Tinh hình tư tưởng văn hóa

Một phần của tài liệu Tiến trình lịch sử việt nam (Trang 123 - 126)

I. Tình hình chính trị

3. Tinh hình tư tưởng văn hóa

Nhìn chung, thời Lê sơ, văn hóa Đại Việt đã chuyển sang sự ưu thắng

của văn hóa Đông Á, Nho học- Nho giáo.

Đây là thời kỳ diễn ra một sự phân dòng văn hóa. Dòng văn hóa dân

gian làng xã không được nhà nước khuyến khích, đã tách khỏi dòng văn -

hóa cung đình. Sự phân dòng văn hóa này đã phản ánh sự phân tầng đẳng cấp ngoài xã hội.

Tuy nhiên, trên thực tế, các yếu tố văn hóa khác biệt nhau vẫn cùng tồn

tại, chung sống hòa bình, như giữa Nho và Phật, Đạo, giữa văn hóa chính thống và văn hóa dân gian. Mô hình ý thức hệ đã phải nhân nhượng với

thực trạng văn hóa.

* Tôn giáo, tự tưởng

Các nhà vua thời Lê sơ đã từ bỏ chính sách khoan dung Tam giáo đồng

nguyên của nhà nước thời Lý- Trần để chuyển sang một chính sách văn hóa

đơn nguyên quan phương, độc tôn Nho giáo và Nho học. Ở đây, Tống Nho đã được để cao như một hệ tư tưởng chính thống nhà nước, làm bệ đỡ tư tưởng cho chế độ quân chủ quan liêu. Khẩu hiệu chiến lược “Sàng Nhỏ trọng Đạo là việc hàng đâu” (Bia Văn Miếu - 1442) đã được nhắc đi nhắc

lại nhiều lần. Văn Miếu- Quốc Tử Giám được mở rộng, giáo dục khoa cử Nho học được kiện toàn. Lê Thánh Tông còn cho ban bố trong nhân dân `

“24 điều giáo huấn” để củng cố những nguyên tắc cơ bản về đạo đức và lễ - giáo Nho giáo. Chính ông đã nói: “Tất cả đêu do cái mũ của nhà Nho mã ra”. Ngô Sỉ Liên khẳng định “vua tôi, cha con, vợ chồng là 3 cương lớn

trong đạo luân lý của người, ngoài ra không có gì lớn hơn”.

Nho giáo thời Lê sơ cũng dần dần chuyển hóa. Thời kỳ đầu, khái niệm

“nhân” đã được nhấn mạnh. Nguyễn Trãi nói: “Người làm vua phải để lòng

nơi nhân nghĩa, coi nhân nghĩa là chỗ đứng của mình”. Giai đoạn sau, _ trọng tâm của Nho giáo là được chuyển qua khái niệm “lễ”, mang tính giáo điều bảo thủ. Lê Thánh Tông nhấn mạnh: “Người khác câm thứ là vì có LỄ

để làm khuôn phép giữ gìn”.

124

chính thống như Phật và Đạo, lấy cớ là “sợ làng người lay động, phân án". Le Thái Tổ quy định sư tăng phải trên 50 tuổi, phải qua kỳ thi khảo hạnh, nếu trượt phải hoàn tục. Triểu đình Lê sơ đã cấm quý tộc quan lại xây chùa mới, hạn chế việc đi lại của sư tăng, đạo sĩ (Điều 301 Luật Hồng

` Đức), cấm quan liêu trong triểu kết giao với tăng, đạo. Trong Thập giới cô

hôn quốc ngữ văn, Lê Thánh Tông đã phê phán giới thiển tăng.

“Nói những thiên đường cùng địa ngục

Pháp sao chẳng độ được mình ta?"

Ngô Sĩ Liên mạnh mẽ đả kích : “Người nào đã học Nho giáo mà lại học thêm Phật giáo và Đạo giáo... thì có ích gì cho thế đạo, cho nước nhà. Lấy những người ấy đỗ mà làm gì?”

Không được Nhà nước khuyến khích nhưng Phật, Đạo thời Lê sơ vẫn tồn tại trong xã hội, được mọi giới thừa nhận nhất là quần chúng nhân dân.

Lê Sát cho xây chùa Thanh Đàm, Chiêu Độ rộng 90 gian. Chùa Báo Thiên ở kinh thành vẫn được mở rộng, rước tượng Phật từ chùa Pháp Vân về để

cầu đảo. Nho sĩ Lương Thế Vinh đã soạn sách Phật (Thiên môn khoa giáo),

soạn bia chùa Diên Hựu. Bản thân nhà vua sùng Nho Lê Thánh Tông vẫn đi thăm viếng nhiều chùa chiến, cho dựng lầu “Vọng Tiên” và thừa nhận:

“Giáo lý Phật Lão hết thấy đều mê đời lừa dân, che lấp nhân nghĩa, cải hại của nó không kể xiết mà lông người vẫn rất ham tất tin. Đạo của Thánh hiển [Nho giáo]... đêu thiết dụng trong cuộc sống thường ngày, mà lòng

ham thích của người ta lại chẳng bang Phat, Lao". Cac đến thờ thân

linh, các danh nhân lịch sử văn hóa và các hội lễ vẫn được xây dựng, tổ

chức ở khắp nơi. Chính sách “độc tôn Nho học” của nhà nước Lê sơ, trên

` thực tế, đã không được thi hành một cách có hiệu quả.

* Giáo dục, khoa cử

Giáo dục, khoa cử thời Lê sơ phát triển, trước hết do đường lối “sùng Nho”, của các nhà vua thời kỳ này, đồng thời cũng là để đáp ứng nhu cầu ngày một tăng về đào tạo nhân tài, quan liêu cho chế độ. Lê Thái Tông khẳng định: “Muốn có được nhân tài, i, tước hết phải chọn lựa kẻ sĩ, ma kén

chọn kẻ sĩ, phải lấy thi cử làm đầu... :

Các vua thời Lê sơ đều đã cho sửa sang tu bổ Văn Miếu - Quốc Tir Giám. Đợt trùng tu mở rộng lớn nhất là vào năm 1483, đời Lê Thánh Tông.

Nhà vua đã cho dựng ở Văn Miếu các công trình Dai Thành môn, nhà Giải 125

Đề cao Nho giáo, các vua Lê sơ đã hạn chế, kiếm soát những tôn giáo.

vũ Đông Tay, điện Canh Phục, kho Tế khí, nhà bia Tiến sĩ (năm 1484, cho dựng 10 bia, kể từ khoa 1442). Đối với Quốc Tử Giám, cho dựng nhà Minh

Luân, giảng đường Đông Tây, kho Bí thư, nhà nghỉ cho giám sinh. Về tổ chức, Nhà nước đặt các chức Tế tửu và Tư nghiệp Quốc Tử Giám (như Tế tửu Lý Tử Tấn và Tư nghiệp Ngô Sĩ Liên). Hệ thống giảng dạy có giáo thụ, trực giảng, trợ giáo và bác sĩ.

Quốc Tử Giám đời Lê sơ đã mở rộng đối tượng tuyển sinh và học tập,

nhiều con em học giỏi xuất thân từ các gia đình bình đân cũng được tham gia học tập. Giám sinh (xá sinh) thời Lê được chia làm 3 loại (thượng,

trung, hạ) được cấp học bổng và học phẩm.

Ở các địa phương, hệ thống trường học có đến cấp phủ huyện, các lớp học có đến cấp xã.

Khoa cử cũng rất phát triển đưới thời Lê sơ. Ngay từ năm 1426, khi cuộc kháng chiến chưa thành công, Lê Lợi đã cho tổ chức khoa thi ở trạm Bồ Đề, bên kia sông Hồng. Sau khi lên ngôi, ông cũng đã cho tổ chức các

kỳ thi Minh kinh và. Hoành từ. Năm 1438, định phép thi hương ở các đạo.

Năm 1442 (Nhâm Tuất, Đại Bảo năm thứ 3 đời Lê Thái Tông), tổ chức thi

Hội, lấy 33 tiến sĩ (trong đó 3 người đỗ đầu là Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đồ, Lương Như Hộc). Ngô Sĩ Liên cũng đỗ khoa này. Đến thời Lê Thánh Tông, khoa cử đạt tới đỉnh cao. Trong 39 năm, đã tổ chức 12 khoa thi Hội

lấy 501 tiến sĩ (toàn thời Lê sơ, có 29 khoa thi quốc gia, lấy 98§ tiến sĩ).

Thời Lê sơ, quy chế thi cử cũng được kiện toàn. Có 2 cấp thi: thi địa

phương (thi Hương) và thi quốc gia (thi Hội, thi Đình). Học vị thi Hương là Hương cống, học vị thi Hội và thi Đình là Tiến sĩ với 3 cấp: Tiến sĩ cập đệ (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa), Tiến sĩ xuất thân và đồng Tiến sĩ

xuất thân. Các bài thi cũng được ấn định. Mỗi khoa thi gồm có 4 trường, lần lượt là: Kinh nghĩa, chiếu chế biểu, thơ phú, văn sách.

Nhà nước Lê sơ đã thí hành chính sách trọng sĩ, trong các lễ xướng

danh, ban mũ áo, thiết yến tiệc, vinh quy. Mọi tiến sĩ đều được khắc tên vào bia đá đặt ở Văn Miếu.

Nền giáo dục, khoa cử thời Lê sơ mang tính thế tục, phổ cập và bình

đẳng, nó đã trí thức hóa tầng lớp quan liêu. Phan Huy Chú nhận xét: “Khoa cử các đời thịnh nhất là đời Hông Đúc. Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng, đời sau càng không thể theo kịp". Tuy nhiên dân dân, nên giáo dục -

126

đó đã trở nên chật hẹp, bị hệ tư tưởng hóa quá mức, quan liêu hóa tầng lớp trí thức, như bia Văn Miếu nhận xét: “cái thực chưa xứng với cái danh",

* Văn học và sử học

Một phần của tài liệu Tiến trình lịch sử việt nam (Trang 123 - 126)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(396 trang)