Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938

Một phần của tài liệu Tiến trình lịch sử việt nam (Trang 58 - 65)

TUỲ- ĐƯỜNG ĐẾN CHIẾN THANG BACH BANG NAM 938

3. Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938

Đầu năm 937, Dương Đình Nghệ bị viên thuộc tướng phản bội là Kiều

Công Tiễn ám hại để đoạt chức Tiết độ sứ.

Tháng 10 nam 938, Ngô Quyên từ vùng châu Ái đem quan ra đánh

Kiểu Công Tiến. Kiều Công Tiễn tự thấy thế cô, lực yếu đã cho người chạy

sang cầu cứu nhà Nam Hán. Đây là cơ hội rất thuận lợi để nhà Nam Hán

thực hiện ý đồ xâm lược nước ta.

Lưu Cung lập tức điều động một lực lượng binh thuyền lớn, giao cho con là Vạn Vương Hoằng Tháo làm Tĩnh hải quân Tiết độ sứ thống lĩnh đại quân tiến đánh nước ta. Lưu Cung còn đổi phong Vạn Vương ra Giao Vương với mưu đồ khi cướp được nước ta sẽ lấy châu Giao làm nơi phong

ấp cho Hoàng Tháo. Thận trọng hơn, chính Lưu Cung còn tự mình chỉ huy một cánh quân đến đóng ở trấn Hải Môn để yểm trợ và sẵn sàng tiếp ứng kịp thời cho con khi cẩn thiết. Ở trong nước, Kiểu Công Tiễn cố gắng tìm mọi cách cố thủ ở thành Đại La chờ quân Nam Hán vào rồi từ trong đánh ra, phối hợp với quân xâm lược từ ngoài đánh vào, nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ lực lượng kháng chiến.

Nền độc lập của dân tộc vừa mới được phục hồi lai. bi de doa nghiêm trọng cả từ bên ngoài lẫn bên trong. Đất nước bước vào thử thách mới hết sức gay go ác liệt. Trước yêu cầu của lịch sử, Ngô Quyên, người đại diện chân chính của dân tộc ta lúc đố đã thực sự trở thành trung tâm đoàn kết

mọi lực lượng kháng chiến, quy tụ mọi nguồn sức mạnh của dân tộc. - Ngô Quyền người làng Đường Lâm, một làng quê tiêu biểu trong

lịch sử nghìn năm chống Bắc thuộc của dân tộc ta. Ông sinh năm 898

trong một gia đình có truyền thống yêu nước chống giặc Bắc. Theo

thần tích đền Gia Viên (quận Hồng Bàng, Hải Phòng), ông tổ 4 đời của Ngô Quyền là Ngô Xuân là người đã từng chiêu mộ được hơn 100 người theo Triệu Quang Phục tiếp tục sự nghiệp anh hùng của Lý Bí chống quân Lương. Ông lập được nhiều chiến công, được phong làm Thổ tù và được cha truyền con nối chức tước. Cha Ngô Quyên là Ngô Mân làm Châu mục châu Đường Lâm và mẹ là bà họ Phạm, người cùng châu.

Ngay từ nhỏ, Ngô Quyền đã tỏ ra là một người trí dũng song toàn. Tuổi nhỏ, ông sống ở quê với cha mẹ và được cha dạy cho các thuật bắn cung nỏ, sử dụng gươm giáo, các điều bí mật về binh pháp. Chẳng may, cha mẹ Ngô Quyền đều mất sớm, vì thế Ngô Quyên phải sớm sống một cuộc sống tự lập vất vá. Lớn lên trong lúc đất nước ta vừa mới giành được quyền tự chủ, Ngô Quyền đã tiếp nối chí của cha ông, đứng ra vận động tập hợp lực

lượng giành và giữ quyền tự chủ. Dần dần, ông trở thành người có thế lực..

lớn ở vùng Đường Lâm.

Lúc này, họ Khúc đã giành được quyền tự chủ và đang thi hành nhiều cải cách, cố gắng vươn xuống các địa phương để tăng cường quyền lực cho nhà nước trung ương, nhưng quyền hành thực tế ở các địa phương vẫn nằm trong tay các hào trưởng. Chính quyền trung ương phải dựa vào các hào

trưởng để củng cố chính quyền ở cơ sở. Năm 923, Ngô Quyền đã nhận lời

mời về làm nha tướng cho Dương Đình Nghệ và Dương Đình Nghệ đã,gửi gắm nhiều hy vọng ở người hào trưởng trẻ tuổi này. Ông gả con gái: cho Ngô Quyền và giao cho Ngô Quyền cùng hơn 3.000 quân ngày đêm tập luyện võ nghệ, xây dựng lực lượng. Năm 931, Dương Đình Nghệ cử Ngô Quyền làm tướng tiên phong cùng ông tiến ra Giao Châu đánh đuổi quân '

Nam Hán và tổ chức phòng thủ thành Đại La. Sau chiến thắng, Dương Đình Nghệ lên nắm chính quyển, Ngô Quyền được Dương Đình Nghệ giao cho trấn giữ vùng châu Ái.

60

Ngô Quyền trưởng thành trong những năm đất nước vươn lên mạnh mẽ

khẳng định quyền tự chủ, giành và giữ nền độc lập dân tộc, ông sớm bộc lộ tài năng kiệt xuất và trở thành một vị tướng trẻ nổi tiếng được nhân dan quý mến, quân sĩ khâm phục. Tài năng và uy tín của Ngô Quyền không chỉ lẫy lừng khắp trong nước, mà đến cả triểu đình Nam Hán cũng phải thửa

nhận ông là “người kiệt hiệt, không thể khinh suất được” (1). Ông thực sự

trở thành con người kết tỉnh của lịch sử nghìn năm chống Bắc thuộc, có đây đủ tỉnh thần và lực lượng, tài năng và uy tín để đứng ra lãnh đạo quân dân ta kiên quyết và khẩn trương bước vào cuộc kháng chiến cứu nước.

Được tin quân Nam Hán chuẩn bị kéo quân sang xâm lược, Ngô Quyên thấy cần phải nhanh chóng diệt trừ bọn phản bội ở trong nước, chặt đứt mọi thế lực nội ứng của kẻ thù. Ông nắm vững và phán đoán đúng tình hình quân xâm lược và đặt ra kế hoạch kháng chiến: Ông nói: “Hoằng Tháo là một đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mi miệt, lại nghe

Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quẩn ta lấy sức còn khoẻ dịch với quân mỗi mệt tất phá được. Nhưng bọn chứng có lợi ở chiến thuyển, ta không phòng bị trước thì thế được thua chướa biết

ra sao. Nếu sai người dem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đồng ngắm trước. ở cửa biển, thuyển của bọn chúng theo nước triểu lên vào trong hàng cọc thì

san đó tạ dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát" 0Ù, .

Kế hoạch của Ngô Quyền hà tập trung lực lượng tiêu diệt thật nhanh

gọn, triệt để đội quân xâm lược Nam Hán ở ngay địa đầu Tổ quốc bằng một,

trận quyết chiến chiến lược giành toàn thắng. Ông chọn vùng hạ lưu và cửa

biển Bạch Đằng làm vùng trận địa quyết chiến. Tất cả các nguồn thư tịch cổ của Việt Nam và Trung Quốc đều chép thống nhất với Đại Việt sử ký

foda the là Ngõ Quyền “Định kế rồi, bèn cho đồng cọc ở hai "bên cửa

biển"Q2), , -

Thế trận của Ngô Quyền là thế trận triệt để lợi dụng địa hình thiên

nhiên phức tạp ở vùng cửa biển Bạch Đằng (gồm sông nước, cồn gò, dải chắn, bãi bồi, rừng sú vẹt, đẩm lầy, kênh rạch chẳng chịt và các làng xã ven

sông), kết hợp với bãi cọc là bãi chướng ngại nhân tạo, làm tăng lên sức mạnh chiến đấu của quân dân ta và đồn quân địch vào thế bất ngờ, bị động.

Thế trận của Ngô Quyền là thế trận phối hợp chiến đấu chặt chế giữa quân thủy với quân bộ, giữa quân đội chủ lực với lực lượng vũ trang của quần chúng và sự tham gia phục vụ của đông đảo nhân dân yêu nước. Thế trận

61

của Ngô Quyên nhằm chặn đứng, bao vây và tiêu điệt triệt để quân địch ở

địa đầu Tổ quốc. Đây cũng là thế trận tiêu điệt chiến quy mô lớn, chặt chẽ, tiêu biểu cho ý chí của cả dân tộc, không chỉ đánh bại kể địch mà còn chặn đường rút lui, tiêu diệt và phá tan mưu đồ xâm lược của chúng. Sức mạnh của cả nước vừa được giải phóng, của cả đân tộc đang vùng lên được tập trung về cửa

biển Bạch Đằng và đồn cả lại trong một trận quyết chiến chiến lược.

Cuối tháng 12 năm 938, đoàn binh thuyền của quân Nam Hán do Hoằng Tháo chỉ huy từ Quảng Đông vượt biển sang xâm lược nước ta.

Hoằng Tháo là viên tướng trẻ hung hãng và rất chủ quan đã kéo đoàn binh

thuyền tiến thẳng về phía cửa biển Bạch Đẳng. Cùng lúc đó, cánh quân do

Lưu Cung chỉ huy cũng áp sát biên giới nước ta và đóng tại trấn Hải Môn (huyện Bác Bạch, Quảng Đông, Trung Quốc). Khi những chiếc thuyền đi đầu của quân Nam Hán vừa tiến đến vùng cửa biển Bạch Đằng, đội quân

khiêu chiến của ta với những chiếc thuyểên nhẹ bỗng xuất hiện. Quân ta chiến đấu quyết liệt vừa cố kìm chân chúng chờ cho nước triều lên thật cao,

vừa để chúng không hoài nghỉ, giữ bí mật trận địa mai phục. Theo Đại Việt

sử ký toàn thư “Kji nước triểu lên, Quyền sai người đem thuyển nhẹ ra khiêu chiến, giả thua chạy để dụ dịch duổi theo. Hoằng Tháo quả nhiên

tiến quân vào. Khi bình thuyền dã vào trong vùng cắm cọc, nước triểu rút, cọc nhô lên, Quyên bèn tiến quân ra đánh, ai nấy dêu liêu chết chiến

dé), Quân Nam Hán ở trước mặt, sau lưng, dưới nước, trên bờ đều bị

đánh quyết liệt. Số lớn thuyển chiến của địch đã bị cọc bịt sắt đâm thủng,

bị và vào nhau mà chìm đấm. Chủ tướng giặc là Hoằng Tháo bị quân ta bất sống và giết tại trận.

Cuộc chiến đấu điễn ra và kết thúc chỉ trong vòng một con nước triều, nghĩa là chỉ trong 1 ngày, hoàn toàn đúng như dự kiến của Ngô Quyền.

Toàn bộ đạo quân xâm lược với đoàn thuyên chiến lớn vừa mới tiến vào địa

đầu sông nước của Tổ quốc đã bị tiêu điệt hoàn toàn. Đây là trận đánh thần tốc với hiệu quả cao vào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Đoàn quân do chính vua Nam Hán chỉ huy vừa mới kéo đến biên giới nước ta, chưa kịp gây thanh thế, cũng chưa kịp tiếp ứng cho Hoằng Tháo đã lập tức bị tan vỡ trước thắng lợi oanh liệt và vang đội của quân đân ta ở cửa biển Bạch Đằng. Cuộc chiến tranh xâm lược đẩy tham vọng của nhà Nam Hán đã hoàn toàn thất bại. Cuộc kháng chiến chống xâm lược của

nhân dân ta đã Kết thúc thắng lợi rực rỡ.

42

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 là cái mốc bản lẻ của lịch sử Việt Nam. Nó chấm đứt vĩnh viễn nên thống trị hơn 1.000 năm của phong kiến

phương Bắc, mở ra thời kỳ độc lập thực sự và lâu dài của dân tộc ta.

Trong khí thế chiến thắng, đầu mùa xuân năm sau, năm 939, Ngo Quyên kéo đại quan trở về Cổ Loa. Ông quyết định đóng đô ở Cổ Loa để to

ý tiếp tục su nghiệp dựng nước và giữ nước đời Hùng Vương- An Dương, Vương, khẳng định quyết tâm giữ vững nên độc lập dân tộc vừa giành lại được sau hơn 10 thế kỷ đấu tranh chống Bắc thuộc. Ngô Quyền quyết định bỏ chức Tiết độ sứ của phong kiến phương Bắc và tự xưng Vương, đặt ra

các chức quan văn võ, quy định các lễ nghỉ trong triểu và màu sắc đồ mặc

của quan lại các cấp. Như vậy, Ngô Quyển đã kiên quyết cất đứt mọi quan hệ lệ thuộc đối với nước ngoài, xây dựng một vương quốc độc lập. Đây là một bước tiến dài, rất căn bản của lịch sử Việt Nam.

* *

*

Trong lịch sử thế giới thật hiếm có một đất nước đã mất chủ quyển hơn

1000 năm mà vẫn có thể giành lại nước. Trong lịch sử khu vực, Việt Nam lă đại diện cuối cùng và duy nhất còn sót lại của đại gia đình Bách Việt vừa giành lại được độc lập, giữ được truyền thống văn hóa của người Việt, vừa hiên ngang trong tư thế của một quốc gia tự chủ, tự cường, tự lập. Vì sao tổ

tiên ta lại có thể giành được những thắng lợi lẫy lừng như vậy?

Về mặt chủ quan, chúng ta bước vào thời Bắc thuộc không phải từ hai

bàn tay trắng, không phải từ con số không, mà từ những thành tựu rực rỡ của lịch sử và văn hoá. Đó là hàng chục vạn năm văn hóa tiên sử và nền văn hóa Đông Sơn đã định hình lối sống, cá tính và truyền thống Việt Nam.

Đó là một cơ cấu văn minh riêng, một thể chế chính trị xã hội riêng xác lập những cơ sở ban đầu nhưng rất vững chắc về ý thức quốc gia, dân tộc. Đây chính là ưu thế căn bản, là cội nguồn sức mạnh của người Lạc Việt và Âu Việt trong cuộc đọ sức nghìn năm này.

Về mặt khách quan, nền đô hộ của phong kiến Trung Quốc trong thời Bắc thuộc tuy hết sức tàn bạo và nguy hiểm nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế, nhiều chỗ yếu căn bản của nó. Đó là thời kỳ Bắc thuộc tuy kéo dài hơn 1000 năm, nhưng lại có nhiều gián đoạn bởi nhân dân ta liên tục vùng lên đấu tranh và nhiều lần đã giành được độc lập tạm thời. Đó là kẻ thù thống 63

tri chúng ta trong thực tế không có thời kỳ ổn định lâu dài để cai trị và thực -

hiện âm mưu đồng hóa. Nhiều lần thay đổi triểu đại và hỗn chiến phong kiến triển miên ở phương Bắc cũng tác động không nhỏ đến cơ sở thống trị của chúng ở nước ta. Nhân cơ hội này, một số quan lại đô hộ mưu. đồ cát cứ ˆ

và cũng có một số đã bản địa hóa. Bộ máy chính quyền đô hộ với tất cả khả

năng và cố gắng đến mức cao nhất của nó cũng không làm sao trực tiếp

kiểm soát và khống chế nổi toàn bộ lãnh thổ nước ta. Nhiều vùng rộng lớn

vẫn nằm ngoài phạm vi cai trị của chính quyền đô hộ.

Đặc biệt, về mặt cấu trúc xã hội, sau khi cướp nước tả, kẻ thù đã thử

tiêu chủ quyền quốc gia, xóa bỏ thể chế Nhà nước của các vua Hùng, vua

Thục, nhưng trong suốt thời Bắc thuộc chúng không thể nào với tay tới và

can thiệp làm biến đổi được cơ cấu xóm làng cổ truyền của ta. Các xór

làng dựa trên cơ sở công xã nông thôn vẫn tồn tại như thế giới riêng của

người Việt, là nơi nuôi dưỡng và phát huy những tỉnh hoa của văn hóa

truyền thống làm cơ sở nền tảng cho cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc,

chống đồng hóa. Nhân dân ta đã giữ được làng, bảo tồn làng, dựa vào làng và xuất phát từ làng mà đấu tranh bên bỉ kiên cường để giành lại độc lập

cho đất nước. " ,

(1) Gần đây có một số tác gid cho rang Hai Ba Trung sinh ra và lớn lên tại làng Hạ:

Bằng (Hạ Lôi và Bằng Trù), thuộc huyện Thạch Thất, Hà Tây. Tiếc rằng, các tác giả:

chưa đưa ra được cơ sở tư liệu khoa học có sức thuyết phục, nên chỉ được xem là một giả thuyết để tiếp tục nghiên cứu.

(2) Không biết căn cứ vào đâu Nguyễn Trãi trong Dư địa chí lại chép Trưng Vương gọi tên nước là Hùng Lạc.

(3) Sách Việt sử thông giám cương mục cho vùng chiến trường Lãng Bạc xưa ở khu . vực Hồ Tay (do Hồ Tây đã từng có lúc được gọi là hồ Lãng Bạc) là không đúng với thực ˆ

tế vì chắc chắn vào đầu Công nguyên, Hồ Tây chưa hình thành và khu vực Hồ Tây cũng.

. không có đấu vết chiến trường chống quân xâm lược Đông Hán. GS Đào Duy Anh cho rằng

Lãng Bạc là khu vực phía đông Cổ Loa, tức là vùng Từ Sơn, Tiên Sơn, Bác Ninh. Ông Đinh:

Văn Nhật lại dự đoán Lãng Bạc là vùng trũng Trung Đồng ở gần thị xã Bắc Nĩnh. Tiếc rằng,

ở những vùng nêu trên đều không thấy dấu vết chiến trường thời Hai Bà Trưng.

An Nam tức sự của Trân Phu (sứ thần nhà Nguyên) chép Vạn Kiếp là Lăng Châu thời thuộc Đường. Ở khu vực phía trong Vạn Kiếp là huyện Gia Lương tỉnh Bắc Ninh có gd cao nổi lên giữa khu đồng trũng nước ngập (như mô tả của sách Hậu Hán thư về ving

Lãng Bạc) và ở đó có nhiều truyền thuyết và di tích chiến trường thời kỳ đầu công nguyên.

64

(4) Trước đây, có người đoán Cấm Khê ở huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc), nhưng đoán định ấy không hợp với lôgích của cuộc kháng chiến. Gần đây, giới sử học Việt Nam có khuynh hướng đồng ý với ý kiến của Đỉnh Văn Nhật cho rằng Cấm Khê ở chân núi Ba Vì, huyện Thạch Thất, Hà Tây. Chỉ định vị trí của Cấm Khê ở hữu ngạn sông Hồng là hợp lý, tuy nhiên khoanh gọn Cấm Khê trong khu vực chân núi Ba Vì thì lại chưa thật chính xác. Cấm Khê chấc chấn phải kéo dài từ vùng chân núi Ba Vì cho đến tận khu vực chùa Hương, Mỹ Đức, Hà Tây để nó có điều kiện nối thông với Cửu Chân.

Di tích và truyền thuyết cũng phần ánh đúng như thế.

(5) Điều này lại bị truyền thuyết dan gian giải thích sai lệch đi là trong khi thất thế ở Cấm Khê, Hai Bà Trưng chạy về Hát Môn rồi gieo mình xuống dòng sông Hát tự tận.

(6) Theo các nhà ngôn ngữ học, Khu Liên có nghĩa là Kurung, tức là tộc trưởng hay vua chứ không phải là tên người.

(7) Theo GS Ha Văn Tấn thì: “Trên một vàng dân cư đã tập trung từ cuối thời Đá mới hay sơ kỳ thời đại kim khí, được nuôi dưỡng bằng phù sa sông Hậu và được kích thích bằng sự ra đời của luyện kim, sức sản xuất đã có điều kiện phát triển nhạnh chóng, các cuộc phân công lao động được đẩy mạnh, Ốc Eo dân dân xuất liện như một trung tâm kinh tế- văn hóa của đông bằng sông Ciầu Long. Rồi với vị trí quan trọng trên đường giao thông biển ở khu vực Đông Nam Á, Óc Eo đã trở thành nơi tập trung thợ thủ công và thương nhân, nghĩa là có dủ điều kiện để thành thị hoá. Và từ đó Óc Eo càng có điêu

kiện để đón nhận các ảnh hưởng văn hóa bên ngoài, thường xuyên là yếu tố kích thích sự phát triển bên trong. Sự nảy sinh và nở rộ của văn mình thành thị Óc Eo có thể được

hình dụng trong một quá trình như vậy.” (Hà Văn Tấn, Theo dấu các văn hóa cổ, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr 846-847).

(8) Quốc sử quán triêu Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tap 1,

Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr 218.

(9) Sau được sử Trung Quốc gọi là Nam Hán để phân biệt với các nhà Hậu Hán thành lập năm 947 ở Trung nguyên và nhà Bắc Hán thành lập ở vùng các tỉnh Sơn Tây,

Thái Nguyên (Trung Quốc).

(10) Lời Sùng văn sứ Tiêu Ích, trong Đại Việt sử ký toàn thu, tập 1, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội, 1993, tr 203. :

(11), (12), (13) Đại Việt sử ký toàn thự, tập 1, Sdd, tr 203.

65

Một phần của tài liệu Tiến trình lịch sử việt nam (Trang 58 - 65)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(396 trang)