ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX
I- KHỦNG HOẢNG Ở ĐÀNG NGOÀI
2. Khởi nghĩa nông dân
Từ cuối thế kỷ XVH đã xuất hiện một số cuộc bạo động chống bọn quan lại địa phương của nông đân ở cả miền xuôi lẫn miễn ngược. Đến đầu thế kỷ XVHI, sử sách chép nhiều về hiện tượng " giặc giã ", "trộm cướp",
“đảng nguy " nổi lên khắp nơi. Đó là dấu hiệu báo trước thời kỳ bùng nổ của phong trào nông dân. Cuộc khởi nghĩa lớn đầu tiên nổ ra vào năm
1737, dưới thời Trịnh Giang. Từ những cuộc bạo động lẻ tế, nhà sư Nguyễn Dương Hưng tập hợp được một lực lượng nghĩa binh hàng ngàn người, đánh chiếm vùng Tam Đảo làm căn cứ chống lại chính quyền. Chúa Trịnh đã phảt sai Đốc đồng trấn Sơn Nam Nguyễn Bá Lân và một số võ quan khác đem quân lên đàn áp. Trong vòng hơn 30 năm, chính quyên Đàng Ngoài
phải đối phó với hàng chục cuộc nổi dậy, tiêu biểu là 10 cuộc khởi nghĩa
_ dưới đây:
Thời gian ị Thủ lĩnh | Dia ban hoạt động
| —— 1 Le bay Mat Tả_———— Ea Nahe —
¡ 1739 - 1741 ¡ Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ ¡ Hải Dương, Kinh Bắc
| 1739 - 1760 ị Hoàng Công Chất | Sơn Nam, Hưng Hoá |
! 1740 ¡Vũ Đình Dung, Đoàn Danh | Sơn Nam hạ
| | Chấn | |
ị 1740 - 1751 | Nguyén Danh Phuong | Sơn Tây, Tam Đảo |
! 1740 ¡ Tế, Bong Vĩnh Phúc, Tam Đảo
| 1740 - 1742 | Toan Co Lang Son
¡ 1740-1741 — | Thoan, Thiểu Hưng Hoá, Tuyên Quang
| 1741-1751 | Nguyễn Hữu Cầu Dé Sơn, Vân Đồn, Kinh Bắc
| 1744 - 1752 ¡ Tương Sơn Tây. Thanh Hóa |
Trong số những phong trào kể trên, lớn nhất là 4 cuộc khổi nghĩa của Lê Duy Mật, Hoàng Công Chất, Nguyễn Danh Phương và Nguyễn Hữu Cầu.
* Khởi nghĩa Lê Duy Mật ( 1738 - 1770 )
Lê Duy Mật là con trai vua Lê Dụ Tông, uất ức vì bị họ Trịnh chèn ép đã cùng với một số tôn thất khác âm mưu khởi binh giành lại quyền lực cho nhà Lê. Việc không thành, ông phải bỏ trốn vào Thanh Hóa. Nhận thấy sự bất bình của dân chúng địa phương với chính quyên chúa Trịnh, cuối năm 168
“59, ey
1738, Lê Duy Mật dựng cờ " phù Lê diệt Trịnh ", phát động một cuộc khởi nghĩa quy mô lớn. Sau khi xây dựng được căn cứ vững chắc ở miền núi Thanh Hoá, nghĩa quân đã nhiều lần tấn công ra Sơn Tây. Đã có thời gian, Lê Duy Mật liên kết được với phong trào nổi dậy ở vùng này do thủ lĩnh Tương cầm đầu, gây cho quân Trịnh nhiều thiệt hại. Từ miền thượng du
Thanh- Nghệ, nghĩa quân đã mở rộng địa bàn hoạt động lên tận Hưng Hóa.
Mặc di quan Trinh mở nhiều cuộc hành bình đàn áp nhưng phong trào vẫn tiếp tục duy trì và phát triển cho đến tận năm 1770. Bị một bộ tướng đồng thời là con rể của mình phản bội, tạo điều kiện cho quân Trịnh đánh phá căn cứ Trình Quang, Lê Duy Mật cùng đường phải tự vẫn. Tổn tại 32 năm, khởi nghĩa Lê Duy Mật là một trong bốn cuộc nổi dậy lớn nhất và kéo dài nhất trong các phong trào nông dân ở Đàng Ngoài.
* Khoi nghĩa Hoàng Công Chất ( !739 - I769 )
Ngay khi khởi nghĩa Lê Duy Mật vừa bùng nổ, vào năm 1739, Hoàng
Công Chất tập hợp dân chúng ở vùng Sơn Nam nổi dậy. Trong giai đoạn đầu, nghĩa quân đã từng liên kết với lực lượng của Vũ Đình Dung, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ gây cho quân Trịnh nhiều tổn thất.Với lối đánh du kích, không xây dựng căn cứ ở một nơi " khi tan, khi hợp " nên quan quân liên tục vất vả mà không sao đàn ấp được. Năm1748, khỉ quân Trịnh dưới sự chỉ huy của Phạm Đình Trọng tập trung binh lực tăng cường mỡ các cuộc tấn công đánh phá nghĩa quân, Hoàng Công Chất đã phối hợp với lực lượng của Nguyễn Hữu Cầu để chống lại. Tuy nhiên, sau nhiều thất bại liên tiếp, năm 1751 Hoàng Công Chất buộc phải rút lui về miền thượng du Thanh Hóa, rồi sau đó theo đường núi lên Hưng Hóa. Trong vòng hơn 10 năm, dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân vùng Tây Bắc, Hoàng Công Chất đã xây dựng được một căn cứ vững chắc ở Điện Biên (Lai Châu) chống giữ với quân Trịnh.
Nghĩa quân có lúc lên tới hàng vạn người. Năm 1768, Hoàng Công Chất qua đời, con trai ông là Công Toán không đủ sức tiếp tục sự nghiệp của cha. Phong trào bị đàn ắp vào năm 1769.
* Khởi nghĩa Nguyễn Danh Phương (1740 - 1751)
Nguyễn Danh Phương vốn là một Nho sĩ quê ở Tiên Sơn, huyện Yên Lạc (Vĩnh Phúc), dân địa phương thường gọi là Quận Hẻo. Lúc đầu tham gia nổi đậy
của nông dân trấn Sơn Tây dưới cờ của hai thủ lĩnh Tế và Bồng, sau đó, khi cuộc nổi đậy bị đàn áp, hai thủ lĩnh bị sát hại, Nguyễn Danh Phương đã kế tục và phát triển cuộc khởi nghĩa này. Chiếm cứ vùng Việt Trì làm căn cứ, nghĩa quân tập
169
hợp được tới vài vạn người. Nguyễn Danh Phương tự xưng là “Thuận thiên khải vận đại nhân”, xây dựng cung điện, sắp đặt quan chức giống như nghỉ
thức của một triểu đình nhỏ ngang nhiên chống lại triểu đình Lê- Trịnh:
Nghĩa quân xây dựng nhiều đồn trại, mở rộng vùng kiểm soát & dong bắc
trấn Sơn Tây và một phần trấn Thái Nguyên. Vừa xây dựng binh lực, vừa tiến hành cày cấy, tích trữ lương thực, thế lực nghĩa quân ngày càng phát triển mạnh mẽ làm cho quân Trịnh bị nhiều phen khốn đốn. Năm 1751, chúa Trịnh Doanh phải đích thân đem đại binh đi đánh đẹp. Do chủ quan,
nghĩa quân bi that bai nang né. Can cứ trung tâm Ngọc Bội thất thủ, Nguyễn Danh Phương phải rút lui về núi Độc Tôn. Thừa tháng, quân Trịnh truy kích, Danh Phương bị bắt giải về kinh chịu án tử hình. Phong trào
chấm dứt. `
* Khổi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu (1741-1751)
Xuất thân từ: một gia đình nghèo ở Đồng Nổi (huyện Thanh Hà, Hải Dương), Nguyễn Hữu Cầu thủa bé được đi học và đã từng là bạn học của Phạm Đình Trọng. Vốn giỏi bơi lặn, người đương thời gọi Nguyễn Hữu Cầu là Quận He. Chán ghét xã hội bất công, bất bình với cảnh quan lại tham
nhũng, Nguyễn Hữu Cầu tham gia cắc vụ cướp thuyển buôn để cứu giúp
đân nghèo, nhất là vào những khi gặp nạn đói. Khi cuộc khởi nghĩa cửa Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ nổ ra ở Hải Dương, ông đã theo về và trở thành
một chỉ huy xuất sắc. Năm 1741, sau khi cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, Nguyễn Hữu Cầu đã tìm cách duy trì lực lượng, phát triển thành một cuộc khởi nghĩa lớn hơn. Địa bàn hoạt động chính của nghĩa quân là Đồ Sơn,
Vân Đồn sau đó mở rộng ra làm chủ cả vùng đồng bằng ven biển phía đông
bắc. Sau một số trận thắng, thanh thế nghĩa quân ngày càng lớn, Nguyễn Hữu Cầu tự xưng là “Đông đạo tổng quốc bảo dân đại tướng quân”. Trong
hai năm 1743 và 1744 quân Trịnh mở những cuộc tấn công lớn vào căn cứ
nghĩa quân nhưng đều thất bại và chịu những tổn thất nặng nể. Nghĩa quân đã phản kích đánh lên Kinh Bắc, uy hiếp kinh thành Thăng Long. Triều
đình đã phải huy động một lực lượng lớn gồm 12.700 quân thuộc 64 tướng hiệu dưới sự chỉ huy của 10 đại tướng do Hoàng Ngũ Phúc và Trương
Khuông thống lĩnh, chia làm 5 đạo đối phó với nghĩa quân. Nguyễn Hữu Câu lại bí mật cho quân rút về vùng ven biển và hải đảo phía đông bắc tiếp tục hoạt động. Từ cuối năm 1748, trước sự tấn công ngày càng dữ đội của quân Trịnh do Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Đình Trọng chỉ huy, nghĩa quân
170
ra
bị thất bại liên tiếp và dần lâm vào thế bị động. Nguyễn Hữu Cầu phải rút về Sơn Nam Hên kết với lực lượng của Hoàng Công Chất, sau đó lại phải chạy vào Thanh - Nghệ. Tại đây, Nguyễn Hữu Câu bị bất và bị giải về Thăng Long. Tháng 3 năm 1751, Nguyễn Hữu Cầu cùng với Nguyễn Danh.
Phương bị xử tử. Trong thời gian chờ thụ hình, Nguyễn Hữu Cầu đã làm bài thơ Chữn trong lồng nổi tiếng, trong đồ có hai câu thể hiện khí phách hiện
ngang của người anh hùng :
, “Bay thẳng cánh muôn tràng Tiêu Hán Phá vòng vậy bạn với kim ô.”