NGÀNH XUẤT BẢN NƯỚC TA
1- VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN HIỆN NAY
1- Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước, trong khoảng thời gian thập niên. rưỡi vừa qua ngành xuất bản nước ta đã khởi sắc và đạt được nhiều thành
tựu đáng kể.
Về mặt số lượng, số đầu sách được xuất bản hàng năm, tổng số lượng bản, tổng số trang in đều tăng dần theo thời gian, nhất là trong mười năm gần
đây. /
Riêng sách giáo khoa thường chiếm số lượng lớn cả về số đầu sách, lượng
bản. Về tổng số trang in thì đã tăng vượt bậc. Nếu như năm học 1996-1997
tổng lượng bản đạt 130 triệu bản thì băn 1998 đã xuất bản được 3.176 đầu sách với 156,4 triệu bản, được bán với giá hạ, chỉ bằng 40 - 50% giá bán các loại sách khác. Hơn 20 triệu giáo viên và học sinh đã được cung cấp sách để dạy và
học. . ,
Các sách lý luận chính trị đã được quan tâm chú ý đúng mức. Các bộ sách về nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, vẻ tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối chính sách của Đảng ... vẫn được tiếp tục xuất bản đều đặn. Ngoài NXB chính trị quốc gia ấn hành một nửa số bản sách chính trị - xã hội , các NXB
khác như Khoa học xã hội, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, 'Thanh niên,
Lao động, Văn hoá thông tin... cũng ín loại sách này. Năm 1996 cả nước in 1443 cuốn sách chính trị - xã hội với hơn 4,5 triệu bản, đạt bình quân 0,6 cuốn/người , chiếm 1/4 tổng số bản sách các loại. Sách chính trị - xã hội đã đạt yêu cầu chất lượng góp phần nâng cao sự giác ngộ chính trị, hiểu biết của nhân dân về đường lối của Đảng ta, về tình hình chính trị quốc tế. Có những cuốn còn đạt tiêu chuẩn quốc tế về in ấn như Mác - Ăng ghen toàn tập, Hồ Chí Minh toàn tập, cố một Việt Nam như thế...
-30 -
Một loạt các công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước đã được công bố về con đường đi lên CNXH, về Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước, về tu tưởng Hồ Chí Minh, về con người mới, về kinh tế nhiều thành phần...
Sách khoa học kỹ thuật đã được "nội hoá" nhiều, tỷ lệ sách địch ngày càng giảm đi. Sách KHKT đã góp phần nâng cao dân trí về khoa học kỹ thuật và công nghệ, phục vụ cho giai đoạn đầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Loại sách này đang có định hướng đi trước một bước, và là một trong những loại sách có triển vọng xuất khẩu.
Hiện có những NXB ngoại quốc sắn sáng hợp tác với ta về mua bán sách ưu đãi, ký hợp động chọn dịch những sách hay của ta ra tiếng Anh, thoả mãn nhu cầu của việt kiểu và người nước ngoài, không chỉ sách khoa học, kỹ thuật mà cả sách văn học nghệ thuật. Ngoài Xunhasaba, các NXB thế giới, văn hoá thông tin, Trẻ, các công ty PHAHASA, Văn hoá tổng hợp quận 11 thành phố Hồ Chí Minh cũng tham gia xuất nhập khẩu, liên kết xuất bản.
Sách văn học nghệ thuật cũng nở rộ. Hầu hết các tác giả đều được in sách, không phải xếp hàng đến lượt như trước kia. Nhờ vậy mà nhiều tài năng trẻ đã được khẳng định, đứng vào đội ngũ những chiến sĩ trên mặt trận văn hoá. Đã có xu hướng xã hội hoá đời sống văn học: sáng tác, phê bình, công bố, Đặc
biệt sáng tác thơ bùng nổ. Hàng năm thơ được in đến bảy trăm tập, tương
đương với sách thơ của Trung Quốc một đất nước có hơn một ty dân.
Tuy nhiên hoạt động xuất bản cũng còn bộc lộ những khuyết nhược điểm.
Trước hết về mặt số lượng xuất bản sách chưa đáp ứng được yêu cầu khách quan phát triển đất nước. Bình quân lượng bản sách tính theo đầu người 2,3 bản là con số quá khiêm tốn (ở các nước phát triển con số đó là trên dưới 10 đầu sách). Về lượng bản trung bình của một cuốn khoảng 1000-2000 bản là quá ít so với một đất nước 76 triệu dân, phân bố đọc trên hai ngàn kilômét.
Nguyên nhân chủ yếu là do sức mua, hoạt động kích cầu còn kém. Còn biểu.
hiện in lậu, in nối bản..
Về mặt chất lượng sách cũng có nhiều vấn đề phải quan tâm. Tất cả các loại hình sách (chính trị - xã hội, văn học nghệ thuật, khoa học kỹ thuật đều có
-31-
biểu hiện thiếu sót nhiều ít về chất lượng.
Chưa có nhiều sáth có chất lượng cao về lịch sử và truyền thống dan toc, trong khi đó văn hoá và lịch sử một số nước ngoài lại được ấn hành, gây ấn tượng sâu rộng. Khá nhiều sách bình thường, dưới mức bình thường. Có sách sai sốt phải xử lý. Có những sách văn học có hàm ý phê phán quá khứ, xuyên tạc lịch sử, quan điểm mập mờ . Một số hồi ký đánh giá, khen chê chưa đúng , đưa sự kiện thiếu chính xác gây thắc mắc trong dư luận. Đó là những xuất bản phẩm xấu độc. Sách khoa học kỹ thuật cũng có những cuốn phản khoa học. Đó là những cuốn sách có nội dung mê tín đị đoan in bất hợp pháp (sách "lịch vạn sự”, "Tử vi trăm năm”; một số do các NXB ấn hành nhưng lại kém hay sai sót về tính khoa học: "Mẹo vặt thuốc hay", "Bí quyết giữ gìn sắc đẹp", "Y học thường thức" đặc biệt xuốn "Giải đáp y học”, "Khám phá nguồn cảm xúc bản thân” kích thích cảm xúc không lành mạnh, góp phẩn làm suy giảm đạo đức, tăng tệ nạn xã hội.
Nguyên nhân của những yếu kém trên đây là :
- Về phía nhà xuất bản chưa bám sát chức năng và nhiệm vụ của mình, chưa khắc phục hết biểu hiện kinh doanh đơn thuần, "thương mại hoá” xuất bản,. Phẩm chất cán bộ làm công tác xuất bản còn chưa cao, chưa đạt được
"chất lượng nghề nghiệp” cần thiết. Có nhà xuất bản coi nhẹ khâu biên tập. Số sách được ấn hành vượt định mức nhiều lần, vì vậy có nhiều cuốn không được biên tập kỹ. Trong hoạt động liên kết xuất bản còn có biểu hiện “tư nhân hoá trá hình" khi xuất bản một số sách. Vì vậy đã để xảy ra những hiện tượng như thay đổi nội dung để tài ("bình cũ rượu mới"), bỏ qua khâu biên tập, để cho tư
nhân thêm bớt với mục đích câu khách với các tình tiết tình ái, bạo lực được
mô tả tỷ mỉ. ' -
- Về phía quản lý thanh tra còn bộc lộ những nhược điểm như quản lý chưa chặt,chưa thật hiệu quả. Còn có hiện tượng xuất bản chồng chéo: một tác phẩm được vài nhà xuất bản cùng in, một số NXB 1n sách sai chức năng : in sách giáo khoa, sách y học, sách dịch ... mà không thuộc phạm vi đề tài của mình. Công tác thanh tra chưa thường xuyên, triệt để. Các sách có vấn đề; sách
-32-—
mê tín, sách không có nơi xuất bản vẫn được bày bán ở các sạp hàng, các người bán rong.
- Công tác xét duyệt kế hoạch còn chưa năng động và hiệu quả. Sách ngoại ngữ, tin học, sách tham khảo còn được xuất bản tràn lan gây những lãng phí và khó khăn cho sự chọn lựa. Tình trạng xuất bản thường xuyên sách truyện tranh ngoại quốc có nội dung kích động bạo lực, "Tình yêu trổi học trò" cho thiếu nhi vẫn chưa được khắc phục.
- Công tác kế hoạch và quy trình biên tập sách tôn giáo chưa được thực
hiện đúng. Việc nộp lựu chiểu thực hiện chậm và không đầy đủ gây khó khăn
cho việc đọc kiểm tra xử lý. Xử lý vi phạm còn bị động, chạy theo sự vụ, chưa kiên quyết và hiệu quả (do mức hình phạt quá nhẹ ) :
Tóm lại hoạt động xuất bản thời qua chưa được coi trọng như một ngành văn hoá tư tưởng, phải tuân theo pháp luật nghiêm túc.
2. Công tác in sách trong thời gian qua đã có nhiều tiến bộ về công nghệ và năng suất, chất lượng. Ngành in đã trở thành một trong sáu ngành công
nghệ được hiện đại hoá nhanh 5-7 năm ở nước ta. Ngành in đã được định
hướng đúng là ngành xuất bản (nhân bản) thông tin để cung cấp cho nhu cầu đọc của xã hội, và là ngành công nghiệp dịch vụ phục vụ cho phát triển kinh tế (in mẫu mã, bao bì, quảng cáo...)
- Ngành In Việt Nam hiện nay có hơn 400 cơ sở in công nghiệp (trong đó có 200 doanh nghiệp) và trên 5000 cơ sở in tư nhân. Số máy in hiện nay vào
khoảng 1400 máy, trong đó có máy in thế hệ mới nhất in 4 màu, hàng năm in
được 200 tỷ trang giấy 13x19em, chưa kể in trên vật liệu khác (Kỷ yếu cục xuất bản trang 308, 310). Các cơ sở in ít nhiều đã được phân bố rộng khắp các
tỉnh. -
Tuy nhiên ngành công nghiệp in còn một số nhược điểm:
- Thiếu qui hoạch, chưa tính đến hiệu quả đầu tư, có nơi thừa công suất:
máy do thiếu trình độ tay nghề, thiếu việc, chưa khai thác hết tính năng kỹ thuật máy. Hậu quả là giá công in cao (do khấu hao máy đất), chất lượng vẫn còn hạn chế, chưa đặt đến trình độ in của khu vực Đông Nam Á.
-33-
4
- Các loại hình tổ chức ngành in (doanh nghiệp độc lập; doanh nghiệp phụ thuộc; cơ sở in nội bộ; cơ sở in tư nhân, tập thể nhỏ) hoạt động chưa đồng bộ.
+ Chỉ có 10 cơ sở in được xếp lại là có qui mô lớn tập trung ở thành phê Hồ Chí Minh và Hà Nội.
+ Cơ sở in ở địa phương nhìn chung có qui mô nhỏ, công nghệ lạc hậu tuy được coi là doanh nghiệp nhưng chưa đủ vốn pháp định thậm chí có doanh nghiệp mới đạt vốn phải bằng 10% của vốn pháp định 4 tỷ đồng...
+ Có doanh nghiệp còn thua lỗ, trình độ công nhân thấp, mức lương hạn
chế. '
+ Có doanh nghiệp vi phạm qui định pháp luật.
+ Cơ sở in nội bộ (trên 100 cơ sở ) do đầu từ ít và không đủ việc nên,công nghệ kém, có khi vi phạm qui chế ngành in (in lậu, in nối bản, in chất lượng
kém...) .
3. Trong hơn chục năm qua, trong điều kiện đổi mới của đất nước ngành phát hành sách (PHS) đã có những biến chuyển toàn diện, thích ứng với cơ chế thị trường. Các khoản hỗ trợ bị bãi: bỏ và trên thực tế ngành bị đối xử như một ngành thương nghiệp đơn thuần. Trong khi đó nhiệm vụ chính trị vẫn như cũ và còn được tăng cường hơn trước : PHS phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến đường lối chính sách và tri thức phục vụ công tác chính trị, phát triển kinh
tế và văn hoá . |
Sự tham gia vào công tác PHS của các NXB, các tổ chức đoàn thể và tư
nhân một mặt làm sôi động thị trường sách, mặt khác cũng gây ra sự phức tạp, rối loạn thị trường này, Sách tốt, xấu lẫn lộn, sách tập trung ở các thành phố gây ra thừa sách, đói sách giả tạo. Từ một ngành gắn bó chặt chẽ với xuất bản, thư viện, các cửa hành sách tỉnh huyện nay PHS "tự thân vận động” có lúc xa rời chức năng, chệch hướng. Lượng sách cung cấp cho thư viện giảm từ 60 - 70% xuống còn 5 - 10%. Thực tế đó đặt ra cho toàn ngành nhiệm vụ đổi mới.
mạnh mẽ, vượt qua khó khăn thích nghỉ với hoàn cảnh để hoàn thành cả nhiệm vụ chính trị và sản xuất kinh doanh. Đó là những nhiệm vụ giải quyết vốn, hàng tồn kho, cả tiến tổ chức, lập lại các cửa hàng bị xoá sổ lúc chuyển cơ
..-34-
chế, hình thành lại thị trường sách thống nhất. Do tính đặc thù của hang hoz '
sách ngành PHS vừa là đoanh nghiệp, hạch toán song không chỉ quan tâm đết.
lợi nhuận, mà phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuân thủ luật xuất bản. Sụ trưởng thành của ngành PHS biểu hiện ở con số : tính đến tháng 12 năm 1997 cả nước đã có 123 công ty PHS quốc doanh bao gồm 723 hiệu sách quốc doanh. Ngoài ra còn có 6705 điểm bán sách tư nhân. Trong đó chỉ có 1142 (17%) điểm ở nông thôn (con số tương ứng của năm 1992 là 3927 và 872 = 12%). Mặc dù PHS đã được xã hội hoá, nhưng trọng tâm PHS vẫn ngày càng chuyển dịch về thành phố.
Trên 70% số bản sách đã được phát hành bởi lực lượng tư nhân này. Cũng trong năm này ngành PHS bán được 35 triệu bản sách và 38 triệu văn hoá phẩm. Ngoài việc đưa sách đến tay người đọc ngành PHS còn lấy ý kiến phản hồi , điểu tra nhu cẩu, thị hiếu bạn đọc giúp cho sự quản lý và xuất bản năm sau tốt hơn.
Song song với các thành tựu trên, ngành PHS còn bộc lộ những nhược
điểm. Như đã nêu ở trên các điểm bán sách chủ yếu tập trung ở thành phố, nên
ở nông thôn, miền núi chỉ tiêu thụ được 20-30% lượng bản sách, trong khi 70% dân cư sống bằng nghề nông. Điều này có lý do từ thu nhập thấp. Theo kết quả điều tra về mức sống dân cư 1998 của Tổng cụcthống kê sau 5 năm 1923-1998 thu nhập ở thành thị tăng 3,7 lần còn ỏ nông thôn chỉ tăng có 2 lần.
Trong khi đó nông dân phải chi 60-70% thu nhập cho ăn uống, còn ở thành thị
chỉ chỉ có 45%. (Theo thông tin công tác tư tưởng 12-1999).
Lực lượng PHS quốc doanh mới chiếm được non 1/4 thi phần, chưa đ:ọ sức chủ động điều tiết hoạt động PHS trong cả nước.
Ngoài ra PHS, nhất là PHS tư nhân đã vô tình hay hữu ý tiếp tay cho đầu nậu phát hành trái phép các sách ăn khách nhưng có chất lượng kém độc hại không có giấy phép xuất bản.
Nhìn chung PHS vẫn và đang là khâu yếu, thiếu trật tự nhất trong ngành xuất bản. Trong khi đó PHS lại là khâu quyết định đầu ra có ảnh hưởng trực
tiếp đến hoạt động của các NXB và là khâu quyết định để sách có đến đúng _-35-
người đọc hay không, có phát huy được tác dụng hay không. Do được "xã hộ hoá” cao, các lực lượng PHS ở phân tán và chưa được đăng ký đầy đủ nên việc nắm bắt thực trạng và-quản lý mạng lưới phát hành là rất khó khăn. Do tínk
chất đặc thù của hàng hoá sách (vai trò văn hoá, giáo dục là chính), có người tiêu dùng không xác định , không thường xuyên (người ta phải ăn, phải mặc tối thiểu là bao nhiêu, nhưng không ai bắt buộc phải đọc bao nhiều sách), nên cần
phải có biện pháp đặc biệt thúc đẩy công tác PHS. Có đủ sách đã là khó,
nhưng việc khắc phục đói sách giả tạo (thiếu cục bộ, song thừa trong tổng thể) và đưa sách đến người cần đọc lại khó hơn. Hiện tượng sách tài trợ được gồng gánh đến dân, nhưng dân không đọc là một ví dụ minh chứng. Để PHS tốt cần có biện pháp đồng bộ có sự tham gia của ngành văn hoá, giáo dục, tạo ra thói quen đọc sách (Việt Nam mới đạt trình độ văn hoá toàn dân trung bình lớp năm rưỡi, so với Hàn Quốc là 8,5 thu nhập bình quân theo đầu người ở 7 tỉnh miền núi mới chỉ đạt 175$ / người, năm (theo thông tin công tác tư tưởng số 5 và 12 - 1999).