đồng bộ giữa phát triển ngành VỚI VIỆC Xã

hội hoá hoạt động xuất bản . Xây đựng nền văn hoá, giáo dục toàn diện... là sự nghiệp của toàn dân. Xã hội có quyền và có điều kiện tham gia vào hoạt động xuất bản . Cần phải có sự cân đối giữa:

+Lực lượng sáng tác chuyên nghiệp và sáng tác của quần chúng trong các phong trào, các tổ chức

+Giữa các trung tâm, công ty in lớn của quốc gia với các co sé in tu nhan- tập thể rải rác trên các địa bàn cả nước. Có. 10 trong số 400 doanh nghiệp in nhà nước là thuộc loại lớn. Ngoài ra còn có hơn 500 ngàn cơ sở in nhỏ của tư nhân. Đây thực sự là một lực lượng có góp phần xã hội hoá hoạt động ¡n, nhưng cũng gây ra không ít những khó khăn, tiêu cực.

+Trong lĩnh vực phát hành có hơn 6700 điểm bán sách tư nhân phát hành phần lớn sách được xuất bản . Doanh nghiệp nhà nước tỏ ra kém cạnh với năng lực. phát hành của xã hội . Do vậy khó có thể đóng được vai trò chủ đạo.

- Một cân đối nữa cần được lưu tâm đó là công việ đào tạo nhân lực cho các ngành. Hiện nay thường không đủ kinh phí đào tạo. Các chuyên gia giỏi rất ít, thiếu các biên tập viện giỏi, chuyên gia chế bản điện tử, quản lý doanh

nghiệp tổng hợp, nhân viên tiếp thị phát hành.(Theo kết quả tổng hợp điểu tra

phần 3) công nhân ngành ¡in vừa thiếu, vừa cần phải đào tạo cho phù hợp công nghệ mới. Như vậy vấn để được đặt ra là cần có sự đồng bộ phát triển ngành với công tác đào tạo cán bộ cho ngành.

2.Quan niệm về hiện đại hoá hoạt động xuất bản

Hoạt động xuất bản cần phải được hiện đại hoá cho phù hợp với sự phát triển chung của đất nước và để phát huy hơn nữa vai trò của mình trong sự phát triển chung đó.

a. Ngành xuất bản , bao gồm cả in va phát hành là một ngành công nghiệp, có sản phẩm là sách, ngày càng được cải tiến đổi mới và có vị trí cao trong xã hội . Bản thân ngành xuất bản xét trên bình điện chung của các ngành công nghiệp Việt Nam, phải được hiện đại hoá cho ngang tầm với trình độ chung. CNH, HDH đất nước đã được Đảng ta khẳng định như một bước đi tất

' -41-

yếu qúa độ lên chủ nghĩa xã hội .

Hiện đại hoá hoạt động xuất bản còn tác động mạnh đến xây dựng nền văn hoá tiến tiến, chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế. Là một nước đang phát triển, để xây dựng kinh tế và văn hoá thành thì công tác phát

triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Sách giáo khoa, công cụ chủ yếu để dạy và học chiếm 80% lượng bản sách được ¡n ra, nên hiện đại hoá ngành xuất bản còn là nhu cầu cấp bách xét từ góc độ phát triển sự nghiệp giáo dục.

b- Hiện đại hoá xuất bản trước hết được thực hiện ở khâu cải tiến quá trình biên tập - xuất bản sách. Công tác biên tập là công việc trung tâm của nhà xuất bản đã được thực tiễn trong và ngoài nước khẳng định là khâu quyết định chất lượng nội dung của sách, được. tiến hành với trang thiết bị hiện đại. Không giống như trước đây, sản phẩm sau biên tập không phải là bản viết tay hoặc đánh máychữ, mà là bản thảo hoàn chỉnh dưới dạng chế bản hay đĩa từ. Nhà xuất bản có thể trang bị kỹ thuật chế bản và cưng cấp cho nhà in bản mẫu để làm khuôn ¡n. Kết quả là sẽ rút ngắn được thời gian in sách, phù hợp với thời đại tin học và tránh được những sai sót thường xảy ra trong quá trình ”đi bông”

qua lại với nhà in. Để thực hiện được mục tiêu trên, các BTV cũng cần phải

được nâng cao trình độ toàn diện không những về lập trường tư tưởng, giác ngộ chính trị, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, mà cả về ngoại ngữ và khả năng sử dụng thiết bị tin học, các mạng nội bộ và Internet, khả năng giao dịch quốc tế, Hiện đại hoá xuất bản còn thể hiện ở việc đa dạng hoá, hiện đại hoá bản thân các xuất bản phẩm, ấn hành các xuất phản phẩm chất lượng cao.

Các mô hình nhà xuất bản cần được cải tiến theo hướng hiện đại hoá. Mô hình NXB ở nước ta hiện nay đang còn ở trình độ thủ công, cơ khí. Đi đôi với việc xã hội hoá ngành xuất bản, cần thành lập các trung tâm xuất bản, các tổ, hợp xuất bản lớn có điều kiện trang bị tự động hoá các khâu chế bản, in, đóng sách, có sản lượng cao. Các tổ hợp đó có thể bao gồm cả xuất bản, in, phát hành đầu mối bán buôn sách.

c- Công tác in sách cần được hiện đại hoá cả ba khâu của quá trình im và công tác quán lý nghành n.

-42-

1- Chế bản, tạo khuôn in.

2- m sản lượng nhiều màu, chất lượng cao.

3- Đóng, xén, hoàn thiện sản phẩm.

4- Quản lý chất lượng, số lượng, công suất.

5- Đào tạo công nhân in hiện dai.

6- Thành lập lại cơ quan nghiên cứu, cố vấn, hợp tác về kỹ thuật in dé giao lưu quốc tế và thúc đẩy quá trình hiện đại hoá ngành in...

Vấn để hiện đại hoá ngành in đang cần đến những giải pháp cấp bách từ

phía nhà nước. Thống nhất quản lý, phát triển hợp lý, có ưu đãi vé vốn, cổ phần hoá để tăng thêm nguồn lực.

d- Khâu phát hành sách, khâu quyết định đầu ra của ngành, hiện nay đang là khâu yếu nhất trong quá trình xuất bản. Đó là một thực tế có nhiều nguyên nhân khách quan và phổ biến ở hầu hết các nước đang phát triển. Để hiện đại hoá ngành phát hành sách, trước hết cần hoàn thiện mạng lưới PHS vì mục tiêu PHS là phải đưa được sách đến người đọc. Hiện đại hoá PHS còn cần thiết do nhu cầu đa dạng hoá hoạt động phát hành: các cửa hàng sách, các xe sách lưu động, phát hành sách qua bưu điện, PHS qua mạng cục bộ và cả qua Internet, Xu hướng PHS qua-mạng Internet tuy nới bất đầu nhưng thuộc xu hướng chung của ngành thương mại điện tử. Việc thành lập mạng phát hành điện tử toàn quốc theo kiểu cửa hàng sách điện tử trực tuyến quốc gia.

Công tác quản lý kinh doanh, quản lý mặt hàng sách cần được hiện đại hoá để kịp thời xử lý thông tin, tránh việc thừa, thiếu sách cục Bộ, đặt hàng không kịp thời.

- Việc giao lưu xuất nhập khẩu sách với nước ngoài là một đời hỏi bức thiết phục vụ cho CNH, HĐH đất nước, cho phát triển văn hoá và giáo dục.

Công việc đó chỉ trở thành hiện thực và có hiệu quả khi ngành xuất bản được hiện đại hoá ở cả các khâu xuất bản, in, phát hành, khâu quản lý vĩ mô, luật ` pháp hoá các quan hệ quốc tế về sách (các hiệp định, công ước quốc tế).

-43-

3- Những biện pháp phát triển đồng bộ và hiện đại hoá hoạt động xuất

bản. :

Một phần của tài liệu Phát triển đồng bộ và hiện đại hóa ngành xuất bản phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Trang 47 - 54)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(130 trang)